Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm về các tội xâm phạm an toàn công công, trật tự công cộng (phần II)

1. Kháng nghị giám đốc thẩm số 26/QĐ-VKSTC-V3 ngày 02 tháng 08 năm 2011 đối với vụ án Lê Đức Cường phạm tội “ vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 21/2009/HSPT ngày 19/02/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã xét xử bị cáo Lê Đức Cường về tội “vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

NHẬN THẤY

Theo bản án hình sự phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thì nội dung vụ án như sau:

Lê Đức Cường sinh ngày 12/12/1989; trú tại: xóm 7, xã Phong Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh; trình độ văn hóa lớp 12/12; tiền án, tiền sự: không; con ông Lê Đức Lực và bà Bùi Thị Ngọ, cùng trú tại xóm 7, xã Phong Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh.

Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 03/9/2007, Lê Đức Cường điều khiển xe môtô BKS 14P5-6511 (không có giấy phép lái xe hợp lệ) đi từ thị trấn Quảng Yên đến xã Minh Thành, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Khi đến Km3+200 Quốc lộ 10A thuộc địa phận thôn Trại Tháp, xã Đông Mai, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, Cường điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái và đâm vào xe môtô BKS 14F5-5862 do anh Nguyễn Văn Tuyển (trú tại thôn Cổng Bấc, xã Cộng Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) điều khiển chở anh Hoàng Văn Chín (trú tại xóm 3, xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) đang chạy hướng ngược chiều đến gây tai nạn. Hậu quả làm anh Nguyễn Văn Tuyển và anh Hoàng Văn Chín bị thương tích phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển; hai xe mô tô bị hư hỏng.

Kết quả giám định thương tích xác định: anh Nguyễn Văn Tuyển bị tổn hại 41% sức khỏe; anh Hoàng Văn Chín bị tổn hại 8% sức khỏe.

Tại kết luận định giá tài sản số 17 ngày 04/9/2008 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Hưng kết luận: xe mô tô 14F5-5862 bị hư hỏng, thiệt hại 1.267.500 đồng.

Trong quá trình điều tra, gia đình Lê Đức Cường đã bồi thường cho anh Tuyển 3.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2008/HSST ngày 09/12/2008 của Toà án nhân dân huyện Yên Hưng quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 69; Điều 74 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Đức Cường 30 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 608; khoản 1 Điều 609; khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự.

- Buộc bị cáo Lê Đức Cường phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh Nguyễn Văn Tuyển gồm tiền viện phí, thuốc men 25.417.000 đồng, tiền xe đi lại 1.000.000 đồng, tiền ngày công lao động bị mất 15 tháng 9 ngày là 18.360.000 đồng, chi phí cho người phục trong 109 ngày là 4.360.000 đồng, tiền bồi dưỡng sức khỏe 15.000.000 đồng; Bồi thường thiệt hại tài sản 1.267.500 đồng. Tổng cộng: 65.404.500 đồng, đã bồi thường 3.000.000 đồng, còn phải bồi thường 62.404.500 đồng.

- Buộc bị cáo Lê Đức Cường phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh Hoàng Văn Chín (Hoàng Văn Hùng) 5.046.000 đồng gồm tiền viện phí, thuốc men 1.686.000 đồng, ngày công lao động 9 ngày nằm viện 360.000 đồng, tiền bồi dưỡng sức khỏe 3.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định tiền lãi nếu bị cáo chậm trả tiền; xử lý vật chứng; tiền án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18/12/2008, bị cáo Lê Đức Cường kháng cáo xin giảm hình phạt, xin hưởng án treo và giảm mức bồi thường thiệt hại; Ngày 22/12/2008 người bị hại Nguyễn Văn Tuyển kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường thiệt hại.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 21/2009/HSPT ngày 19/02/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị hại Nguyễn Văn Tuyển, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ngày 04/10/2009, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm hủy hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm về phần trách nhiệm dân sự để xét xử lại.

Ngày 21/3/2011, anh Nguyễn Văn Tuyển và ông Nguyễn Thanh Thịnh (chú ruột anh Tuyển) có đơn khiếu nại đề nghị các cơ quan có thẩm quyền buộc ông Lê Đức Lực và bà Bùi Thị Ngọ (bố mẹ của Lê Đức Cường) phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Tuyển. Ngoài ra, anh Tuyển còn đề nghị xem xét lại vụ án và yêu cầu được bồi thường thêm tiền tổn thất tinh thần.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy rằng:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xử phạt Lê Đức Cường 30 tháng tù về tội “vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, khi xem xét phần dân sự trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và vi phạm qui định của Bộ luật dân sự. Cụ thể như sau:

Bị cáo Lê Đức Cường phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 8 tháng 21 ngày); bản thân Lê Đức Cường không có tài sản, nghề nghiệp, sống phụ thuộc vào gia đình (bl 22, 233), nhưng Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không đưa bố mẹ của bị cáo vào tham gia tố tụng khi giải quyết vấn đề bồi thường dân sự để buộc phải liên đới bồi thường cho những người bị hại là trái với qui định tại khoản 2 Điều 606 Bộ luật dân sự và điểm 3 mục 3.1, phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người bị hại.

Tại đoạn 2 khoản 2 Điều 606 Bộ luật dân sự qui định: “Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”.

Tại điểm 3 mục 3.1 phần I Nghị quyết 03 ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao qui định “Trong trường hợp qui định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 606 Bộ luật dân sự thì người gây thiệt hại là bị đơn dân sự và cha, mẹ của người gây thiệt hại là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Do những sai phạm của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm nêu trên dẫn đến việc thi hành án về dân sự không giải quyết được; bị án Lê Đức Cường không có tài sản, không có nghề nghiệp nên không có khả năng thi hành án, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của những người bị hại. Việc anh Nguyễn Văn Tuyển và ông Lê Đức Thịnh đề nghị buộc ông Lê Đức Lực và bà Bùi Thị Ngọ (bố mẹ của Lê Đức Cường) phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Tuyển là có căn cứ.

Ngoài ra, anh Nguyễn Văn Tuyển còn yêu cầu được bồi thường thêm về tiền tổn thất tinh thần. Đây là yêu cầu chính đáng. Tòa án hai cấp buộc bị cáo Lê Đức Cường bồi thường cho anh Nguyễn Văn Tuyển 15 triệu đồng tiền bồi dưỡng sức khỏe nhưng lại không buộc bị cáo Cường phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Tuyển một khoản tiền nào để bồi thường tổn thất tinh thần là không phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết 03 ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 21/2009/HSPT ngày 19/02/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ phần trách nhiệm dân sự của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng qui định của pháp luật./.

--------------------------------------

            -Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định GĐT số 34/2011/GĐT-HS ngày 01/12/2011 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao Quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 22/2008/HSPT ngày 28/3/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản án hình sự sơ thẩm số 42/2008/HSST ngày 09/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng về phần trách nhiệm dân sự, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 2. Kháng nghị Giám đốc thẩm số 28/QĐ-VKSTC-V3 ngày 17/08/2011 đối với vụ án Lê Ngọc Minh và đồng phạm bị kết án về tội “ Chứa mại dâm”.

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 09/2011/HSPT ngày 23/02/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam đã xét xử bị cáo Lê Ngọc Minh sinh năm 1956 trú tại: thôn Đọ Xá, xã Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do, có vợ là: Lê Thị Bé (bị cáo trong vụ án) 3 năm tù về tội "chứa mại dâm". Lê Ngọc Minh có một tiền án: ngày 4/8/2005 bị TAND thị xã Phủ Lý xử phạt 4 năm tù về tội "chứa mại dâm".

                                                              NHẬN THẤY

Theo bản án hình sự phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 5/7/2010, Công an Thành phố Phủ Lý đã bắt quả tang Nguyễn Thị Thắm, Nguyễn Văn Sáu, Đào Phương Anh, Lê Hải Nam đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại nhà lê Ngọc Minh.Tại hiện trường và khám xét nhà ở của Minh lực lượng Công an đã thu giữ nhiều bao cao su (trong đó có bao cao su đã sử dụng), xe máy, 12.981.500 đồng tiền mặt và 03 điện thoại di động của Minh, Thắm và phương Anh. Diễn biến sự việc như sau:

Khoảng 12giờ ngày 05/7/2010, Nguyễn Văn Sáu và Lê Hải Nam thuê xe ôm đến nhà Lê Ngọc Minh ở thôn Đọ Xá, xã Thanh Châu, thành phố Phủ Lý với mục đích tìm gái để mua dâm. Khi đến nơi Sáu, Nam và người lái xe ôm vào ngồi tại bàn uống nước tại quán nhà Minh, Sáu nói với Minh "Anh cho em hai cô". Minh nói "ở đây có một cô rồi, để tôi hỏi xem nó có đi không thì tôi gọi thêm một cô nữa. Minh đi vào phòng ngủ tầng 1 hỏi Đào Phương Anh, Phương Anh đồng ý. Minh đi ra ngoài lấy điện thoại di động của mình gọi điện cho Nhuyễn Thị Thắm, sinh năm 1979; trú tại xóm 3, xã Thanh Tuyền, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đến để bán dâm (Minh và Thắm đã thoả thuận từ trước khi có khách thì gọi cho Thắm đến). Trong lúc chờ Thắm đến thì Minh dẫn người chạy xe ôm (không rõ tên, địa chỉ) vào trong nhà gọi Phương Anh đang nằm trong phòng ngủ tầng 1 dậy và đưa cho Phương Anh 01 bao cao su và bảo Phương Anh lên phòng với khách. Phương Anh cầm bao cao su đi lên phòng ngủ phía Bắc tầng 2 nhà Minh bán dâm cho người chạy xe ôm. Nam và Sáu vẫn ngồi chờ dưới quán.

Khoảng 15 phút sau Thắm đi xe mô tô BKS 90F6-0580 đến nhà Minh.

Minh hỏi: "có lấy bao cao su không" Thắm nói : "có rồi, không cần" rồi cùng Sáu đi lên phòng tầng 2 nhà Minh để thực hiện hành vi mua bán dâm. Trước đó Sáu đưa cho Minh 500.000 đồng, Minh thu 360.000 đồng tiền mua dâm và 20.000 tiền nước và trả lại tiền thừa cho Sáu.

Khi Sáu và Thắm đang chuẩn bị thực hiện hành vi mua bán dâm, thì Phương Anh và người chạy xe ôm đã giao cấu xong, Phương Anh vứt vỏ bao cao su vừa sử dụng vào sọt rác trong phòng ngủ tồi cả hai đi xuống dưới Người chạy xe ôm đi ra ngoài và đi về trước. Lúc này Lê Hải Nam đi vào trong nhà, Lê Thị Bé (vợ Minh) móc túi quần lất ra một bao cao su đưa cho Phương Anh. Phương Anh cũng Nam đi lên tâng 2 vào phòng ngủ phía Bắc để thực hiện hành vi mua bán dâm và bị bắt quả tang như đã nêu. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 117/2010/HSST ngày 23/11/2010, Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý đã áp dụng khoản 1 Điều 254; Điều 20; Điều 33 ; Điều 53 ; điểm p khoản 1 , khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 (áp dụng đối với Lê Ngọc Minh); điều 47 (đối với Lê Thị Bé) Bộ luật hình sự xử phạt Mình 36 tháng tù, Bé 9 tháng tù về tội chứa mại dâm.

Ngày 29/11/2010 bị cáo Lê Ngọc Minh có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 22/12/2010 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam có quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-KNPT đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 09/2011/HSPT ngày 23/02/2011 .

Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam đã giữ nguyên bản án sơ thẩm số 117/2010/HSST ngày 23/11/2010 của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xét xử theo trình tự giám đốc thẩm áp dụng điểm c khoản 2 Điều 254 Bộ luật hình sự đối với bi cáo Lê Ngọc Minh và tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Thị Bé.

Ngày 03/3/2011 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam có báo cáo số 01/VKS-P3 đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm nêu trên.

                                                XÉT THẤY

Quá trình điều tra cũng như lại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm thể hiện bị cáo Lê Ngọc Minh phạm tội nhiều lần chứa mại dâm tại nhà. Hồ sơ vụ án còn thể hiện về nhân thân Lê Ngọc Minh có 01 tiền án: ngày 04/8/2005 bị Toà án nhân dân thị xã Phủ Lý xử phạt 48 tháng tù về tội "chứa mại dâm" theo điểm c khoản 2 Điều 254 Bộ luật hình sự. Tính đến ngày 05/7/2010 (phạm tội mới) thì bị cáo chưa được xoá án. Bản án sơ thẩm và phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 254 Bộ luật hình sự xét xử và phạt bị cáo 3 năm tù về tội chứa mại dâm là chưa chính xác và không đảm bảo nghiêm minh.

Vì các lẽ trên,

                                    QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị phần bản án hình sự phúc thẩm số 09/2011/HSPT ngày 23/02/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam đối với Lê Ngọc Minh.

Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm vụ án theo hướng huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 117/2010/HSST ngày 23/11/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý đối với Lê Ngọc Minh để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

------------------------------------------------

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định Giám đốc thẩm số 01/2012/HS-GĐT ngày 01/02/2012 của Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cáo quyết định: huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 09/2011/ HSPT ngày 23/02/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam và bản án hình sự sơ thẩm số 117/2010/HSST ngày 23/11/2010 của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý về phần trách nhiệm hình sự đối với Lê Ngọc Minh; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà nam để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật. Các quyết định khác của bản án hình sự phúc thẩm không bị kháng nghị giám đốc thẩm vẫn tiếp tục có hiệu lực pháp luật 

3. Kháng nghị số 29/2011/HS-TK ngày 22/12/2011 Đối với bản án hình sự phúc thẩm số 45/2011/HSPT ngày 24/6/2011của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự đối với bị cáo:

Phạm Văn Tuyến  sinh năm 1988; trú tại thôn Nam Cường, xã Thái Hà, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Phạm Văn Tuyền và bà Nguyễn Thị Huệ.

Người bị hại:

1. Chị Vũ Thị An sinh năm 1981 (chết); đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Trần Văn Anh (chồng chị An); trú tại: Thôn Tân Lạc, xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; anh Anh ủy quyền cho ông Trần Xuân Rong (bố đẻ anh Anh) tham gia phiên tòa.

2. Bà Trần Thị Ràng sinh năm 1960 (chết); đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Trần Đại Thắng (con trai bà Ràng); trú tại: thôn Tân Lạc, xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; anh Thắng ủy quyền cho ông Trần Văn Hồng (cậu ruột) tham gia phiên tòa.

Bị đơn dân sự: ông Nguyễn Văn Hậu là chủ Doanh nghiệp tư nhân Hà Hậu; địa chỉ: xã Thái Hà, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Trần Văn Anh (chồng của người bị hại Vũ Thị An); trú tại: Thôn Tân Lạc, xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. 

NHẬN THẤY:

Khoảng 16h30 ngày 30/9/2010, Phạm Văn Tuyến có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô tải Cửu Long, trọng tải 3.450 kg, biển kiểm soát 17L-0145 của doanh nghiệp tư nhân Hà Hậu, đi từ ngã ba Chẳng Cày về chợ Phố xã Thái Dương, huyện Thái Thụy trên đường 459, Tuyến phát hiện thấy phía trước cách khoảng 100m có 02 xe mô tô đi ngược chiều với xe của Tuyến. Xe đi trước do chị Trần Thị Hằng sinh năm 1983 điều khiển, xe đi sau nhãn hiệu Wave sơn màu đỏ, đen, biển kiểm soát 17K6-0905 do chị Vũ Thị An điều khiển, phía sau xe chị An chở bà Trần Thị Ràng. Khi phát hiện xe mô tô đi ngược chiều, Tuyến giảm ga, đạp phanh cho xe đi về phía bên phải đường. Xe mô tô phía trước do chị Hằng điều khiển đã vượt qua xe ô tô khoảng 10m thì xe mô tô thứ 2 do chị An điều khiển còn cách xe ô tô khoảng 10m, bị mất thăng bằng đi xiên sang bên trái đường và đâm vào bên phải đầu xe ô tô, Tuyến tiếp tục đạp phanh nhưng xe ô tô không dừng ngay được đã đẩy xe mô tô cùng chị An và bà Ràng ngược lại 9,2m. Tuyến cùng  một số người dân đưa chị An, bà Ràng đi cấp cứu tại trạm y tế xã Thái Dương và bệnh viện Thái Ninh. Do thương tích quá nặng chị An chết lúc 17h30 ngày 30/9/2010 tại Bệnh viện đa khoa Thái Ninh, bà  Ràng điều trị đến ngày 9/10/2010 thì bị chết tại gia đình. Ngay sau khi xảy ra tai nạn Phạm Văn Tuyến đã đến Công an xã Thái Dương đầu thú.

Tại bản giám định pháp y về tử thi số 488/TT ngày 04/10/2010 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Thái Bình kết luận: chị Vũ Thị An bị đa chấn thương vùng bụng và toàn thân do tai nạn giao thông, gây dập vỡ gan, nạn nhân chết do mất máu cấp. Tại bản giám định pháp y về tử thi số 498/TT ngày 12/10/2010 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Thái Bình kết luận: bà Trần Thị Ràng bị đa chấn thương do tai nạn giao thông, chết do chấn thương sọ não (chảy máu dưới nện 2 bên bán cầu), gẫy đầu dưới xương đùi phải, vỡ xương bánh chè phải, vỡ mâm chày phải, dập thùy sau gan phải.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2011/HSST ngày 16/3/2011, Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình đã áp dụng khoản 2 Điều 202; các điểm b, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 BLHS xử phạt Phạm Văn tuyến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 04 năm. Giao bị cáo Tuyến cho UBND xã Thái Hà quản lý, giáo dục. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 604, 605, 612, 623 Bộ luật dân sự, buộc gia đình anh Trần Văn Anh, Doanh nghiệp tư nhân Hà Hậu, bị cáo Tuyến có trách nhiệm liên đới bồi thường cho gia đình anh Trần Văn Thắng số tiền 63 triệu đồng, trừ đi 33 triệu đồng đã nhận, còn phải bồi thường tiếp 30 triệu đồng. Tính kỉ phần như sau: gia đình anh Trần Văn Anh 15 triệu đồng; DNTN Hà Hậu 7.500.000đ; bị cáo Tuyến 7.500.000 đồng. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 23/4/2011, anh Trần Văn Anh (là người đại diện hợp pháp của người bị hại An) kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và tăng tiền bồi thường đối với bị cáo Tuyến.

Ngày 31/3/2011 bị cáo Tuyến kháng cáo xin giảm hình phạt và giảm bồi thường.

Ngày 11/5/2011, anh Trần Đại Thắng (là người đại diện hợp pháp của người bị hại Trần Thị Ràng) kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo Tuyến.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 45/2011/HSPT ngày 24/6/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình áp dụng khoản 2 Điều 202 BLHS; các điểm b, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 45, Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt: Phạm Văn Tuyến 02 năm tù về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 610 Bộ luật dân sự, hủy phần trách nhiệm dân sự trong vụ án, giao hồ sơ cho TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình điều tra xét xử lại phần dân sự theo thủ tục chung vì cấp sơ thẩm chưa có biên bản đối chiếu bản chính hóa đơn viện phí của bà Ràng, chưa xem xét phần cấp dưỡng nuôi hai con chị An (chưa xác minh ngày tháng năm sinh của hai con của chị An) và bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình người bị hại

XÉT THẤY:

1. Về thủ tục tố tụng.

Về đơn kháng cáo của anh Trần Văn Anh là người đại diện hợp pháp cho người bị hại Vũ Thị An: bản án sơ thẩm xét xử ngày 16/3/2011, khi xét xử sơ thẩm anh Trần Văn Anh vắng mặt tại phiên tòa, ngày 29/3/2011 Tòa án cấp sơ thẩm giao bản án cho anh Anh. Đơn kháng cáo của anh Anh ghi ngày 24/4/2011 sau được sửa thành 24/3/2011. Dấu công văn nhận đơn trên đơn kháng cáo và sổ nhận đơn của TAND huyện Thái Thụy ghi ngày 30/4/2011, nhưng thong báo kháng cáo của TAND huyện Thái Thuy gửi cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, bị cáo Tuyến, Bị đơn dân sự và hai người đại diện hợp pháp của hai người bị hại ghi ngày 05/4/2011. Tính từ ngày anh Anh nhận được bản án (29/3/2011) đến ngày Tòa án cấp sơ thẩm nhận đơn kháng cáo của anh Anh (30/4/2011 là quá hạn kháng cáo 17 ngày.

- Về đơn kháng cáo của anh Trần Đại Thắng là người đại diện hợp pháp cho người bị hại Trần Thị Ràng: đơn kháng cáo của anh Thắng có nội dung yêu cầu tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo Tuyến nhưng không ghi ngày, tháng, năm kháng cáo mà chỉ có xác nhận của UBND xã Đông Hoàng ghi ngày 11/5/2011, không thể hiện đơn kháng cáo gửi trực tiếp đến Tòa án hay qua đường bưu điện. Khi xét xử sơ thẩm anh Thắng có mặt tại phiên tòa, do đó tính từ ngày xét xử sơ thẩm (16/3/2011) đến ngày 11/5/2011 thì đơn kháng cáo cùa anh Thắng đã quá thời hạn 1 tháng 25 ngày. Tại giấy ủy quyền ghi ngày 30/3/2011 anh Trần Đại Thắng ủy quyền cho ông Trần Văn Hồng có toàn quyền viết đơn kháng cáo  và tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm, trong sổ nhận đơn  kháng cáo và thông báo kháng cáo của TAND huyện Thái Thụy có ghi ông Hồng là người kháng cáo và ngày kháng cáo là 30/3/2011, nhưng trong hồ sơ không có đơn kháng cáo của ông Trần Văn Hồng.

Như vậy, căn cứ vào ngày tháng nhận đơn kháng cáo của Tòa án cấp sơ thẩm ghi trong sổ nhận đơn và trên đơn kháng cáo của anh Trần Văn Anh và ngày kháng cáo ghi trên đơn kháng cáo của anh Trần Đại Thắng thì cả hai đơn kháng cáo đều đã quá thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 234 BLTTHS. Tòa án cấp phúc thẩm không  xác minh lại ngày tháng ghi trong đơn và lý do kháng cáo quá hạn, mà đã chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn của hai người đại diện hợp pháp của hai người bị hại là vi phạm Điều 235 BLTTHS và mục 5 phần 1 Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của BLTTHS năm 2003.

2. Về hình phạt.

Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét mức độ lỗi của các bên như: lỗi của bị cáo điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ khi tránh xe đi ngược chiều là vi phạm khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ và khoản 8 Điều 5 Thông tư số 13/TT-BGTVT ngày 17/7/2009 của Bộ giao thông vận tải quy định tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; lỗi của người bị hại là không có giấy phép lái xe, không làm chủ tay lái, mất lái  bất ngờ đâm vào bên phải đầu xe ô tô của bị cáo trên phần đường của xe ôtô; và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như: điểm b (đã bồi thường cho mỗi gia đình người bị hại 33 triệu đông), điểm o (tự thú), điểm p (thành khẩn khai báo) khoản 1, khoản 2 (người bị hại có lỗi và gia đình 2 người bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo) Điều 46 BLHS để áp dụng Điều 47, Điều 60 BLHS xử phạt bị cáo Tuyến 02 năm tù và cho bị cáo được hưởng án treo là đúng với quy định tại tiểu mục 6.1 mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự.

Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng khi tham gia giao thông bị cáo đã không chấp hành đúng các quy định về an toàn giao thông, vi phạm về tốc độ, khi tránh xe đi ngược chiều chưa hạn chế tốc độ đến mức tối đa đã gây tai nạn làm chết hai người là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng để chuyển từ hình phạt án treo sang hình phạt tù giam là không đúng, vì bị cáo tuyến có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có một phần lỗi…

3. Về trách nhiệm dân sự:

Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của gia đình người bị hại Trần Thị Ràng buộc bị cáo Tuyến, doanh nghiệp tư nhân Hà Hậu và anh Trần Văn Anh liên đới bồi thường số tiền 63 triệu đồng bao gồm tiền viện phí, xe đi lại, tiền thuốc, chụp XQ, chụp cắt lớp… nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xét cụ thể từng khoản chi, chưa có biên bản đối chiếu hóa đơn phô tô với hóa đơn gốc để xác định chi phí thực tế (trong đó có nhiều phiếu chi ghi không rõ số tiền, lý do chi và 1 phiếu chi trong 1 ngày hết 29 triệu đồng không ghi rõ từng khoản chi); đối với gia đình người bị hại Vũ Thị An, bị cáo đã bồi thường 33 triệu đồng, gia đình chị An không yêu cầu giải quyết về phần dân sự. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bà Ràng và gia đình chị An yêu cầu bị cáo bồi thường thêm tiền mai tang phí, tiền tổn thất tinh thần cho các diện hàng thừa kế; gia đình chị An còn yêu cầu bị cáo cấp dưỡng nuôi hai con của chi An (con lớn 10 tuổi, con nhỏ 3 tuổi) đến khi hai cháu trưởng thành. Những vấn đề này Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, chưa xác minh hai con của người bị hại Vũ Thị An sinh ngày tháng năm nào để xác định thời gian cấp dưỡng là sai lầm nghiêm trọng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 45/2011/HSPT ngày 24/6/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình và đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 16/3/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục chung.

______________________________________ 

 

- Tại Quyết định giám đốc thẩm số 03/2012/HS-GĐT ngày 30/5/2012 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao quyết đinh:

Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 45/2011/HSPT ngày 24/6/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình và bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 16/3/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục chung đối với Phạm Văn Tuyến.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi