Quyết định số 01/QĐ-VKSTC-V3 ngày 04/11/2013 của VKSNDTC Kháng nghị tái thẩm vụ án Nguyễn Thanh Chấn phạm tội Giết người

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN                               CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                        TỐI CAO                                                                      Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                   S: 01/QĐ-VKSTC-V3                                                    Hà Nội, ngày 04 tháng 11 năm 2013

 

KHÁNG NGHỊ TÁI THẨM

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

 

Căn cứ Điều 291, Điều 292, Điều 293, Điều 294 Bộ luật TTHS năm 2003;

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 1241/PTHS ngày 27/1/2004 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã xét xử bị cáo Nguyễn Thanh Chấn sinh năm 1961; đăng ký nhân khẩu thường trú tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp làm ruộng; con ông Nguyễn Hữu Phấn (liệt sỹ) và bà Phạm Thị Vì sinh năm 1942; có vợ là chị Nguyễn Thị Chiến, sinh năm 1965 và có 04 con; tiền án, tiền sự: không, về tội "Giết nguờỉ” tỉnh Bắc Giang.

NHẬN THẤY

Theo Bản án hình sự phúc thẩm, nội dung v án như sau:

Gia đình Nguyễn Thanh Chấn có một quán bán hàng ở gần sân bóng thôn Me xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bc Giang. Chiều ngày 15/8/2003, địa phương có tổ chức đá bóng. Khoảng gần 19 giờ, sau khi tan trận bóng đá, vợ Nguyễn Thanh Chấn là chị Nguyễn Thị Chiến bảo Chấn đi xin nước về phục vụ bán hàng. Chấn dùng xe đạp thồ hai thùng nhựa màu trắng để đi xin nước. Trên đường đi qua quán nhà chị Nguyễn Thị Hoan, Chấn có nhìn thấy mẹ con chị Hoan trong nhà, Chấn đạp xe đến quán nhà anh Minh thấy tắt đin, cửa khóa không có ai, Chấn đi về phía sau giếng, lúc này Chấn nảy sinh ý định sang nhà chị Hoan gạ gẫm để giao cấu. Chấn dựng chiếc xe đạp thành giếng bỏ đôi dép lê sân giếng nhà anh Minh rồi đi b tắt qua vườn khoai lang và ớt vòng về phía sau vào sân giếng nhà chị Hoan. Chấn nhìn thấy con chị Hoan nằm ở trên giường, chị Hoan đang lúi húi trước tủ quần áo, Chấn vào nói "Hoan cho anh một cái" (ý nói chị Hoan cho giao cấu) nng chị Hoan không đng ý và nói "anh đừng lằng nhằng, vớ vẩn". Chấn lao vào ôm chị Hoan từ phía sau lưng, hai tay vòng lên ngực, sờ vú chị Hoan, chị Hoan chống cự lại đồng thời cúi xuống lấy v chai bia Habađa gần đó đập thẳng vào Chấn, Chấn dùng tay đỡ và giằng được vỏ chai bia. Sau đó, Chấn dùng chai bia đập vào gáy chị Hoan, chai bia trơn tuột khi tay Chấn rơi xuống nền nhà bị v, lập tức Chấn ôm ngang người và vật ngã chị Hoan xuống nền nhà, tay trái đè giữ tay chị Hoan, đầu gối đè tỳ vào sườn chị Hoan, còn tay phải Chấn rút một con dao bấm trong túi quần soóc, bấm lưỡi dao thò ra rồi đâm liên tiếp nhiều nhát vào bụng, mặt và sườn chị Hoan, khi bị đâm chị Hoan có giơ tay trái lên đỡ. Trong khi đâm chị Hoan thì lưỡi dao bị gãy nên Chấn không đâm nữa mà đút chuôi dao vào túi quần soóc, sau đó Chấn cúi xuống dùng hai tay bê hai bên bả vai nâng đầu chị Hoan lên khỏi nền nhà rồi đập xuống hai đến ba lần, thấy mặt chị Hoan chảy nhiều máu, Chấn đứng dậy lấy chiếc gối trên giường đậy vào mặt chị Hoan rồi khép ca sau, cài chốt cửa, tắt điện trong nhà đi ra bằng cửa chính. Chấn ra giếng nhà anh Minh lấy dép và xe đạp xuống chị Hoàng Thị Viễn xin nước. Sau khi mang nước về quán cho vợ, Chấn về nhà ở phía trong làng tắm giặt, đến khoảng 21h cùng ngày Chấn ra quán trông hàng cho vợ về ăn cơm. Khoảng 22h, bà Hoàng Thị Hội (là mẹ đẻ chị Nguyễn Thị Hoan) phát hiện kêu cứu mọi người đến cứu chị Hoan.

Kết quả giám định pháp y số 553/PY ngày 20/8/2003 của Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự Công an tnh Bắc Giang kết luận: các vết thương trên cơ thể; nạn nhân là do ngoại lực tác động; vật tác động là vật tày, vật sắc gọn và vật nhọn, lưỡi sắc. Chị Nguyễn Thị Hoan chết do chấn thương đầu, mặt, vết thương bụng làm đứt động mạch mạc treo, chảy máu và mất máu dẫn đến sốc trụy tim mạch cấp, chết sau bữa ăn cui cùng khoảng 30 phút đến 2 giờ đồng hổ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/HSST ngày 26/3/2004, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm o khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 34 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh Chấn tù chung thân v tội "Giết ngưi

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điu 42 Bộ luật hình sự; Điều 614 Luật dân sự buộc Nguyễn Thanh Chấn phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Hoàng Thị Hội số tiền là 35.000.000 đồng.

Ngày 29/3/2004, Nguyễn Thanh Chấn kháng cáo kêu oan.

Ngày 31/3/2004, đại điện hợp pháp của người bị hại là bà Hoàng Thị Hội kháng cáo yêu cu tăng hình phạt và tăng mức bi thường.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm s 1241/PTHS ngày 27/7/2004, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã y án sơ thẩm về phần trách nhiệm hình s đối với Nguyn Thanh Chấn, xử phạt Nguyễn Thanh Chấn tù chung thân về tội "Giết ngưi”.

Về trách nhiệm dân sự: buộc Nguyễn Thanh Chấn phải bồi thường cho gia đình người bị hại do bà Hoàng Thị Hội đại diện tổng cộng là 20.000.000 đồng

Hủy phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 45/HSST ngày 26/3/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang v khoản cấp dưỡng nuôi con nạn nhân đ điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 145/HSST ngày 30/9/2004, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 614 Bộ luật dân sự buộc Nguyễn Thanh Chấn phải cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Văn Đức, sinh ngày 24/4/2002 do bà Hoàng Thị Hội (là bà ngoại) nuôi dưỡng mỗi tháng là 120.000 đồng kể từ tháng 9/2003 đến khi cháu Đức tròn 18 tuổi.

Ngày 08/10/2004, Nguyễn Thanh Chấn kháng cáo với nội dung không nhất trí bồi thường do Chấn không giết người.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 166/HSPT ngày 02/3/2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội kng chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thanh Chấn, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 145/HSST ngày 30/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điu 614 Bộ luật dân sự buộc Nguyễn Thanh Chấn phải cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh Đức mỗi tháng 120.000 đồng kể từ tháng 9/2003 đến khi cháu Đức tròn 18 tuổi.

XÉT THẤY

1. Đây là vụ án bt ngưi trong trường hợp không phạm tội quả tang, quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với Nguyễn Thanh Chấn có nhiều sai sót, cụ thể như sau:

Về công tác khám nghiệm hiện trường: hiện trường vụ án có nhiều dấu chân dưới nền nhà, dấu vết tay có máu trên cửa, trên thanh sắt cài cửa hậu, dấu vết trên công tắc điện...v.v. Những dấu vết này không được thu thập đầy đgiám định khoa học để đánh giá, kết luận để xác định hành vi phạm tội, nguời phạm tội. Bản án sơ thẩm, phúc thẩm căn cứ vào kết quả so sánh xác định kích thước dấu chân của Nguyễn Thanh Chấn "gần đúng” với kích thước dấu chân thu được ở hiện trường và lấy đó làm chứng cứ quy kết Chấn có mt ở hiện trường là không có cơ sở khoa học.

Tại hiện trường có thu một lưỡi dao nhọn được coi là hung khí gây án, nhưng phần chuôi dao thì cơ quan điều tra không thu giữ được. Việc tiến hành cho Nguyễn Thanh Chấn nhận dạng hung khí (luỡi dao) không đảm bảo khách quan theo quy định tại Điều 134 Bộ luật tố tụng hình sự (biên bản nhận dạng ngày 30/102003, bút lục 39).

Về tiêu thụ thi gian của Nguyễn Thanh Chấn trong buổi tối ngày 15/8/2003 cũng chưa được làm rõ, lời khai nhận của bị cáo và lời khai của các nhân chứng còn nhiều mâu thun. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai các nhân chứng Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Hữu Đồng, Thân Văn Bảo và chị Hoàng Thị Viễn: "vào lúc 19h30 phút Nguyn Thanh Chấn vẫn còn đang múc nước tại giếng nhà chị Hoàng Thị Viễn; khoảng thời gian hơn 20 phút từ 19 giờ đến khoảng 19 giờ 25 phút Nguyễn Thanh Chấn đi đâu, làm gì với ai thì bị cáo hoàn toàn không chứng minh được” để cho rằng đó chính là khong thi gian Chấn gây án là chưa đủ căn cứ. Trong khi đó, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27/7/2004, nhân chứng Phạm Thị Nhâm và Nguyễn Văn Thực vẫn tiếp tục khẳng định và xác nhận khoảng 19 giờ 20 phút ngày 15/8/2003 bà Nhâm ra quán anh Chấn mua hàng thì gặp anh Nguyễn Văn Thực vào gọi điện thoại ở quán, anh Chấn là người bấm máy cho anh Thực gọi, lúc đó ông Quyền đến mua mm cũng biết. Anh Nguyễn Văn Thc cũng xác nhận khoảng 19 giờ 30 pt ngày 15/8/2003 anh gọi điện tại quán nhà Chấn, anh Chấn bấm máy cho anh goi s máy 566095 (bút lục 396, 399, 432,433).

Căn cứ vào lời khai của các anh Nguyễn Văn An, Lê Văn Giới, (bút lục 88, 92) thì thời điểrn các nhân chứng này đi qua nhà chị Hoan vào khoảng 19 giờ 30 phút thì thấy có xô xát phía trong nhà, đây là khoảng thời gian xảy ra vụ án. Như vậy, có chứng cứ ngoại phạm đối với Nguyễn Thanh Chấn, nhưng không được làm rõ; bản án phúc thẩm nhận định: " ...cho dù tính toán thời gian xin nước cả đi lẫn về trên đoạn đường khoảng 100m bằng phương tiện xe đạp, giả định có đi chậm như người đi bộ cũng chỉ dao động ở mức 10-15 phút thì Chấn còn dư thừa từ 5 -10 phút để làm những việc bất minh khác...” là không có cơ sở thực tế.

Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ các li khai nhận tội của Nguyễn Thanh Chấn từ ngày 28/9/2003 đến 29/9/2003 (bút lục 151-158); bản tự khai, tường trình từ ngày 11/10/2003 (bút lục 43-44); các bản cung từ ngày 29/9/2003 đến ngày17/11/2003 (bút lục 159-190), và đánh giá những lời khai nhận tội này phù hợp với tính logic của s kiện cũng như diễn biến về mặt chủ quan và khách quan của tội phạm, phù hợp vi thời gian, không gian và những tình tiết có liên quan đến vụ án, phù hợp kết qu khám nghiệm hiện trường và thông qua kết quả khám nghiệm tử thi và các thương tích để lại trên thi thể nạn nhân phù hợp với đặc trưng của hung khí mà hung thủ đã sử dụng gây án cũng như tư thế hành vi tác động lên đối tượng, nạn nhân... từ đó quy kết Nguyễn Thanh Chấn đã có hành vi giết chị Hoan là chưa đủ cơ sở. Tại các biên bản ghi lời khai ban đầu từ ngày 30/8/2003 đến ngày 27/9/2003 (đây là thời điểm chưa có quyết định khi tố bị can), tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và sau khi xét xử phúc thẩm đến nay Nguyễn Thanh Chấn đều không nhận tội, kêu oankhai rằng những lời khai nhận tội trước đây là do bị ép cung, được Điều tra viên hướng dẫn khai báo sự việc, hướng dẫn vẽ sơ đồ hiện trường, được luyện tập nhiều lần để thực nghiệm điều tra.

Ngoài ra, về những tài sản như nhẫn vàng, tiền... của chị Nguyễn Thị Hoan được người thân trong gia đình và nhân chng cung cấp thông tin chị Hoan bị mất sau khi bị giết (bút lục 84, 104, 106), nhưng quá trình điều tra không làm rõ là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

Từ những tình tiết nêu trên, thấy rằng Tòa án các cấp kết án Nguyễn Thanh Chấn về tội giết người là chưa đủ căn cứ.

2. Về tình tiết mới của vụ án:

Ngày 09/7/2013, Cục điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp nhận đơn của bà Nguyễn Thị Chiến (là vợ của Nguyn Thanh Chấn) trú tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tố giác các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bắc Giang đã điều tra, truy tố, xét x oan sai đối với Nguyễn Thanh Chấn. Chị Chiến cho rằng người gây ra vụ án giết chị Nguyễn Thị Hoan ngày 15/8/2003 không phải Nguyn Thanh Chấn mà là Lý Nguyễn Chung. Quá trình điều tra, xác minh lấy lời khai bà Nguyễn Th Lành (mẹ kế của Lý Nguyễn Chung), ông Lý Văn Chúc (bố đẻ Lý Nguyễn Chung) đều khai Lý Nguyễn Chung là người đã giết chị Nguyễn Thị Hoan. Ngoài ra, còn một số người là hàng xóm của gia đình ông Chúc, bà Lành như ông Nguyễn Hữu Thiêm, ông Nguyễn Văn Bình... khai có được nghe ông Chúc nói về việc Chung giết chị Hoan

Theo chị Lý Thị Nghiến (chị gái Chung) khai: khoảng cuối năm 2003 Lý Nguyễn Chung về Lạng Sơn, ba anh em Lý Văn Phúc, Lý Văn Nho, Lý Nguyễn Chung nói chuyện với nhau về việc Chung gây án ở Bắc Giang, sau đó anh Phúc bố trí cho Chung đi vào làm ăn ở miền Nam.

Ngoài ra, chị Hoàng Thị Xướng, vợ của Lý Văn Phúc có lời khai về việc tháng 8 năm 2003 được Phúc đưa cho 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, khi biết 02 chiếc nhẫn này là ca nạn nhân bị giết ở Bắc Giang liên quan đến Lý Nguyễn Chung, chị Xướng đã t chối nhận và tr lại cho Phúc.

Ngày 25/10/2013, đối tượng Lý Nguyễn Chung sinh năm 1988 là con trai ông Lý Văn Chúc, t tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã ra đầu thú và khai nhận hành vi giết chị Nguyễn Thị Hoan để lấy tiền và 02 chiếc nhẫn ca chị vào ti 15/8/2003. Chung khai nhận sau khi giết chị Hoan thì Chung về nhà, do quần áo dính máu nên đã thay ra ngâm ở chậu. Khong 4 giờ sáng hôm sau, Nguyễn Thị Lành (mẹ kế ca Chung) dậy giặt quần áo thấy nước trong chậu quần áo của Chung màu hồng nên đã gọi Chung dậy hi: " Có phải hôm qua mày làm chuyện đó không?”, Chung đã thừa nhận. Bà Lành và ông Chúc đã bảo Chung về quê ở Lạng Sơn. Chung về Lạng Sơn kể lại sự việc đưa hai chiếc nhẵn cho anh traiLý Văn Phúc, số tiền lấy của chị Hoan đếm được 59.000 đồng Chung sử dụng ăn tiêu hết, sau đó Chung đã trốn vào Đăk Lăk làm ăn, nay được sự vận động của gia đình nên đã ra đu thú.

Đây là tình tiết mới có thể làm thay đổi toàn bộ bn chất của vụ án, cần phải được giải quyết theo thủ tục tái thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 1241/PTHS ngày 27/7/2004 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân ti cao tại Hà Nội.

Đề nghị Hội đng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tc tái thẩm huỷ các quyết định của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và Bản án hình sự sơ thẩm số 45/HSST ngày 26/3/2004; Bản án hình sự sơ thẩm số 145/HSST ngày 30/9/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Bản án hình sự phúc thẩm số 166/HSPT ngày 02/3/2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đối vi Nguyễn Thanh Chấn để điều tra lại vụ án theo quy định của pháp luật,

Tạm đình chỉ thi hành Bản án hình sự phúc thẩm số 1241/PTHS ngày 27/7/2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân ti cao tại Hà Nội đối với Nguyễn Thanh Chấn để chờ xét xử theo thủ tục tái thẩm./.

i nhận:

- Toà án nhân dân tối cao (2b + h sơ);

- Lãnh đạo VKSND tối cao;

- VKSXXPT tại Hà Nội, Tòa phúc thẩm

TANDTC tại Hà Nội

- Viện KSND, TAND tỉnh Bắc Giang;

- B án Nguyễn Thanh Chấn;

- Đại diện gia đình bị hại (bà Hoàng Thị Hội,

địa chỉ: Xóm Me, xã Nghĩa Trung,

huyện Việt Yên, Bắc Giang).

- Lưu VT (1b), Vụ 3 (3b)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi