Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm các tội phạm về ma túy (phần II)

1. Kháng nghị tái thẩm số 02/QĐ-VKSTC-V3 ngày 09/08/2012 đối với vụ án Nguyễn Công Viễn phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xét Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2010/HSST ngày 26/3/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên kết án Nguyễn Công Viễn sinh năm 1966; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn Lai Tảo, xã Bột Xuyên, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự. Nhân thân: tại Bản án hình sự phúc thẩm số 216/2007/HSPT ngày 21/3/2007, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Nguyễn Công Viễn tử hình về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự.

(Trong vụ án này có 28 bị cáo không bị kháng nghị)

                                                                          NHẬN THẤY:

Theo nội dung bản án sơ thẩm: Từ tháng 9 năm 2004 đến cuối năm 2005 Nguyễn Công Viễn đã mua bán trái phép tổng cộng 2 bánh 8 cây Heroin với tổng trọng lượng là 971,6 gam Heroin.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2010/HSST ngày 26/3/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định:

- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Công Viễn tù chung thân về tội về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt tử hình tại Bản án hình sự phúc thẩm số 216/2007/HSPT ngày 21/3/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, buộc Nguyễn Công Viễn thi hành hình phạt chung của hai bản án là tử hình.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên bản án trên đã có hiệu lực pháp luật.

                                                                              XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2010/HSST ngày 26/3/2010 của Tòa án Nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Công Viễn tù chung thân về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tổng hợp với hình phạt tử hình tại Bản án hình sự phúc thẩm số 216/2007/HSPT ngày 21/3/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, buộc Nguyễn Công Viễn phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là tử hình là đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, tại Quyết định số 1620/QĐ-CTN ngày 21/9/2011 của Chủ tịch nước về việc xét đơn xin ân giảm án tử hình của Nguyễn Công Viễn phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án hình sự phúc thẩm số 216/2007/HSPT ngày 21/3/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định ân giảm hình phạt tử hình cho Nguyễn Công Viễn xuống tù chung thân và quyết định này có hiệu lực từ ngày ký. Như vậy, Quyết định số 1620/QĐ-CTN ngày 21/9/2011 của Chủ tịch nước ân giảm hình phạt tử hình cho Nguyễn Công Viễn xuống tù chung thân tại Bản án hình sự phúc thẩm số 216/2007/HSPT ngày 21/3/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội là tình tiết mới. Do vậy phải hủy phần quyết định tổng hợp hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2010/HSST ngày 26/3/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để tổng hợp lại hình phạt của bản án này với hình phạt tại Bản án hình sự phúc thẩm số 216/2007/HSPT ngày 21/3/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đối với Nguyễn Công Viễn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

                                                                              QUYẾT ĐỊNH:

Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2010/HSST ngày 26/3/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục tái thẩm hủy phần tổng hợp hình phạt đối với Nguyễn Công Viễn tại bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để tổng hợp lại hình phạt của hai bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với Nguyễn Công Viễn theo quy định của pháp luật./.

_______________________________

- Tại quyết định tái thẩm số 12/HS-TT ngày 11/10/2012 của Hội đồng xét xử tái thẩm Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao Quyết định:

Huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 08/2010/HSST ngày 26/3/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đối với Nguyễn Công Viễn về phần quyết định "

"Áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt tử hình tại Bản án hình sự phúc thẩm số 216/2007/HSPT ngày 21/3/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, buộc Nguyễn Công Viễn thi hành hình phạt chung của hai bản án là tử hình” để tiến hành việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo đúng quy định của pháp luật.
----------------------------------------------

2. Kháng nghị giám đốc thẩm số 08/QĐ-VKSTC-V3 ngày 06/7/2012 đối với vụ án Bùi Khắc Duy phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy”

Xét Quyết định giám đốc thẩm số 01/2011/HS-GĐT ngày 30/3/2011 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản án hình sự sơ thẩm số 103/2010/HSST ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, đã xét xử bị cáo Bùi Khắc Duy, sinh năm 1987; đăng ký nhân khẩu thường trú tại thôn 2, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

NHẬN THẤY

Ngày 16/5/2010, Bùi Khắc Duy nhận lời mua 50 viên ma túy tổng hợp cho một đối tượng tên Báu béo (không rõ lai lịch). Duy gọi điện cho Đàm Văn Lên đang ở Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh nhờ tìm mua ma túy thì Lên nhận lời. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Lên gọi điện thông báo cho Duy biết đã tìm được mối mua hàng, sau đó Lên đi sang khu vực đồi 12, thị xã Đông Hưng, Trung Quốc mua 50 viên ma túy tổng hợp giá 1.350 Nhân dân tệ. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Lên mang ma túy đi theo đường biên giới về Việt Nam thì bị Đồn biên phòng cửa khẩu Móng Cái kiểm tra, bắt giữ. Kết quả giám định: 50 viên nén thu giữ của Đàm Văn Lên có tổng trọng lượng là 10,012 gam, có chứa chất MDMA nằm trong danh mục các chất ma túy và tiền chất ma túy.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 103/2010/HSST ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Khắc Duy 07 năm 06 tháng tù về tội "mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 06 năm tù của bản án sơ thẩm số 38/2010/HSST ngày 26/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng, buộc bị cáo Duy phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 13 năm 06 tháng tù.

Tại kháng nghị giám đốc thẩm số 01/KNGĐT ngày 15/01/2011 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận định: bản án sơ thẩm số 103/2010/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái tổng hợp hình phạt 06 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 38/2010/HSST ngày 26/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng, trong khi bản án số 38/2010/HSST đã bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh kháng nghị phúc thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là trái với qui định tại khoản 1 Điều 237 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, đề nghị Uỷ ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh hủy phần tổng hợp hình phạt của bản án sơ thẩm số 103/2010/HSST ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái để tổng hợp lại theo đúng qui định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 01/2011/HS-GĐT ngày 30/3/2011 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY

Bản án sơ thẩm số 103/2010/HSST ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái tổng hợp hình phạt 06 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 38/2010/HSST ngày 26/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng trong khi bản án số 38/2010/HSST nói trên đã bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh kháng nghị phúc thẩm, là trái với qui định tại khoản 1 Điều 237 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 51 Bộ luật hình sự. Hơn nữa, ngày 25/11/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm số 38/2010/HSST, tăng hình phạt đối với Bùi Khắc Duy từ 06 năm tù lên 07 năm tù. Quyết định giám đốc thẩm số 01/2011/HS-GĐT ngày 30/3/2011 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên bản án sơ thẩm số 103/2010/HSST nêu trên về phần tổng hợp hình phạt là không đúng. Do vậy, cần kháng nghị để hủy Quyết định giám đốc thẩm số 01/2011/HS-GĐT và phần tổng hợp hình phạt của bản án sơ thẩm số 103/2010/HSST nhằm khắc phục các sai sót nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị quyết định giám đốc thẩm số 01/2011/HS-GĐT ngày 30/3/2011 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm số 01/2011/HS-GĐT ngày 30/3/2011 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản án hình sự sơ thẩm số 103/2010/HSST ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái về phần tổng hợp hình phạt để giải quyết vụ án về phần tổng hợp hình phạt theo đúng qui định của pháp luật./.

_____________________

-         Kết quả giám đốc thẩm của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 18 /2012/HS-GĐT ngày 13 /11 /2012 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy quyết định giám đốc thẩm số 01/2011/HS-GĐT ngày 30/3/2011 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

2. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 103/2010HSST ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh về phần quyết định "Áp dụng khoản 1 Điều 51 BLHS.

- Buộc Bùi Khắc Duy phải chấp hành hình phạt 06 (sáu) năm tù của bản án số 38/2010/HSST ngày 26/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh xử phạt về tội "Cướp tài sản”.

- Tổng hợp hình phạt: buộc bị cáo Bùi Khắc Duy phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/5/2010” đối với Bùi Khắc Duy.

3. Giao Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành tổng hợp hình phạt 07 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 103/2010/HSST ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh với hình phạt 07 năm tù về tội "Cướp tái sản” tại bản án hình sự phúc thẩm số 136/2010/HSPT ngày 25/11/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại Điều 51 BLHS./.
----------------------------------------------

3. Kháng nghị giám đốc thẩm số 16/QĐ-VKSTC-V3 ngày 07/6/2010 đối với vụ án Tạ Thị Liên phạm về tội " Mua bán trái phép chất ma túy”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số: 213/2008/HSPT ngày 28/3/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã kết án Tạ Thị Liên, sinh năm 1955 tại Hưng Yên; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: số nhà 49 phố Quán Thánh, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa lớp 7/10; nghề nghiệp: không; con ông Tạ Duy Chấn và bà Tạ Thị Ngạn; có chồng là Lại Huy Thảo và 5 con; chưa có tiền án, tiền sự, bị bắt giam từ ngày 08/9/2006 về tội "mua bán trái phép chất ma túy”.

XÉT THẤY

Theo bản án phúc thẩm thì hành vi phạm tội của Tạ Thị Liên như sau: Do đã quen biết nhau từ trước trong việc buôn bán đồng bạc xòe nên Tạ Thị Liên và Đào Thị Nguyện bàn bạc với nhau để Nguyện mua Hêrôin từ miền núi mang về Hà Nội cho Liên bán để kiếm lời. Khoảng tháng 6/1998, Nguyện lên bản Xuân Tre, Tuần Giáo, Lai Châu mua 01 bánh Hêrôin của một người dân tộc, thuê Đào Bá Văn vận chuyển về Hà Nội. Nguyện báo cho Liên biết là đã gửi cháu Đào Thị Thu con anh Đào Tiến Thắng (là anh ruột Nguyện) bánh Hêrôin, khi nào Liên về quê gặp cháu Thu để lấy.

Mấy ngày sau, Tạ Thị Liên về quê, đến nhà Thu nhận Hêrôin. Sau đó Nguyện đến nhà Liên ở phố Quan Thánh để lấy tiền bán Hêrôin thì được Liên cho biết là người mua bánh Hêrôin này đã bị bắt nên không có tiền trả cho Nguyện. Liên chỉ trả cho Nguyện 1 dây chuyền bằng vàng 5 chỉ, 2 chiếc nhẫn vàng 3 chỉ (tổng số là 8 chỉ). Do việc mua bán bánh Hêrôin này không sòng phẳng nên Nguyện và Liên không quan hệ mua bán với nhau nữa.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 433/2007/HSST từ ngày 04 đến ngày 12/12/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt Tạ Thị Liên 20 năm tù và phạt tiền 20.000.000 đồng.

Ngày 18/12/2007, Tạ Thị Liên có đơn kháng cáo với nội dung kêu oan. Vì bị cáo không quan hệ mua bán Hêrôin; Nguyện và Thu đã vu khống cho bị cáo.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 213/2008/HSPT ngày 28/3/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm đối với Tạ Thị Liên.

Quá trình điều tra, cũng như tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm Tạ Thị Liên đều kêu oan, không mua 1 bánh Hêrôin của Đào Thị Nguyện như bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã kết luận.

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết luận Tạ Thị Liên mua bán 1 bánh Hêrôin với Đào Thị Nguyện chỉ duy nhất dựa trên lời khai của Đào Thị Nguyện và Đào Thị Thu, ngoài ra không có chứng cứ nào khác để củng cố xác định sự trung thực về lời khai của Nguyện và Thu. Trong khi đó xét lời khai của Đào Thị Nguyện và Đào Thị Thu không thống nhất và có nhiều mâu thuẫn chính trong lời khai của Nguyện và Thu cụ thể là: Nguyện khai vào tháng 8/1998 lên bản Xuân Tre, Tuần Giáo, Lai Châu mua 1 bánh Hêrôin của một người dân tộc Thái (do anh Đạm giới thiệu Nguyện không nhớ tên) về bán cho Liên. (các bút lục 445, 446, 453, 458). Còn Đào Thị Thu lại khai là khoảng tháng 5/1998 Nguyện gửi Thu 1 bánh Hêrôin bảo Thu cất kỹ và khoảng 1 tuần sau thì Thu đưa bánh Hêrôin này cho Liên (bút lục 539, 557); Bản án sơ thẩm, phúc thẩm kết luận Nguyện bán 01 bánh Hêrôin cho Liên vào tháng 6/1998, như vậy có rất nhiều thời gian mua bán 01 bánh Hêrôin.

Đào Thị Nguyện khai sau khi gửi bánh Hêrôin cho Thu, Nguyện báo cho Liên, sau đó Nguyện chủ động gọi điện cho Thúy là bạn của Thu, nhà ở chợ Mới, xã Đồng Tiến, Khoái Châu, Hưng Yên nhắn Thu ra nghe điện và Nguyện nói Thu đưa bánh Hêrôin đó cho Liên (bút lục 461). Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, cũng như tại các phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm thì Đào Thị Thu khẳng định là khi Liên đến hỏi lấy bánh Hêrôin do Nguyện gửi, Thu không đưa ngay mà đi xe đạp ra Bưu điện Bô Thời (cách nhà Thu khoảng 2km) gọi điện thoại hỏi Nguyện, khi Nguyện nói cứ giao bánh Hêrôin cho Liên thì Thu mới về nhà lấy bánh Hêrôin giao cho Liên. Thu cũng khẳng định tại phiên tòa là chủ động gọi điện cho Nguyện tại Bưu điện Bô Thời, chứ không phải gọi ở nhà Thúy và Thu cũng không nói gì về việc ra nhà Thúy để nghe điện thoại của Nguyện (các bút lục 536, 539, 545, 557, 559 và 2795).

Về thời điểm Nguyện gửi bánh Hêrôin cho Thu thì giữa Nguyện và Thu khai cũng không thống nhất. Quá trình điều tra Nguyện và Thu khai Nguyện gửi bánh Hêrôin cho Thu vào buổi sáng, khoảng 1 tuần sau thì Liên đến lấy. Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm Thu lại khai Nguyện giao bánh Hêrôin cho Thu và đi vào lúc sáng. Sau đó khoảng 1 – 2 tiếng (khoảng 10 giờ) thì cô Liên đến lấy (bút lục 2506). Còn tại phiên tòa phúc thẩm thì Nguyện lại khai gửi bánh Hêrôin cho Thu vào buổi chiều, Thu lại khai là vào buổi trưa (bút lục 2795).

Nguyện khai lấy đồng bạc trắng của Liên lên Tuần Giáo mua được 1 bánh Hêrôin về bán cho Liên, nhưng lại không lấy được đủ tiền nên từ đó không bán cho Liên nữa (bút lục 453). Lời khai này là mâu thuẫn, vì chính Nguyện đã thừa nhận lấy bạc trắng của Liên mua được 1 bánh Hêrôin thì lẽ ra Nguyện phải giao bánh Hêrôin đó cho Liên, chứ không phải là bán cho Liên, vì số bạc trắng đó Nguyện đã lấy của Liên và đủ để mua 1 bánh Hêrôin, nên không thể nói là Liên thiếu tiền bánh Hêrôin mua của Nguyện được.

Theo Đào Thị Nguyện khai anh Đạm (nhà ở phố Ngô Tất Tố) là người đã giới thiệu người dân tộc Thái ở bản Xuân Tre, Tuần Giáo, Lai Châu để Nguyện mua bán Hêrôin với người này và Nguyện đã thừa nhận từ tháng 6/1998 đến cuối năm 1998 đã lên nhà người dân tộc Thái ở Xuân Tre nhiều lần (5 lần) để mua Hêrôin về Hà Nội bán cho Tuấn, Ngọc và Liên ( bút lục 458, 445, 446, 453, 466, 467, 470, 441, 76). Nhưng Nguyện lại khai tại Cơ quan điều tra là không nhớ tên, không nhớ nhà và đường vào nhà người dân tộc đó, chỉ nhớ tên vợ anh ta là Oanh (hay Sao) gì đó. Lời khai này là không hợp lý và không có cơ sở, thể hiện khai báo thiếu trung thực của Đào Thị Nguyện, vì anh Đạm giới thiệu người bán Hêrôin cho Nguyện phải nói rõ họ tên, nhà cửa, đường đi lối lại thì Nguyện mới có thể đến nhà người đó được (vì Đạm không trực tiếp đi cùng Nguyện lên nhà người dân tộc ở bản Xuân Tre).

Theo Nguyện khai thì trong năm 1998, Nguyện đã bán 3 lần 3 bánh Hêrôin cho Liên, nhưng không có lần nào Nguyện khai gửi Thu 1 bánh để Thu giao cho Liên (bút lục 446, 453, 458). Chỉ từ bút lục 461 (lời tự khai ngày 14/8/2006) trở đi Nguyện mới khai về việc gửi Thu một bánh Hêrôin để Thu giao cho Liên, trùng hợp với lời khai cùng ngày14/8/2006 của Thu và cũng từ ngày 14/8/2006 Nguyện và Thu có nhiều lời khai về việc này, nhưng lại có nhiều mâu thuẫn như đã nêu ở trên.

Đào Thị Thu khai Nguyện giao cho Thu gói hàng (1 bánh Hêrôin), Thu cất vào cót thóc của gia đình, sau đó giao cho Liên (bút lục 536, 539, 545, 557, 559). Lời khai này của Thu là không đúng sự thật vì chính ông Đào Tiến Thắng (là bố của Thu) khai từ thời điểm năm 1998 đến nay gia đình ông không dùng cót thóc, lời khai này đã được luật sư công bố tại phiên tòa phúc thẩm (bút lục 2796). Còn bà Lương Thị Den (là mẹ đẻ của Thu) thì xác nhận chưa bao giờ bán rượu cho Liên và từ năm 1997 – 1998 không nhớ là Liên có sang nhà bà lần nào không và bà cũng không quan hệ mua bán gì với Liên cả (bút lục 551).

Tại phiên tòa phúc thẩm thì Đào Thị Thu cũng không xác định được người đến lấy gói hàng do Nguyện gửi là Tạ Thị Liên.

Mặt khác cần lưu ý là sự việc Đào Thị Nguyện gửi gói hàng cho Đào Thị Thu. Sau đó Thu giao lại cho Tạ Thị Liên là hết sức bình thường chỉ thoảng qua, không để lại dấu ấn sâu đậm gì, đã qua gần 10 năm mà Đào Thị Thu vẫn còn nhớ và khai báo rất chi tiết.

Từ sự phân tích trên cho thấy lời khai của Đào Thị Nguyện và Đào Thị Thu về việc Nguyện bán 1 bánh Hêrôin cho Tạ Thị Liên là không thống nhất, có nhiều mâu thuẫn, thể hiện sự thiếu trung thực. Do đó, không thể lấy những  lời khai đó làm chứng cứ để kết tội Tạ Thị Liên được. Việc khám xét nơi ở của Tạ Thị Liên không thu được gì có liên quan tới việc mua bán ma túy của Tạ Thị Liên.

Hồ sơ vụ án cũng chưa làm rõ được một số tình tiết như xác định ông Thắng (là bố của Đào Thị Thu) và bà Den vào thời điểm năm 1998 gia đình ông bà có dùng cót thóc không, và lấy lời khai của Thúy (bạn của Thu) để xác định lời khai của Đào Thị Nguyện là Nguyện đã gọi điện cho Thúy nhắn Thu ra nhà Thúy để nghe điện không; đồng thời cũng phải xác minh người dân tộc Thái ở bản Xuân Tre, Tuần Giáo mà Nguyện khai là đối tượng đã bán Hêrôin cho Nguyện vào năm 1998 là ai, để Nguyện mang về Hà Nội bán cho Liên.

Với những căn cứ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì chưa đủ cơ sở kết luận Tạ Thị Liên đã mua 01 bánh Hêrôin của Đào Thị Nguyện thông qua Đào Thị Thu, mà cần phải tiếp tục điều tra, làm rõ những vấn đề đã nêu ở trên để kết luận Tạ Thị Liên có mua bán 01 bánh Hêrôin không.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 213/2008/HSPT ngày 28/3/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm để huỷ một phần bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 433/2007/HSST ngày 04 đến ngày 12/12/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về tội danh và hình phạt đối với Tạ Thị Liên để điều tra lại theo thủ tục chung./.

________________________________

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

+Tại Quyết định giám đốc thẩm số 04/2013/HS-GĐT ngày 07/01/2013 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 213/2008/HSPT ngày 28/3/2008 của Tòa phúc them Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 433/2007/HSST ngày 12/12/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần quyết định đối với Tạ Thị Liên để điều tra lại; chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để giải quyết theo thủ tục chung./.

 ----------------------------------------------------

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi