Hướng dẫn số 05/2010/HD-VKSTC-V5
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỐI CAO

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

              Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                          -------------------

Số: 05/HD-VKSTC- V5

          Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2010

 

HƯỚNG DẪN

CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ, VIỆC DÂN SỰ NĂM 2010

 

Căn cứ Chỉ thị công tác số 02/CT-VKSTC ngày 15/1/2010 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC); Vụ Kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự (Vụ 5) hướng dẫn một số nội dung trọng tâm công tác năm 2010 như sau :

I. NHIỆM VỤ CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ, VIỆC DÂN SỰ.

Viện kiểm sát các cấp cần đẩy mạnh công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự. Đề ra các biện pháp nhằm kiểm sát chặt chẽ các bản án, quyết định của Toà án, đảm bảo phát hiện kịp thời vi phạm để kháng nghị, kiến nghị theo thẩm quyền.

Vận dụng những kết quả, kinh nghiệm kiểm sát bản án, quyết định; tham gia phiên toà, phiên họp đạt được qua tổng kết 5 năm thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) được rút ra từ hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện BLTTDS trong năm 2009 của toàn Ngành để nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Tập hợp vướng mắc, đánh giá kết quả, tổ chức hội nghị, hội thảo về 10 năm thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và 5 năm thực hiện Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 để kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định không phù hợp.

Phối hợp với Toà án có giải pháp liên ngành đảm bảo việc gửi bản án, quyết định và hổ sơ giải quyết các vụ, việc dân sự đúng thời hạn theo qui định của pháp luật.

Tiến hành sơ kết 5 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLN ngày 01/9/2005 của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số qui định của BLTTDS để báo cáo Viện kiểm sát tối cao đề nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn chỉ đạo.

Có biện pháp tăng cường phối hợp với Toà án và các cơ quan khác để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của Ngành.

II CÁC NHIỆM VỤ CỤ THỀ

1 Kiểm sát thông báo thụ lý

Kiểm sát chặt chẽ thông báo thụ lý vụ, việc dân sự của Toà án chuyển cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại Điều 6 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự ban hành kèm theo Quyết định số 1154 ngày 19/11/2007  của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao (Quy chê). Lưu ý đối với mỗi thông báo đều phải ghi ngày Viện kiểm sát nhận, lập phiếu kiểm sát để ghi những vi phạm đã phát hiện, trên cơ sở đó tổng hợp kiến nghị với Toà án yêu cầu khắc phục vào cuối tháng, 6 tháng, 1 năm.

Trường hợp phát hiện Toà án không gửi thông báo thì căn cứ khoản 1 Điều 21 BLTTDS ra văn bản yêu cầu Toà án gửi để kiểm sát.

2. Việc tham gia phiên toà, phiên họp

Khi nhận được đơn khiếu nại của đương sự về việc thu thập chứng cứ của Toà án (kể cả đơn do Toà án chuyển sang) cần kiểm tra ngay nội dung đơn về những yêu cầu cụ thể, những chứng cứ của đương sự gửi kèm theo và báo cáo Lãnh đạo Viện để quyết định việc tham gia phiên toà.

Khi nhận được quyết định mở phiên họp và hồ sơ việc dân sự do Toà án chuyển đến, Kiểm sát viên được phân công vào sổ thụ lý, nghiên cứu và tham gia 100% phiên họp.

Việc nghiên cứu hồ sơ để tham gia phiên toà, phiên họp thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 , Điều 14 Quy chế.

3. Kiểm sát các quyết định, bản án của Toà án để kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Việc kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án thực hiện .theo quy định tại Điều 1 1 Quy chế, cụ thể :

Khi nhận được bản án, quyết định của Toà án gửi đến phải vào sổ ghi ngày nhận và phân công ngay cho Kiểm sát viên, Kiểm tra viên để nghiên cứu. Nếu phát hiện có vi phạm thì yêu cầu Toà án chuyển hồ sơ để xem xét, nếu có căn cứ để kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì.báo cáo Lãnh đạo Viện để ra kháng nghị. Riêng trường hợp hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm của cấp mình thì chuyển ngay cho cấp trên để kháng nghị. Do thời hạn kháng nghị phúc thẩm chỉ có 15 ngày đối với bản án và 7 ngày đối với các quyết định, vì vậy trong trường hợp Toà án chuyển chậm cho Viện kiểm sát bản án, quyết định thì phải trực tiếp yêu cầu Toà án chuyển đúng hạn để đảm bảo thời gian cho Viện kiểm sát xem xét kháng nghị; nếu có vi phạm thì phải kiến nghị ngay để khắc phục.

Khi nhận được thông báo kháng cáo của Toà án gửi đến,Viện kiểm sát cùng cấp phải sao gửi ngay cho Viện kiểm sát cấp trên biết để theo dõi, tham gia phiên toà theo quy định của pháp luật; kiểm sát việc gửi bản án, quyết định phúc thẩm của Toà án. Đồng thời định kỳ hàng tháng Viện kiểm sát cấp tỉnh thông báo cho Viện kiểm sát cấp huyện về kết quả xét xử phúc thẩm để Viện kiểm sát cấp huyện rút kinh nghiệm về kiểm sát bản án, quyết định.

4. Công tác kiến nghị

Tăng cường công tác phát hiện vi phạm để thường xuyên thực hiện kiến nghị qua từng vụ việc hoặc tập hợp để kiến nghị tổng hợp vi phạm đối với cơ quan xét xử. Lưu ý các văn bản kiến nghị của Viện kiểm sát cấp tỉnh phải gửi về VKSTC (Vụ 5) 01 bản để theo dõi. Mỗi Viện kiểm sát cấp huyện ngoài việc kiến nghị gửi chậm; không gửi bản án, quyết định thì ít nhất 6 tháng, 1 năm phải ban hành một kiến nghị tổng hợp đối với Toà án cùng cấp. Viện kiểm sát tỉnh tổng hợp ban hành kiến nghị theo tháng, quý, 6.tháng, cả năm. Viện kiểm sát tối cao sẽ kiến nghị với Toà án tối cao vào cuối năm.

5. Lập hồ sơ kiểm sát

Quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, Kiểm sát viên phải lập hồ sơ kiểm sát theo đúng quy định tại Điều 18 Quy chế và Hướng dẫn số 15/HD-VKSTC-V5 ngày 10/6/2005 của Vụ 5 Viện kiểm sát nhân dân tối cao.


6. Công tác giải quyết đơn khiếu nại

Khi nhận được đơn khiếu nại của đương sự về thu thập chứng cứ của Toà án, Kiểm sát viên được phân công phải vào sổ thụ lý, căn cứ nội dung đơn khiếu nại để đề xuất hướng xử lý: hướng dẫn đương sự hoặc yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự.

Đối với đơn khiếu nại của đương sự do Vụ 5 chuyển về theo Quy chế thì Viện kiểm sát cấp tỉnh phải quản lý chặt chẽ, rút hồ sơ nghiên cứu, nếu thấy bản án, quyết định của Toà án có căn cứ thì báo cáo VKSNDTC kết quả giải quyết; trường hợp thấy bản án, quyết định của Toà án có vi phạm cần kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì báo cáo VKSNDTC (kèm hồ sơ do Toà án lập) theo đúng quy định tại Điều 17 Quy chế.

7. Công tác chỉ đạo, hướng dẫn cấp huyện, sơ kết rút kinh nghiệm, xây dựng chuyên đề.

Phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát tỉnh xây dựng Chương trình công tác của đơn vị mình đồng thời hướng dẫn cho Viện kiểm sát cấp huyện để xây dựng Kế hoạch. Trong Chương trình công tác phải có kế hoạch kiểm tra nghiệp vụ đối với cấp huyện; cán tăng cường thông báo rút kinh nghiệm nghiệp vụ, xây dựng chuyên đề nghiệp vụ, tổ chức rút kinh nghiệm.để nâng cao chất lượng công tác. Chương trình công tác của cấp Phòng và Kế hoạch của cấp huyện nhất thiết phải có chỉ tiêu kháng nghị phúc thẩm, kiến nghị về những vi phạm của Ngành bạn (chỉ tiêu kháng nghị phúc thẩm được xây dựng dựa trên án bị cải sửa, huỷ của năm 2009 ở địa phương mình); tăng cường phát hiện vi phạm để báo cáo Viện kiểm sát cấp tỉnh kháng nghị giám đốc thẩm bản án, quyết định cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật.

Viện kiểm sát địa phương cần có Kế hoạch tập hợp vướng mắc, đánh giá kết quả, tổ chức hội nghị, hội thảo về 10 năm thực hiện Luật hôn nhân gia đình năm 2000, 5 năm thực hiện BLDS và sơ kết 5 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLN ngày 01/9/2005 của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số qui định của BLTTDS (Kế hoạch cụ thể Vụ 5 sẽ có hướng dẫn riêng).

Vụ 5 sẽ tiến hành kiểm tra việc triển khai thực hiện Chỉ thị công tác năm 2010 và kết quả công tác 6 tháng, năm tại một số Viện kiểm- sát tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp huyện theo kế hoạch.

8. Chế độ thông tin, báo cáo

Thực hiện nghiêm túc Quy chế 198/QĐ-VKSTC ngày 29.4.2008 của Viện trưởng VKSNDTC về chế độ thông tin báo cáo và các văn bản hướng dẫn của Vụ nghiệp vụ. ~ Đối với nội dung báo cáo sơ kết 6 tháng và báo cáo tổng kết năm của phòng nghiệp vụ cần xây dựng báo cáo theo đúng những nội dung, tiêu chí đã hướng dẫn tại công văn số 3929/VKSTC-V5 ngày 02/11/2007 của Vụ 5, VKSNDTC. Tập trung vào một số tiêu chí sau: Số bản kiến nghị (tỉnh, huyện), Số vụ VKS kháng nghị phúc thẩm, Giám đốc thẩm, tái thẩm (số VKS kháng nghị, số HĐXX chấp nhận, không chấp nhận), cần bóc tách rõ giữa số kháng nghị cũ và mới, giữa án Dân sự và án Hành chính, lao động. . . để tổng hợp chung của toàn ngành. Ngoài ra khi có yêu cầu báo. cáo đột xuất hoặc yêu cầu báo cáo phục vụ chuyên đề của VKSNDTC, các đơn vị cần báo cáo đầy đủ, kịp thời, phục vụ cho công tác tổng kết hoặc theo yêu cầu của Lãnh đạo VKSNDTC.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Trên cơ sở những nội dung về công tác giải quyết các vụ việc dân sự nêu trong Chỉ thị của Viện trưởng VKSNDTC, Hướng dẫn của Vụ 5, Kế hoạch công tác năm 2010 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng 5 xây dựng chương trình công tác của đơn vị mình và hướng dẫn cấp huyện. Các văn bản nói trên gửi về VKSNDTC (vụ 5) trước 15/2/2010 để theo dõi, tập hợp báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

 

         Nơi nhận:

- Các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc TU( để thực hiện);

- Các đơn vị trực thuộc VKSTC( để phối hợp;

- Đ/c Viện trưởng VTC(b/c);

- Đ/c PVT Nguyễn Thị Thuỷ Khiêm(b/c);

- Lưu VT( 2 b),Vụ 5 (35b)

TL.VIỆN TRƯỞNG

VỤ TRƯỞNG

 

 

NGUYỄN VĂN CƠ

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi

Các tin khác