Công tác THQCT&KS các hoạt động tư pháp của VKSND trong tình hình mới và một số vấn đề về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm

TS. Trần Công Phàn,

 

                                                         Phó Viện trưởng VKSND tối cao

PHẦN THỨ NHẤT

       NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA, KIỂM SÁT XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ, GÓP PHẦN ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ HIỆU QUẢ

I. Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra

Chủ trương Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tralà một trong những vấn đề cơ bản, quan trọng trong cải cách tư pháp hình sự hiện nay ở nước ta. Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về cải cách tư pháp xác định: Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm chính về những oan, sai trong việc khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố; phải bảo đảm việc truy tố có căn cứ, đúng pháp luật, cùng với cơ quan điều tra khắc phục những vi phạm, tồn tại trong quá trình điều tra, bảo đảm không để lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội.

Vấn đề đặt ra là, nhận thức như thế nào về “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”?. Theo quy định của pháp luật, trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, đồng thời kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra (kiểm sát điều tra). Việc thực hiện mỗi nhiệm vụ nói trên đặt ra những yêu cầu khác nhau nhưng có mỗi quan hệ hữu cơ với nhau. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự được quy định tại Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và tại Điều 112 BLTTHS năm 2003, theo đó, Viện kiểm sát có quyền quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đề ra yêu cầu điều tra để yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như: trực tiếp hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người làm chứng; triệu tập và lấy lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; đối chất; tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; thực nghiệm điều tra; trưng cầu giám định… Viện kiểm sát có quyền quyết định, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án. Khi Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các lệnh, quyết định của cơ quan điều tra có nghĩa Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Đây thực chất là các biểu hiện của công tố (hay thực hành quyền công tố). Mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội, là quá trình đưa người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử; còn mục đích của hoạt động kiểm sát điều tra là phát hiện vi phạm trong hoạt động điều tra và kiến nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm, bảo đảm việc điều tra theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, cần phân biệt sự khác nhau giữa công tác THQCT và công tác KSĐT. Về mặt lý luận, việc phân biệt, tách bạch hai công tác này chưa được làm rõ, nhưng theo quy định của Bộ luật TTHS đã quy định hai công tác này ở hai điều khác nhau (Điều 112, Điều 113). Như vậy, có thể nói thực chất của việc “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra” là tăng cường việc thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ của Viện kiểm sát được quy định tại Điều 112 BLTTHS - đây là nhiệm vụ trọng tâm của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra. Mặt khác, cần thấy được trong thực tiễn hoạt động công tác THQCT và KSĐT của Viện kiểm sát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Làm tốt các hoạt động kiểm sát điều tra quy định tại Điều 113 BLTTHS là nhằm bổ trợ, là điều kiện để bảo đảm tốt hơn cho hoạt động thực hành quyền công tố. Trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ ngành Kiểm sát năm 2011 hôm nay cũng như Kết luận tại Hội nghị triển khai công tác kiểm sát năm 2011, đồng chí Viện trưởng VKSND tối cao đã nói cụ thể về vấn đề này[1]

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nêu trên, Viện kiểm sát phải tham gia sâu hơn, sớm hơn vào quá trình điều tra, ngay từ khi có tin báo, tố giác về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra; Kiểm sát viên phải bám sát quá trình điều tra, nắm chắc tiến độ điều tra, “lăn lộn” cùng Điều tra viên để giải quyết vụ án chứ không phải chỉ là người quan sát, phán xét các hoạt động điều tra sau khi kết thúc quá trình điều tra. Tăng cường hơn nữa trách nhiệm cá nhân, phát huy tính chủ động của Kiểm sát viên trong việc giải quyết vụ án, đặc biệt là việc ban hành các quyết định tố tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra; đề ra các yêu cầu và trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra khi cần thiết, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung. Cần nhấn mạnh rằng, việc đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan Điều tra tiến hành điều tra là một quyền năng quan trọng và cơ bản của Kiểm sát viên thực hành Quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Thông qua Bản yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên thể hiện rõ quan điểm của mình trong việc thu thập chứng cứ; nó là quyền năng, đồng thời nó cũng thể hiện trình độ, năng lực của Kiểm sát viên. Vì vậy, Viện kiểm sát các cấp cần đặc biệt quan tâm đến công tác này nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng yêu cầu điều tra.

Viện kiểm sát các cấp phải quản lý chặt chẽ thông tin tội phạm, thực sự chủ động trong quản lý và phân loại xử lý thông tin tội phạm. Phải quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc: Mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật, không làm oan, không bỏ lọt tội phạm - đó cũng chính là nhiệm vụ quan trọng gắn với chức năng công tố của Viện kiểm sát. Để làm được điều đó, đòi hỏi Viện kiểm sát các cấp phải thực sự chủ động trong công tác quản lý thông tin tội phạm. Trước hết, phải xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với với Công an các cấp trong việc cung cấp và xử lý thông tin, đây là nguồn thông tin trực tiếp và chủ yếu. Bên cạnh đó, cần chủ động phối hợp với các cơ quan khác như Hải quan, Bộ đội biên phòng, Thuế, Kiểm lâm, Thanh tra, Quản lý thị trường… để nắm thông tin vi phạm, tội phạm vì đây là các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc thẩm quyền.

Để tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, Viện kiểm sát phải làm tốt hơn các hoạt động kiểm sát điều tra, thực hiện đúng quy định kiểm sát điều tra ngay từ giai đoạn khởi tố. Đây là một giải pháp thiết thực, tạo điều kiện để Kiểm sát viên nắm được bản chất vụ việc, Kiểm sát viên cần phối hợp với Điều tra viên để xác lập định hướng điều tra, xây dựng kế hoạch điều tra cụ thể nhằm bảo đảm việc điều tra, xử lý vụ án được triệt để, đúng pháp luật; định kỳ cùng với Điều tra viên đánh giá kết quả điều tra, thống nhất những nội dung cần tiếp tục điều tra, thực hiện đúng tiến độ điều tra và thời hạn xử lý vụ án. Thực hiện kiểm sát điều tra ngay từ đầu cũng tạo điều kiện để Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thống nhất quan điểm trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh và hướng xử lý đối với người phạm tội, khắc phục cơ bản việc đùn đẩy trách nhiệm hoặc “quyền anh, quyền tôi” trong hoạt động tố tụng hình sự.

Viện kiểm sát các cấp phải thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, bảo đảm việc khởi tố kịp thời, chính xác, tạo tiền đề cơ bản để điều tra, xử lý vụ án đạt hiệu quả. Khi thực hiện việc phê chuẩn/hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải kiểm tra kỹ các chứng cứ đề nghị phê chuẩn, kiên quyết không phê chuẩn những trường hợp chưa có đủ cơ sở, còn thiếu chứng cứ và không đúng pháp luật, bảo đảm việc khởi tố có căn cứ, đúng pháp luật, tránh chủ quan, phiến diện khi thực hiện các quyền năng tố tụng.

Viện kiểm sát các cấp cần phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra trong việc thu thập chứng cứ, bảo đảm các chứng cứ được thu thập một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; phải thu thập cả những chứng cứ buộc tội và những chứng cứ gỡ tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Chú ý làm rõ những điểm mâu thuẫn trong lời khai của bị can và mối liên hệ giữa lời khai của bị can với các nguồn chứng cứ khác; tránh tình trạng điều tra phiến diện, đánh giá chứng cứ nặng về cảm tính, suy diễn chủ quan, áp đặt dẫn đến xử lý oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Bên cạnh các vấn đề nêu trên, Viện kiểm sát các cấp cần chủ động xây dựng mối quan hệ phối hợp công tác với Cơ quan điều tra, nhất là xây dựng các quy chế phối hợp liên ngành. Các quy định, quy chế phối hợp phải thiết thực và hiệu quả, tránh hình thức. Trong quy chế phối hợp cần cụ thể, dễ thực hiện, nêu rõ cách thức, biện pháp phối hợp nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành, không quy định chung chung. Mặt khác, cần quan tâm, tăng cường hơn nữa ý thức trách nhiệm của các Kiểm sát viên trong việc thực hiện các quyền hạn tố tụng; tăng cường hơn nữa trách nhiệm quản lý cũng như trách nhiệm tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp và Thủ trưởng các đơn vị, nhất là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra của Lãnh đạo viện đối với cán bộ, kiểm sát viên. Kinh nghiệm cho thấy, ở nơi nào, lãnh đạo Viện sâu sát trong quản lý, chỉ đạo, điều hành thì ở đó chất lượng công tác được nâng lên rõ rệt. Vì vậy, để thực hiện tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra thì trước hết, các cấp lãnh đạo phải thể hiện đầy đủ nhất, tập trung nhất trách nhiệm trước công việc, nhất là công tác lãnh đạo, chỉ đạo và công tác kiểm tra đối với cán bộ, kiểm sát viên và VKS cấp dưới.

II. Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa

Nghị quyết của Đảng đã khẳng định “Hoạt động xét xử là trọng tâm” của cải cách tư pháp. Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng là biểu hiện tập trung nhất, thể hiện rõ nhất vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp được Nghị quyết 49 –NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ là “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp.

Tranh tụng là khái niệm chưa được quy định trong BLTTHS; nhưng cần hiểu rằng, “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa” không có nghĩa là thay đổi mô hình tố tụng hình sự mà về cơ bản, tố tụng hình sự ở nước ta vẫn là tố tụng thẩm vấn, nhưng cần tăng cường tranh luận tại phiên tòa để bảo đảm dân chủ trong quá trình xét xử. Tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động tố tụng, theo đó các bên tham gia tại phiên tòa (trong đó Viện kiểm sát là một bên bắt buộc) đối đáp với nhau nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án để giúp Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết khách quan, đầy đủ. Trong tranh tụng, Viện kiểm sát có vị trí, vai trò rất quan trọng, là bên buộc tội, đại diện cho Nhà nước giữ quyền công tố trước Tòa để tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa.

Thực hiện chủ trương “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa”, theo quy định của pháp luật, Kiểm sát viên phải thực hiện tốt vai trò công tố, thể hiện được uy quyền của người đại diện Nhà nước thực hành quyền công tố trước Toà, đồng thời kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử, góp phần cùng với Tòa án ra được bản án, quyết định đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi thực hiện chức năng công tố tại phiên tòa, Viện kiểm sát có trách nhiệm chứng minh sự thật của vụ án, tranh luận dân chủ, đối đáp với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật của vụ án; đồng thời có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, có quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu Tòa án chấm dứt và khắc phục vi phạm trong quá trình xét xử vụ án.

Viện kiểm sát các cấp cần xác định đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của Kiểm sát viên khi thực hiện các hoạt động tố tụng tại phiên tòa. Năng lực, trình độ, trách nhiệm, bản lĩnh của Kiểm sát viên tại phiên tòa chính là uy tín, hình ảnh của ngành Kiểm sát trước nhân dân, trước Đảng. Đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, gây dư luận xấu trong xã hội hoặc liên quan đến người có chức vụ quyền hạn cao trong các cơ quan, tổ chức, người có chức sắc cao trong các tôn giáo thì lãnh đạo VKSND các cấp phải là người trực tiếp thực hành quyền công tố tại phiên tòa; hoặc lựa chọn những Kiểm sát viên có kinh nghiệm, có trình độ, năng lực về chuyên môn, có phong cách bản lĩnh, có khả năng diễn đạt và phản ứng nhanh nhạy đối với các tình huống phát sinh tại phiên tòa để thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.

Một vấn đề cần lưu ý là, ngành Kiểm sát chúng ta đang thực hiện cơ chế thông khâu, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra cũng đồng thời được giao trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm tại phiên tòa. Cơ chế này tạo điều kiện thuận lợi cho Kiểm sát viên nắm vững hồ sơ vụ án. Nếu Viện kiểm sát các cấp tăng cường hơn nữa trách nhiệm trong kiểm sát điều tra, nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, nắm vững chứng cứ và các quy định của pháp luật, chuẩn bị kỹ  các các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa thì chắc chắn sẽ thực hiện tốt việc tranh tụng, chất lượng thực hành quyền công tố tại phiên tòa sẽ được nâng lên. Trong những năm qua, Quy chế của Ngành đã được hoàn thiện theo hướng tăng cường trách nhiệm tố tụng cho các Kiểm sát viên, Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng, Trưởng, Phó phòng nghiệp vụ. Thực tiễn cho thấy, quy định này là phù hợp, cần thiết và đúng với tinh thần cải cách tư pháp. Các đồng chí là cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhưng đồng thời là Kiểm sát viên. Do vậy, vừa phải nêu cao vai trò quản lý, chỉ đạo, điều hành; vừa phải tăng cường tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp; phải trực tiếp giải quyết những vụ việc khó khăn, phức tạp. Các đồng chí phải là những tấm gương trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ.

Khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử, Kiểm sát viên phải chủ động trong việc tham gia thẩm vấn và tranh luận dân chủ với người bào chữa. Kiểm sát viên phải thực sự bản lĩnh, tự tin, sắc sảo trong việc luận tội và bảo vệ quan điểm truy tố; đồng thời, phải tôn trọng kết quả điều tra công khai trước phiên tòa; bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ trong tranh tụng, thể hiện ở chỗ các quan điểm tranh tụng chỉ dựa vào quy định của pháp luật và chứng cứ đã được kiểm tra xác minh, dựa vào quan điểm, đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm của Đảng và Nhà nước để đề xuất các quyết định xử lý đúng đắn vụ án. Để làm được điều đó, đòi hỏi Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:

- Nắm vững các quy định của pháp luật (pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, các luật khác có liên quan) và đường lối đấu tranh phòng, chống tội phạm của Đảng và Nhà nước;

- Nghiên cứu kỹ các nội dung vụ án và chứng cứ trong vụ án; nắm chắc hồ sơ vụ án, các đặc điểm nhân thân, thái độ khai cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng có liên quan; nắm được các luận cứ của người bào chữa sẽ trình bày tại phiên tòa… Dự kiến trước các vấn đề và quan điểm của Viện kiểm sát về các tình huống tranh tụng (các vấn đề nằm trong dạng khả năng và các vấn đề thể hiện cụ thể trong hồ sơ vụ án cũng như các vấn đề có thể phát sinh). Trong đó cần dự kiến trước trường hợp bị cáo tại phiên toà sẽ phản cung hoặc chối tội thì sẽ giải quyết như thế nào...

- Xây dựng kế hoạch, nội dung tham gia thẩm vấn, chuẩn bị tốt các chứng cứ, luận điểm để thực hiện tranh tụng dân chủ với bị cáo, người bào chữa.

- Nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc tranh tụng, không được từ chối tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa vì bất cứ lý do gì. Thái độ tranh luận của Kiểm sát viên phải khiêm tốn, khách quan, bình tĩnh, không được tỏ thái độ quá khích, tôn trọng ý kiến của người tham gia tố tụng. Lời đối đáp và từ ngữ sử dụng khi tranh luận của Kiểm sát viên phải chính xác, dễ hiểu, không cường điệu.

- Chuẩn bị tốt bản luận tội, bảo đảm tính thuyết phục cao; đồng thời góp phần giáo dục, phòng ngừa chung.

III. Về tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng diễn biến phức tạp, với sự gia tăng về số lượng, với nhiều thủ đoạn tinh vi và nguy hiểm. Các băng nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đã gia tăng ở mức cao hơn, chúng tạo vỏ bọc hợp pháp, gây án một cách kín đáo với nhiều hình thức che đậy khôn khéo. Các hoạt động tội phạm này không dừng lại là vấn đề của một quốc gia, một vài quốc gia mà đã trở thành vấn đề mang tính khu vực và toàn cầu. Trước tình hình đó, việc tăng cường hợp tác giữa các quốc gia để ngăn chặn và chống lại những tội phạm này có ý nghĩa rất quan trọng.

Việc đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đã và đang là một nhiệm vụ quan trọng trong Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm. Việt Nam đã hợp tác chặt chẽ với Liên hợp quốc và các nước. Cảnh sát Việt Nam đã tham gia INTERPOL và ASEANAPOL. Năm 1997, Việt Nam trở thành thành viên các Công ước Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy. Năm 2000,Việt Nam đã ký Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Tháng 6 năm 2009, Nhà nước Việt Nam đã phê chuẩn công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng. Bằng việc phê chuẩn Công ước này, Việt Nam đã chính thức cùng gần 140 nước tham gia vào khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác trong phòng, chống tham nhũng… Bên cạnh đó, Nhà nước Việt Nam đã tham gia, phê chuẩn, ký kết hàng chục công ước, hiệp định về chống khủng bố, chống các tội phạm quốc tế với Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và với các nước khác trên thế giới.

Đặc biệt, Việt Nam hết sức coi trọng hoạt động tương trợ tư pháp với các nước, coi đây là biện pháp trực tiếp góp phần đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 xác định Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan đầu mối trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự, có trách nhiệm tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các ủy thác tư pháp về hình sự; xem xét, quyết định việc thực hiện; từ chối hoặc hoãn thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự với các nước. Viện kiểm sát có trách nhiệm đề xuất với Nhà nước Việt Nam việc ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tương trợ tư pháp.

Để nâng cao hiệu quả công tác hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân, cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, thực hiện tốt việc tiếp nhận, giải quyết các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. Đây là nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng trong hợp tác quốc tế của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm tới.

Căn cứ vào Luật Tương trợ tư pháp, các Công ước, Hiệp định, Thỏa thuận đã ký và các quy định pháp luật trong nước, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, trong phạm vi thẩm quyền được giao, cần thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết các yêu cầu tương trợ tư pháp, đảm bảo đúng pháp luật, hiệu quả, tiến độ. Tăng cường công tác phối hợp giữa các đơn vị trong Ngành và giữa Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan, đơn vị hữu quan trong việc tiếp nhận, giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp và xây dựng, hướng dẫn thực hiện pháp luật tương trợ tư pháp. Chủ động nghiên cứu, rà soát, đề xuất việc ký kết mới, sửa đổi bổ sung các hiệp định tương trợ tư pháp với các nước để có căn cứ pháp lý giải quyết có hiệu quả các tương trợ tư pháp.

Thứ hai, tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và phòng, chống tội phạm với Viện kiểm sát, Viện Công tố các nước láng giềng trong khu vực; các nước có quan hệ truyền thống; các nước có nhiều người Việt Nam sinh sống, làm việc; các tổ chức quốc tế có liên quan. Thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các Thỏa thuận hợp tác đã ký và đẩy mạnh việc ký kết thêm các Thỏa thuận hợp tác với Viện kiểm sát, Viện Công tố, cơ quan tư pháp các nước để tạo điều kiện cho việc tăng cường hợp tác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các cơ chế hợp tác đa phương như Hội nghị Viện trưởng Viện kiểm sát, Viện Công tố các nước ASEAN và Trung Quốc, Hội nghị, Hội thảo của Hiệp hội các Cơ quan phòng chống tham nhũng quốc tế, các Nhóm công tác liên Chính phủ...Tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ kỹ thuật để hoàn thiện thể chế và năng lực cán bộ Kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần quan tâm đến việc chủ động tham gia giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu, được cộng đồng quốc tế quan tâm như hợp tác chống khủng bố và tài trợ cho khủng bố, chống buôn bán ma túy, chống rửa tiền, chống buôn bán người; hợp tác trong kê biên, phong tỏa, thu giữ, tịch thu và trả lại tài sản do phạm tội mà có.

              Thứ ba, để làm tốt công tác hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, cần quan tâm việc bổ sung và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác này vừa có kiến thức pháp luật, lại vừa giỏi về ngoại ngữ để có thể làm việc, trao đổi trực tiếp không qua phiên dịch.

IV. Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và công tác bảo vệ Đảng

Liên quan đến vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và công tác bảo vệ Đảng gần đây có 02 Chỉ thị quan trọng của Bộ Chính trị là Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” và Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 07/7/2007 “Về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng”.

1. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chỉ thị 48-CT/TW của Bộ Chính trị là tiếp tục tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng qua các thời kỳ, đồng thời thúc đẩy việc thực hiện các Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu cấp bách của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trước mắt cũng như lâu dài.

Đây là lần đầu tiên Bộ Chính trị ra Chỉ thị chỉ đạo chuyên sâu về công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, định hướng đối với toàn Đảng, toàn dân, để chỉ đạo thực hiện tốt các mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ đề ra trong công tác phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự phù hợp với tình hình mới. Mục đích của Chỉ thị là tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm; huy động sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân vào công tác phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường lành mạnh phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chỉ thị đã nêu khái quát về tình hình tội phạm và chỉ rõ nguyên nhân, dự báo tình hình tội phạm trong thời gian tới; cụ thể như sau:

Tình hình tội phạm vẫn còn diễn biến phức tạp. Một số loại tội phạm mới đã xuất hiện: khủng bố, rửa tiền, mua bán người, sử dụng công nghệ cao, tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, tội phạm về môi trường, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài... Tội phạm do nguyên nhân xã hội chiếm tỷ lệ cao, biểu hiện sự xuống cấp đạo đức xã hội rất đáng lo ngại. Tội phạm sử dụng vũ khí chống lại lực lượng thi hành công vụ gia tăng và quyết liệt hơn. Đáng lưu ý là tình trạng tội phạm và vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên xảy ra nhiều hơn, rất đáng lo ngại...

Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là: cấp ủy và tổ chức đảng ở một số bộ, ngành, địa phương còn chưa quan tâm đúng mức công tác lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống tội phạm. Một số ngành, địa phương chưa coi công tác phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan, đơn vị mình. Hiệu quả phòng ngừa tội phạm còn thấp, tỷ lệ điều tra, xử lý một số loại tội phạm chưa cao.

Trong thời gian tới, tình hình tội phạm sẽ còn tiếp tục diễn biến phức tạp, dễ bị các thế lực thù địch và phần tử xấu lợi dụng, kích động là mất ổn định chính trị, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và sự vững mạnh của chế độ ta. Do đó, công tác phòng, chống tội phạm cần chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa.

Trên cơ sở đánh giá tình hình tội phạm và phân tích nguyên nhân, Chỉ thị đã đề ra mục đích, yêu cầu và 9  nhiệm vụ chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Trong đó có nhiều nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân (xem trong Chỉ thị số 48 - CT/TW của Bộ chính trị).

Triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 48 - CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 16/11/2010, Ban cán sự Đảng VKSND tối cao đã có Kế hoạch số 06 để quán triệt và tổ chức thực hiện trong ngành Kiểm sát nhân dân, yêu cầu các cấp ủy Đảng trong toàn Ngành tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện đối với công tác phòng, chống tội phạm. Phải nhận thức, đánh giá một cách nghiêm túc tình hình tội phạm và trách nhiệm của ngành Kiểm sát trong công tác phòng, chống tội phạm ở đơn vị, địa phương; đặt nhiệm vụ phòng, chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong chương trình công tác của đơn vị mình.

Các cấp ủy Đảng, lãnh đạo các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao quan tâm chỉ đạo công tác nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự và phòng, chống tội phạm, đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh đủ sức răn đe, ngăn ngừa tội phạm đang diễn biến phức tạp. Viện kiểm sát các cấp tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 49-NQ/TW, Nghị quyết số 08 - NQ/TW và Kết luận 79 -KL/TW của Bộ Chính trị; nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong xử lý tội phạm, đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ án trọng điểm; tăng cường kinh phí, trang bị phương tiện, biên chế… nâng cao năng lực hoạt động của lượng trực tiếp phòng, chống tội phạm.

Tăng cường hợp tác với Viện kiểm sát/Viện công tố các nước, các tổ chức quốc tế để trao đổi thông tin, học tập kinh nghiệm, phối hợp đấu tranh phòng, chống tội phạm… nhằm phục vụ có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài.

2. Chỉ thị 15- CT/TW ngày 07/7/2007 của Bộ Chính trị “Về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng” là một văn kiện đặc biệt quan trọng nhằm tăng cường công tác bảo vệ Đảng, bảo đảm việc bắt giữ, điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành đúng pháp luật, kiên quyết không để kẻ xấu lợi dụng việc điều tra, truy tố, xét xử để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương chính sách của Đảng. Ngày 18/11/2010, Ban Bí thư có hướng dẫn số 01 để thực hiện phần I, phần III Chỉ thị này.

Trước yêu cầu đấu tranh phòng, chống và xử lý tội phạm trong tình hình hiện nay, để bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cấp ủy Đảng, Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:

- Lãnh đạo tập trung thống nhất, chặt chẽ, toàn diện theo đúng quy định của pháp luật và các quy định của Đảng, tạo điều kiện để các hoạt động điều tra, xử lý tội phạm được tiến hành trôi chảy, bảo đảm quyền con người, bảo vệ Đảng.

- Chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo của Đảng, báo cáo kịp thời, đầy đủ và chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác, khách quan của nội dung báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy và tổ chức Đảng về việc điều tra, xử lý các vụ án hình sự liên quan đến cán bộ, đảng viên; các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, các vụ án có bị can, bị cáo là người có uy tín, ảnh hưởng lớn trong tôn giáo, trong dân tộc ít người, là nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sỹ có danh tiếng lớn, các vụ án có yếu tố nước ngoài mà khi xử lý có tác động đến chính trị và đối ngoại và các vụ án, vụ việc nghiêm trọng, phức tạp khác mà dư luận xã hội quan tâm.

 

PHẦN THỨ HAI

NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHỨC NĂNG KIỂM SÁT CÁC HOẠT ĐỘNG  PHÁP TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, HÀNH CHÍNH VÀ THI HÀNH ÁN, GÓP PHẦN BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ, BẢO VỆ QUYỀN DÂN CHỦ CỦA NHÂN DÂN

Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là vấn đề có tính đặc thù, xuất phát từ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước và đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta, từ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong hệ thống bộ máy nhà nước. Làm tốt chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sach, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc. Đây là trách nhiệm chính trị của ngành Kiểm sát trước Đảng và trước nhân dân. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm sát hoạt động tư pháp là đòi hỏi của Đảng và Nhà nước; là nhu cầu khách quan của công cuộc đấu tranh bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, là mong muốn của người dân đối với ngành Kiểm sát. Tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp là góp phần củng cố, tăng cường vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Vì thế, chúng ta cần tiếp tục thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nữa công tác này.

I. Nắm vững chủ trương và những quy định mới của pháp luật để thực hiện tốt công tác kiểm sát trong lĩnh vực dân sự, hành chính

Để khắc phục những vướng mắc, bất cập của pháp luật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và thực trạng hoạt động tư pháp dân sự, hành chính ở nước ta, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo các nghị quyết của Đảng, vừa qua, Quốc hội khóa XII đã ban hành Luật tố tụng hành chính và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự với nhiều nội dung đổi mới so với các quy định của pháp luật hiện hành, trong đó có vấn đề vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính nhằm tạo điều kiện để Viện kiểm sát thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình.

Điểm mới quan trọng của tố tụng dân sự trong lần sửa đổi này là mở rộng phạm vi các trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia các phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ việc dân sự. Theo đó, Viện kiểm sát có trách nhiệm phải tham gia hầu hết các phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự; tham gia tất cả các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự; tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự. (Lưu ý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS quy định “cứng” những trường hợp Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia. Đây là điểm mới rất cơ bản). Với nội dung sửa đổi này, trách nhiệm của Viện kiểm sát các cấp trong lĩnh vực dân sự lớn hơn rất nhiều so với hiện nay. Dự báo với quy định mới, số vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát có trách nhiệm phải tham gia phiên tòa sẽ tăng gấp bội, ở cấp sơ thẩm sẽ chiếm tỷ lệ khoảng 70-80 %; ở cấp phúc thẩm là 100%.[2]

Đối với tố tụng hành chính, điểm mới quan trọng nhất là “Mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính” theo tinh thần  Nghị quyết 49 -NQ/TW của Bộ Chính trị; theo đó, tại Điều 28 Luật TTHC quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết hầu hết các khiếu kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính, chỉ trừ một số lĩnh vực đặc biệt (thuộc phạm vi bí mật Nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức) thay vì chỉ giải quyết 22 loại khiếu kiện như quy định tại Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Bên cạnh đó, Luật TTHC còn quy định, cá nhân, cơ quan, tổ chức nếu không đồng ý với quyết định hành chính, hành vi hành chính thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án mà không bắt buộc phải thực hiện điều kiện khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại rồi mới có quyền khởi kiện ra Tòa án như quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Với việc sửa đổi này, dự báo trong thời gian tới, số lượng án hành chính mà Tòa án các cấp thụ lý giải quyết sẽ tăng lên rất nhiều, đặc biệt là trong các lĩnh vực quản lý đất đai, quản lý thuế, xử lý vi phạm hành chính… Theo quy định của Luật TTHC,  Viện kiểm sát phải tham gia từ khi Tòa án thụ lý vụ án, tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp giải quyết án hành chính từ giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm cho đến giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành án hành chính. Như vậy, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính cũng rất nặng nề.

Với việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính, công tác kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính của Viện kiểm sát sẽ có một sự thay đổi lớn, có tính bước ngoặt. Những nội dung đổi mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS và Luật TTHC nhằm mở rộng và tăng cường hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính thể hiện Đảng và Nhà nước đã nhìn nhận, khẳng định vai trò, trách nhiệm quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống cơ quan tư pháp; thể hiện sự quan tâm, tin tưởng của Đảng và Nhà nước đối với Viện kiểm sát. Ngành Kiểm sát chúng ta không chỉ có có vai trò quan trọng khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố mà cần nhận thức sâu sắc hơn vị trí, vai trò của ngành Kiểm sát trong thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đây là vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm mà Viện kiểm sát phải cố gắng thực hiện cho thật tốt để xứng đáng với sự tin tưởng của Đảng và Nhà nước, đáp ứng được sự mong mỏi của người dân. 

Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực dân sự, hành chính, Viện kiểm sát các cấp phải có nhiều biện pháp đổi mới toàn diện và đồng bộ, nhưng trước hết phải tập trung làm tốt những công việc sau đây:

- Thứ nhất, quán triệt trước hết từ đội ngũ lãnh đạo đến toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát các cấp nhận thức đúng đắn, đầy đủ, nắm vững những nội dung mới của Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi) và Luật tố tụng hành chính để tổ chức thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ - đây là một yêu cầu cấp bách hiện nay của Viện kiểm sát các cấp. Trong các đạo luật mới, cã nhiÒu vÊn ®Ò kÕ thõa những quy định về vị trí, chức năng của Viện kiểm sát trước đây, đồng thời có một số vấn đề mới, do đó Viện kiểm sát các cấp phải có các biện pháp để tổ chức quán triệt và tạo điều kiện cho cán bộ, Kiểm sát viên, nhất là những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính nắm vững các quy định của luật, nhận thức đúng đắn thẩm quyền và trách nhiệm của mình để thực hiện đầy đủ, toàn diện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.

- Thứ hai, xác định đúng phạm vi để chỉ đạo công tác kiểm sát dân sự, hành chính thực hiện có trọng tâm, trọng điểm.

Theo Điều 21 của BLTTDS (sửa đổi) và Điều 23 Luật Tố tụng hành chính, phạm vi của công tác kiểm sát được mở rộng từ kiểm sát việc thụ lý, tham gia các phiên tòa, phiên họp, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân, kiểm sát các bản án và quyết định là kết quả xét xử của Toà án nhân dân, kiểm sát các quyết định khác của Toà án nhân dân mà không qua thủ tục xét xử.

Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý đối tượng của công tác kiểm sát dân sự là hoạt động tố tụng xét xử các vụ án dân sự của Toà án nhân dân. Thực tiễn hiện nay, mặc dù có gần 200 nghìn vụ việc dân sự được thụ lý trong một năm, nhưng có tới hơn 60% số vụ việc đó được Toà án giải quyết bằng con đường không thông qua xét xử mà thông qua con đường hoà giải để các đương sự tự thoả thuận. Toà án chỉ cần ra quyết định công nhận sự thoả thuận. Không có kháng cáo và kháng nghị phúc thẩm đối với loại quyết định này. Phương thức hoà giải cũng được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng, ngay cả khi vụ án đã được thụ lý giải quyết bằng tố tụng xét xử, nếu xuất hiện khả năng đương sự có thể tự thoả thuận thì Toà án cũng xem xét và thực hiện việc hoà giải. Từ thực tiễn đó cho thấy: trọng tâm, trọng điểm của công tác kiểm sát dân sự là kiểm sát những vụ việc được Toà án thụ lý và giải quyết bằng trình tự xét xử. Đối với những việc khác, Viện kiểm sát cũng phải bảo đảm việc giải quyết của Tòa án là đúng pháp luật, trên nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.

Đối với các quyết định của Toà án, cần tập trung kiểm sát các quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án và quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự để phát hiện các vi phạm và thực hiện việc kháng nghị theo thẩm quyền.

- Thứ ba, đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ có đủ năng lực để thực hiện công tác kiểm sát án dân sự, hành chính cho phù hợp với việc đổi mới chức năng; tiến hành các biện pháp để xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên trong sạch, vững mạnh, tinh thông về nghiệp vụ, có bản lĩnh nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao để đảm đương nhiệm vụ.

Vụ Tổ chức cán bộ, các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương tiến hành rà soát đội ngũ cán bộ, đề xuất với lãnh đạo VKSND tối cao những biện pháp củng cố, tăng cường cán bộ có kinh nghiệm cho bộ phận làm công tác kiểm sát dân sự, hành chính nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

II. Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án theo quy định của Luật thi hành án hình sự, Luật thi hành án dân sự mới được Quốc hội ban hành

1. Luật thi hành án hình sự (được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 quy định cụ thể và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát. Một điểm mới rất quan trọng của Luật này so với các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự hiện hành là giao thẩm quyền cho Viện kiểm sát cấp tỉnh trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật, kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu đối với trại giam do Bộ Công an quản lý đóng tại địa phương trong việc thi hành án phạt tù. Cần nhận thức, đây là thẩm quyền do pháp luật quy định, không phải là vấn đề VKSND tối cao “ủy quyền” hay “phân cấp” cho Viện kiểm sát cấp tỉnh. Việc quy định giao cho VKSND cấp tỉnh trực tiếp kiểm sát trại giam là phù hợp với yêu cầu thực tiễn, bảo đảm sự kiểm sát thường xuyên, chặt chẽ, qua đó góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người chấp hành án phạt tù – điều này thể hiện tính nhân đạo của chế độ Nhà nước ta; đồng thời cũng là một trong những yếu tố giúp người chấp hành án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng sau khi đã chấp hành xong hình phạt.

Như vậy, kể từ ngày 01/7/2011, các Viện kiểm sát cấp tỉnh nơi có trại giam thuộc Bộ Công an đóng trên địa bàn sẽ thực hiện thẩm quyền kiểm sát trại giam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ yếu tập trung thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ. Để thực hiện tốt nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, Viện kiểm sát cấp tỉnh cần xây dựng kế hoạch, chủ động bố trí cán bộ bảo đảm về chất lượng, số lượng, có tính ổn định, chuyên sâu; đồng thời chủ động bố trí các phương tiện cần thiết để bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc thi hành án phạt tù, Viện kiểm sát các cấp cần tăng cường hơn nữa thực hiện kiểm sát chặt chẽ việc thi hành các hình phạt khác (ngoài phạt tù) và công tác đặc xá – đây cũng là nhiệm vụ thường xuyên mà Quốc hội giao cho chúng ta.

Mặt khác, cần chú ý đến quan hệ phối hợp giữa công tác kiểm sát thi hành án hình sự với các công tác kiểm sát khác, chẳng hạn như công tác kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử… Có thể thông qua kiểm sát thi hành án hình sự phát hiện được vi phạm tố tụng ở giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử để kiến nghị khắc phục.

 Việc Lãnh đạo Viện quyết định chuyển toàn bộ nhiệm vụ kiểm sát thi hành án hình sự cho Vụ 4, các Phòng 4 đảm nhiệm là nhằm đảm bảo sự phù hợp trong phân công thực hiện nhiệm vụ trong ngành. Quyết định này nhận được sự tán đồng rất cao của Viện kiểm sát các cấp. Vì thế, chúng ta sẽ phải làm tốt hơn, hiệu quả hơn đối với công tác này.

2. Luật thi hành án dân sự năm 2008 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2009) có rất nhiều quy định mới bổ sung, thay đổi so với các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 trước đây. Do vậy, mặc dù, về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong thi hành án dân sự không có thay đổi lớn so với trước, nhưng mỗi cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác tác Kiểm sát thi hành án dân sự phải nắm vững các quy định của luật, đồng thời nắm vững chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát để thực hiện nhiệm vụ.

Viện kiểm sát các cấp phải quản lý và nắm chắc các bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực pháp luật, tăng cường việc xác minh và kiểm tra tính có căn cứ của việc phân loại việc thi hành án để từ đó yêu cầu Cơ quan thi hành án đưa ra thi hành án đối với các trường hợp có điều kiện thi hành. Phối hợp với Cơ quan thi hành án báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý dứt điểm những việc không có điều kiện thi hành án; rà soát những bản án, quyết định dân sự còn nhận thức khác nhau để kiến nghị biện pháp khắc phục.

Phải nghiên cứu kỹ hồ sơ thi hành án, chú trọng kiểm sát những việc phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế (kê biên, bán đấu giá tài sản…) vì đây là một trong những nguyên nhân gây khiếu nại, tố cáo nhiều nhất trong công tác thi hành án dân sự. Phối hợp chặt chẽ với Cơ quan thi hành án dân sự và các ngành liên quan giải quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự. Tăng cường việc yêu cầu cung cấp hồ sơ thi hành án để kiểm sát, trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ mà đánh giá toàn diện, khách quan việc thi hành án, trong trường hợp cần thiết thì tiến hành xác minh để có kết luận chính xác về vi phạm của Cơ quan thi hành án và Chấp hành viên. Phải nâng cao hơn nữa chất lượng các kháng nghị, kiến nghị, chú trọng các  kiến nghị tổng hợp đối với cơ quan quản lý thi hành án dân sự. Thường xuyên tổng kết công tác nghiệp vụ để thông báo toàn Ngành vận dụng.

Hiện nay, do tổ chức hệ thống cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự (đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát) có sự thay đổi lớn so với trước, nên ngành chúng ta cũng cần nghiên cứu để có biện pháp đổi mới tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác kiểm sát thi hành án dân sự để bảo đảm kiểm sát chặt chẽ. Trong thời gian tới, Vụ Tổ chức cán bộ và Vụ 10 cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan để tham mưu, đề xuất với Lãnh đạo Viện về vấn đề này. Trong quá trình nghiên cứu, cần chú ý đến vấn đề bảo đảm sự phù hợp với chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát thành bốn cấp theo tinh thần cải cách tư pháp.

Trên đây là một số nội dung chủ yếu, quan trọng liên quan đến chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong tình hình mới. Chúng ta cùng nghiên cứu, quán triệt và bàn biện pháp tổ chức thực  hiện./.

                         Nguồn: Kỷ yếu Hội nghị cán bộ ngành Kiểm sát năm 2011

 

 



[1] Kết luận của Đồng chí Viện trưởng tại Hội nghị triển khai công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2011: “Cần có cách nhìn toàn diện, đầy đủ về quan hệ giữa thực hành QCT với KSĐT; tăng cường hơn nữa vai trò chủ động của chúng ta trong quá trình điều tra…; Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra nghĩa là Viện kiểm sát phải “song hành” cùng với cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra, làm rõ tội phạm và người phạm tội; phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra để tìm giải pháp phát hiện, xử lý tội phạm khẩn trương nhất, đầy đủ nhất. Khi phát hiện thấy hạn chế, thiếu sót trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát phải coi đó cũng chính là hạn chế, thiếu sót của mình để cùng với cơ quan điều tra tìm biện pháp khắc phục… Chúng ta kiên quyết không phê chuẩn đối với những quyết định tố tụng vi phạm pháp luật hoặc không có căn cứ. Mục tiêu của hoạt động kiểm sát điều tra là nhằm hỗ trợ việc thực hành quyền công tố được tốt, bảo đảm việc truy tố có căn cứ và đúng pháp luật. Do vậy, yêu cầu của việc tăng cường trách nhiệm công tố đòi hỏi chúng ta cùng với cơ quan điều tra khắc phục những vi phạm, tồn tại trong quá trình điều tra, bảo đảm không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội…”.
 
 

[2] - Hiện nay, theo BLTTDS năm 2004, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa ở cấp sơ thẩm là 1.513 vụ/178.931 vụ được Tòa án đưa ra xét xử, chỉ chiếm 0,84%; ở cấp phúc thẩm là 7.966 vụ/64.847 vụ, chỉ chiếm 12% trên tổng số vụ án được Tòa án đã ra xét xử.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi

Các tin khác