Về các tội phạm ma túy (phần I)

1- Vụ án Nguyễn Thị Thắm phạm tội "Tàng chữ trái phép chất ma tuý"

Nguồn: Thông báo số 78/VKSTC-V3 ngày 18 tháng 8 năm 2004

1. Nội dung vụ án.

Ngày 20/7/2001 Công an thị xã T bắt quả tang trong người Lưu Hoàng Sơn có 1 tép Hêrôin có trọng lượng 0,059 gam Hêrôin; quá trình điêu tra xét hỏi Sơn khai mua của Nguyễn Thị Thắm. Cùng ngày Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nhà Thắm thu giữ 5 gói Hêrôin có trọng lượng 0,269 gam Hêrôin.

Tại kết luận giám định số 3353 ngày 18/12/2001 Viện khoa học hình sự cho biết 5 mẫu chất bột trắng là chế phẩm Hêrôin, hàm lượng Hêrôin 0,17%.

2. Quá trình tố tụng.

Vụ án được kết thúc, đưa ra truy tố xét xử và tại bản án hình sự số 01 ngày 09/01/2002 của Toà án nhân dân thị xã T áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thắm 48 tháng tù, phạt tiền 5.000.000 đồng về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Ngày 15/1/2002 bị cáo Nguyễn Thị Thắm làm đơn chống án kêu oan.

- Tại bản án hình sự phúc thẩm số 14 ngày 12/3/2002 của Toà án nhân dân tỉnh T áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị thắm 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Quá trình nghiên cứu vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, xét thấy phương pháp quy đổi ra trọng lượng Hêrôin của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh T là không có cân cứ khoa học. Do vậy, vụ án được kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Tại bản án hình sự giám đốc thẩm số 13 ngày 17/4/2003 của Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao tuyên huỷ quyết định hình phạt tù của án phúc thẩm nói trên đối với bị cáo Nguyễn Thị Thắm để giữ nguyên quyết định về hình phạt tù của bản án hình sự sơ thẩm số 01 ngày 09/01/2002 của Toà án nhân dân thị xã T.

3. Vấn đề cần rút kinh nghiệm.

+ Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào trọng lượng 0,269 gam Hêrôim để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thắm 48 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo. Song án phúc thẩm đã đưa ra cách tính lấy trọng lượng 0,269 gam nhân với hàm lượng Hêrôin 0,17/100 bằng 0,045 gam Hêrôin ( 0,269 gam x 0,17/100 = 0,045 gam Hêrôin).

Cách tính như trên của Toà phúc thẩm nổi lên một vấn đề là từ chỗ Nguyễn Thị Thắm tàng trữ 5 gói Hêrôin có trọng lượng 0,269 gam Hêrôin xuống chỉ còn 0,045 gam Hêrôin.

Và đi đến nhận định: "căn cứ hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01 thì một người có nhân thân bình thường không có tội khi tàng trữ lượng Hêrôin dưới 0,1 gam. Riêng Nguyễn Thị Thắm do có hơn án về tội phạm ma tuý thì vẫn coi là tội phạm. Tình tiết có 1 tiền án đã là yếu tố định khung hình phạt. Do vậy, không được coi là tình tiết tăng nặng nữa". Như vậy, bản án phúc thẩm có sự nhận định sai lầm về trọng lượng (số gam) Hêrôin của bị cáo Nguyễn Thị Thắm tàng trữ, dẫn đến vi phạm không áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thắm mà cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết này là tái phạm (theo quy định tại Thông tư số 01/1998/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BNV ngày 2/1/1998 và Nghị quyết số 01/2001/NQ HĐTP ngày 15/3/2001), chính không áp dụng tình tiết tái phạm của cáo Nguyễn Thị Thắm nên Toà phúc thẩm đã giảm hình phạt cho bị cái từ 48 tháng xuống 30 tháng tù là không có căn cứ.

+ Mặt khác, cần rút kinh nghiệm cách tính quy đổi từ trọng lượng Hêrôin ra hàm lượng Hêrôin của Hội đồng xét xử là hoàn toàn không có căn cứ bởi vì khi giám định 0,269 gam Hêrôin có hàm lượng Hêrôin là 0,17% có nghĩa là để biết được độ mạnh và tính chất nguy hiểm của hàm lượng có trong chất ma tuý khi đưa vào cơ thể con người. Hơn nữa, trong vụ án này về ý thức chủ quan của bị cáo Nguyễn Thị Thám là tàng trữ 5 gói Hêrôin có trọng lượng 0,269 gam Hêrôin chứ không phải là như Hội đồng xét xử nhận định bị cáo Nguyễn Thị Thắm chỉ tàng trữ 0,045 gam Hêrôin để làm căn cứ giảm án.

+Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên thực hành quyền công ta không có ý kiến gì về cách tính quy đổi trọng lượng Hêrôin của Hội đồng xét xử và cũng cho rằng bị cáo Nguyễn Thị Thắm tàng trữ với số lượng ít, án sơ thẩm tuyên phạt 48 tháng tù là quá nghiêm khắc, cần xem xét giảm án cho bị cáo Thắm.

Vụ án Nguyễn Thị Thắm phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được đưa ra xét xử ở cấp giám đốc thẩm năm 2003; nhưng xét thấy cần thiết thông báo rút kinh nghiệm để các đơn vị cùng nghiên cứu tránh áp dụng phương pháp tính toán nêu trên dẫn đến áp dụng pháp luật không đúng.

Ghi chú: Một số địa danh nơi xảy ra và giải quyết vụ việc đã được Ban biên tập thay đổi.

-------------------------------------------

2- Vụ án Trương Thị Thu Vân phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"

Nguồn: Thông báo số 114/TB-VKSTC-V3 ngày 19 tháng 05 năm 2010

Ngày 11-3-2010, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Trương Thị Thu Vân phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 3) xin thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu khi vận dụng pháp luật.

I. Nội dung vụ án:

Năm 1984 Trương Thị Thu Vân và Trần Văn Hiếu kết hôn sống tại căn nhà số 108 lô D chung cư C, phường C, quận D , thành phố H (nhà của mẹ Hiếu cho ở). Tháng 10 năm 1999, vợ chồng Vân-Hiếu chuyển sang căn nhà số 44 Đề Thám; căn nhà này do Hiếu đứng tên mua của bà Trần Thị Kim Hoa với tổng diện tích sử dụng là 203,32 m2. Đây là nơi gia đình Vân Hiếu sinh sống nhưng cũng là địa điểm giao dịch mua bán hêrôin.

Trương Thị Thu Vân bắt đầu mua bán hêrôin từ năm 1997 và là đầu mối tiêu thụ hêrôin cho Trần Huy Công, Trần Thị ánh Trâm và một số đối tượng khác. Đến ngày bị bắt (24-4-2004), Vân đã mua bán tổng cộng là 109 bánh và 31.5 lượng hêrôin tương đương 37,91kg, thu lợi bất chính là 32.700 USD và 5.500.000 đồng. Vân còn tôi kẻo cả chồng là Trần Văn Hiếu, con gái là Trương Thị Lan và người giúp việc gia đình là Huỳnh Thị Phượng cùng tham gia việc mua bán hêrôin. Trong đó, Trần Văn Hiếu đã nhiều lán chở Vân đi giao nhận hêrôin và thử hêrôin tại nhà, đồng phạm với Vân 2 bánh hêrôin, tương đương 673 gam.

II . Quá trình tố tụng:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 1862/2005/HSST ngày 30- 12-2005 Tòa án nhân dân thành phố H đã áp dụng điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, xừ phạt Trương Thị Thu Vân tử hình về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", phạt tiền 500.000.000 đồng. áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, tuyên tịch thu căn nhà số 44 Đề Thám, 6.740 USD, 11.000.000 đồng, điện thoại di động, một số nữ trang của Trương Thị Thu Vân và buộc Vân nộp số tiền thu lợi bất chính là 32.700 USD và 5.500.000 đồng để sung công qũy nhà nước; áp dụng điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn Hiếu 20 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", phạt tiền 500.000.000 đồng. áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, tịch thu của Trần Văn Hiếu 02 xe gắn máy xung công qũy Nhà nước.

Sau khi xét xử sơ thẩm cả Trương Thị Thu Vân và Trần Văn Hiếu đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin lại căn nhà số 44 Đề Thám.

Bản án hình sự phúc thẩm số 925/2006/HSPT ngày 03-7-2006 của Tòa phúc thẩm-Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với Trương Thị Thu Vân, Trần Văn Hiếu về hình phạt, tịch thu căn nhà số 44 Đề Thám.

Tại kháng nghị giám đốc thẩm số 05/QĐ-VKSTC-V3 ngày 27-3-2009, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ phần tuyên tịch thu căn nhà số 44 Đề Thám của bản án hình sự phúc thẩm số 925/2006/HSPT ngày 03-7-2006 của Tòa phúc thẩm-tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 06/2010/HS-GĐT ngày 11-3-2010, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị tuyên huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 925/2006/HSPT ngày 03-7-2006 của Tòa phúc thẩm-Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 1862/2005/HSST ngày 30-12-2005 Tòa án nhân dân thành phố H về phần quyết định tịch thu căn nhà số 44 Đề Thám, quận D, thành phố H của Trương Thị Thu Vân và Trần Văn Hiếu; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố H để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

III. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Suốt từ năm 1997 đến năm 2004, Trương Thị Thu Vân đã mua bán hêrôin trong thời gian dài với số lượng lớn, đặc biệt là Vân không chỉ thực hiện việc mua bán hêrôin ở trên đường phố, siêu thị . . .mà còn trực tiếp mua bán tại nơi ở là căn nhà số 44 Đề Thám. Mặt khác, Vân còn lôi kéo cả chồng là Trần Văn Hiếu, con gái là Trương Thị Lan và người giúp việc là Huỳnh Thị Phượng tham gia vào việc mua bán hêrôin. Các bị cáo sử dụng căn nhà số 44 Đề Thám này vào việc mua bán hêrôin. Nhưng thực tế cho thấy căn nhà số 44 Đề Thám không chỉ là nơi Trương Thị Thu Vân và đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội, mà còn là nơi Vân-Hiếu và con gái Trần Thị Thanh Tuyền sinh sống. Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật hình sự thì "Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sông ". Ngoài ra, ngày 27-11-2007 Trần Thị Thanh Tuyền đã nộp đủ tiền phạt, tiền thu lợi bất chính, án phí của Trương Thị Thu Vân, Trần Văn Hiếu và Trương Thị Lan, tổng cộng là 1.100.469.600 đồng tại Thi hành án dân sự thành phố H. Theo các tài liệu xác minh thể hiện chị Trần Thị Thanh Tuyền và hai cháu của Vân-Hiếu (con của Trương Thị Lan) chỉ có nơi ở duy nhất tại căn nhà số 44 Đề Thám và chị Tuyền hiện vẫn có hộ khẩu tại căn nhà này. Việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định tịch thu toàn bộ căn nhà số 44 Đề Thám là chưa đủ căn cứ vì trong trường hợp này cần phải xác minh làm rõ diện tích, cấu trúc thực tế căn nhà và xác minh những phần nào của căn nhà chỉ được các bị cáo sử dụng dùng vào mục đích phạm tội; nhu cầu nhà ở của những người còn lại trong gia đình để có căn cứ quyết định tịch thu một phần tương ứng của căn nhà này theo đúng với quy định tại Điều 40 Bộ luật hình sự. Có như vậy mới đảm bảo tính khách quan của vụ án.

Thông qua việc giải quyết vụ án này, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thấy cần thiết thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án, khi vận dụng điều luật của Bộ luật hình sự, nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự.

Ghi chú: Một số địa danh nơi xảy ra và giải quyết vụ việc đã được Ban biên tập thay đổi.

-------------------------------------

3-Vụ án Tráng A Sái và đồng bọn phạm tội "Mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy"

Nguồn: Thông báo số 367/TB-VKSTC-V3 ngày 12 tháng 11 năm 2007.

Ngày 01/10/2007, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vụ án Tráng A Sái và đồng bọn phạm tội "Mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy" xảy ra ở tỉnh S. Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, chúng tôi thấy cần thiết phải rút kinh nghiệm loại vi phạm này vì thường xảy ra ở một số địa phương.

I. Nội dung vụ án và quá trình giải quyết.

Hồi 16h ngày 17/8/2005 tại khu vực bản P, xã L, huyện M, tỉnh S, Tổ công tác của Đồn biên phòng 469 thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh S phối hợp với Ban Công an xã L bắt quả tang Mùa A Đua và Tráng A Sái đang vận chuyển trái phép chất ma tuý. Qua khám xét đã thu giữ trong người Đua 04 bánh Hêrôin (tương đương 1.407,24 gam), 01 quả lựu đạn; thu giữ trong người Sái 02 bánh Hêrôin (tương đương 659,01 gam) và 190 viên ma tuý tổng hợp (có tổng trọng lượng 17,12 gam).

Quá trình điều tra, Đua và Sái khai: 06 bánh Hêrôin, 190 viên ma tuý tổng hợp bị thu giữ nêu trên là của Tráng A Lù (anh trai Sái) mua từ bên Lào về, thuê Sái và Đua mang giao cho Phạm Xuân Mộc ở bản N, xã MS, huyện M, tỉnh S; quả lựu đạn là do Lù đưa cho Sái và Đua giữ để sử dụng. Ngoài ra, Đua và Sái còn khai nhận: vào đầu tháng 8/2005, Tráng A Lù thuê Mùa A Đua và Tráng A Sái mang 02 bánh Hêrôin (tương đương 700 gam) giao cho Phạm Xuân Mộc. Do Đua mệt không đi được nên Mùa A Lù (anh trai Đua) đã đi cùng Sái. Mùa A Lù và Tráng A Sái đến nhà Mộc, nhưng Mộc không có nhà nên đã đưa 02 bánh Hêrôin cho con gái của Mộc tên là Phạm Thị Minh Hạnh (sinh năm 1992) cất giữ và ngồi đợi Mộc. Đến khoảng 22h thì vợ chồng Mộc vê. Sái nói với Mộc "em đã đưa hàng cho cháu cất đi rồi", Mộc nói "ừ", sau đó Sái và Mùa A Lù đi về nhà Tráng A Lù.

Đối với Phạm Xuân Mộc: vào hồi 14h30 ngày 20/02/2006, Công an huyện M bắt quả tang Phạm Xuân Mộc đang tàng trữ trái phép 0, 19 gam Hêrôin trong túi áo. Mộc khai số ma tuý này Mộc mua của một người đàn ông (không biết tên và địa chỉ) để sử dụng.

Tráng A Lù bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã có quyết định truy nã và tách vụ án hình sự đối với Tráng A Lù để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 1338/AN-MT ngày 02/10/2006, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh S truy tố:

- Tráng A sái và Mùa A Đua về tội "Vận chuyển trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 4 Điều 194 và tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng" theo khoản 1 Điều 230 Bộ luật hình sự;

- Mùa A Lù về tội "Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự;

- Phạm Xuân Mộc về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 4 và tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2006/HSST ngày 26/10/2006, Toà án nhân dân tỉnh S quyết định:

- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; khoản 1 Điều 230; các điểm p và q khoản 1 Điều 46; Điều 50 và áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Mùa A Đua tử hình, Tráng A Sái tử hình, đều về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy", phạt mỗi bị cáo 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng"; tổng hợp hình phạt buộc Tráng A Sái và Mùa A Đua đều phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là tử hình.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; các điểm p và q khoản 1 Điều 46; Điều 53 Bộ luật hình sự xử phạt Mùa A Lù 20 năm tù về tội "Vận chuyển trái phép chất ma tuý".

- Áp dụng điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Xuân Mộc 10 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và phạt tiền 5.000.000đ; tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc để tiếp tục điều tra khi có đủ căn cứ xử lý sau . . .

Sau khi xét xử sơ thẩm, ác bị cáo Đua, Sái kháng cáo xin giảm hình phạt về tội "Vận chuyển trái phép chất ma tuý".

Tại Kháng nghị số 1544/VKS-P2 ngày 10/11/2006 , Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh S đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về phần tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc để xét xử sơ thẩm lại theo hướng kết án Phạm Xuân Mộc về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" và tổng hợp hình phạt bổ sung (phạt tiền nhưng chưa tổng hợp) tại bản án hình sự sơ thẩm số 32 ngày 18/3/1998 của Toà án nhân dân tỉnh S đã phạt Phạm Xuân Mộc.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 102/2007/HSPT ngày 05/2/2007, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội giữ nguyên quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đối với Tráng A Sái và Mùa A Đua; huỷ quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 19/2006/HSST ngày 26/10/2006 của Toà án nhân dân tỉnh S về phần tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc để điều tra lại theo thủ tục chung. Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định việc tổng hợp hình phạt tiền đối với Phạm Xuân Mộc.

Quyết định giám đốc thẩm số 27/2007/HS-GĐT ngày 01/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 18/HS-TK ngày 16/7/2007 của Toà án nhân dân tối cao.

II. Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Vấn đề cần rút kinh nghiệm trong vụ án này là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh S đã truy tố Phạm Xuân Mộc có hành vi mua 2 bánh Hêrôin nhưng Toà án cấp sơ thẩm cho rằng chưa đủ căn cứ kết tội Mộc mua 2 bánh Hêrôin nên tách hành vi này để tiếp tục điều tra khi có đủ căn cứ xử lý sau. Việc Toà án cấp sơ thẩm tách hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử là vi phạm nghiêm trọng giới hạn của việc xét xử theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự. Nếu ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát truy tố nhưng Toà án thấy chưa đủ căn cứ kết tội thì trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình xét xử, nếu hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ thì kết tội bị cáo, còn không đủ căn cứ buộc tội bị cáo thì tuyên bố bị cáo không phạm tội và phải nêu rõ lý do trong bản án.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh S đã kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm về việc tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc. Toà án cấp phúc thẩm nhận định nội dung kháng nghị là có cơ sở nhưng vẫn tiếp tục tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc để điều tra khi có căn cứ sẽ xử lý sau (vẫn giữ nội dung vi phạm của án sơ thẩm) và giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm là vi phạm thủ tục tố tụng. Bởi vì, trường hợp Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và có căn cứ kết tội Mộc thì Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với Hội đồng xét xử mới theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự; nếu xét thấy việc điều tra chưa đầy đủ thì phải huỷ án sơ thẩm để điều tra lại.

Ngoài ra trong quá trình điều tra nhiều lời khai còn mâu thuẫn nhưng chưa được cơ quan điều tra tiến hành đối chất theo quy định tại Điều 138 Bộ luật tố tụng hình sự; chưa làm rõ từng hành vi của Sái và Lù trong quá trình vận chuyển và giao Hêrôin cho Mộc.

Qua vụ án trên cho thấy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh S đã nắm vững quy định của pháp luật và đã làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm đã ban hành kháng nghị phúc thẩm nhằm khắc phục những vi phạm của Toà án cấp sơ thẩm.

Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự xin thông báo rút kinh nghiệm đối với những vi phạm pháp luật trên thường xảy ra trong quá trình giải quyết án để các đồng chí tham khảo./.

Ghi chú: Một số địa danh nơi xảy ra và giải quyết vụ việc đã được Ban biên tập thay đổi.

-------------------------------------

4-Vụ án Đào Trọng Hiển phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" tại thành phố H

Nguồn: Thông báo số 143/TB-VKSTC-V3 ngày 05 tháng 05 năm 2008

I. Nội dung vụ án và quá trình giải quyết.

Khoảng 0h30 ngày 20/2/2007, Công an quận L, thành phố H bắt quả tang Đào Trọng Hiển có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý tại khu vực bờ đê phường N. Khi bắt giữ, Công an thu được trong người Hiển có 2 túi đựng13 gói nhỏ chứa Hêrôin có trọng lượng 0,268 gam, 01 điện thoại di động và 40.000 đồng. Đào Trọng Hiển khai nhận vừa bán cho một đối tượng nghiện ma tuý 2 gói loại 20.000đ/gói thì bị bắt, số Hêrôin thu giữ trong người Hiển là của Nguyễn Công Tuấn (không rõ địa chỉ) thuê bán và Hiển đã bán thuê cho Tuấn từ ngày 15/2/2007 cho đến lúc bị bắt vào ngày 20/2/2007, mỗi ngày Tuấn đưa cho Hiển 15 gói Hêrôin để bán cho người nghiện (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) và Tuấn trả công là 50.000đ/1ngày. Mỗi ngày Hiển thu được từ 400.000đ đến 450.000đ tiền bán Hêrôin. Theo lời khai, Cơ quan điều tra cho Đào Trọng Hiển nhận dạng Nguyễn Công Tuấn, trú tại số 14 Phạm Từ Nghi, phường N, quận L, thành phố H. Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Công Tuấn không thu được vật chứng có liên quan đến vụ án; cho đối chất với Đào Trọng Hiển, Nguyên Công Tuấn không thừa nhận việc thuê Hiển bán Hêrôin.

Tại Cáo trạng số 134/KSĐT ngày 16/5/2007, Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố H truy tố Đào Trọng Hiển về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 118/2007/HSST ngày 05/6/2007, Toà án nhân dân quận L, thành phố H áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý nhiều lần); các điểm (l và p khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 1 96 Bộ luật tố tụng hình sự), xử phạt Đào Trọng hiển 5 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý phạt Hiển 5.000.000đ để sung quỹ Nhà nước. Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về tang vật, án phí và tuyên bố quyền kháng cáo.

Ngày 19/6/2007, Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố H có quyết định kháng nghị số 01/KNPT-HS và ngày 25/6/2007, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có Quyết định kháng nghị số 10/KNPT -HS đối với bản án hình sự sơ thẩm số 118/2007/HSST nêu trên và đề nghị Toà án nhân dân thành phố là xét xử phúc thẩm Đào Trọng Hiển theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tai bản án hình sự phúc thẩm số 111/2007/HSPT ngày 15/8/2007, Toà án nhân dân thành phố H không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H và giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 118/2007/HSST nêu trên đối với Đào Trọng Hiển.

Trên cơ sở xem xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H và kết quả nghiên cứu hồ sơ, tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 29/QĐ-VKSTC-V3 ngày 24/10/2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đối với bản án hình sự phúc thẩm số 111/2007/HSPT ngày 15/8/2007 của Toà án nhân dân thành phố H về phần áp dụng pháp luật đối với Đào Trọng Hiển; đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 111/2007/HSPT nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 118/2007/HSST của Toà án nhân dân quận L, thành phố H để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 01/2008/HS-GĐT ngày 12/3/2008, Hội đồng giám đốc thẩm Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 111/2007/HSPT ngày 15/8/2007 của Toà án nhân dân thành phố H và bản án hình sự sơ thẩm số 118/2007/HSST ngày 05/6/2007 của Toà án nhân dân quận L, thành phố H để điều tra lại.

II. Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm.

Trong vụ án này, phải khẳng định rằng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm thành phố H đã xét xử Đào Trọng Hiển về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" là đúng người, đúng tội. Mức hình phạt 5 năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã quyết định đối với Đào Trọng Hiển là không nặng.

Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự (phạm tội nhiều lần) để quyết định hình phạt đối với Đào Trọng Hiển là vi phạm nghiêm trọng Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về giới hạn của việc xét xử, đó là "Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử". Vì: Đào Trọng Hiển chỉ bị Viện kiểm sát nhân dân quận L truy tố đối với hành vi "Mua bán trái phép chất ma tuý" bị bắt quả tang hồi 0h30 ngày 20/2/2007 theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự chứ Hiển không bị truy tố về cả những hành vi mua bán ma tuý trước đó như Hiển khai nhận; Toà án cáp sơ thẩm cũng quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với Đào, Trọng Hiển theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố. Tuy Đào Trọng Hiển khai nhận có bán Hêrôin cho Nguyên Công Tuấn từ ngày 15/02/2007 đến ngày bị bắt (ngày 20/2/2007) nhưng kết quả điều tra không dự cơ sở chứng minh lời khai của Đào Trọng Hiển, nên Cơ quan điều tra không khởi tố đối với Nguyễn Công Tuấn; và như vậy: cũng không có cơ sở kết luận Đào Trọng Hiển đã nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý.

Thông qua kết quả xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vụ án trên, vấn để đặt ra cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử là: Ngoài việc nghiên cứu, nắm vững tài liệu, chứng cứ và các tình tiết của vụ án để chuẩn bị tốt cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử lại phiên toà, Kiểm sát viên cần chú ý nắm rõ giới hạn của việc truy tố và xét xử, trên cơ sở hiểu rõ nội dung, bản chất những quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự để kiểm sát bản án xem quyết định áp dụng pháp luật của bản án có vi phạm giới hạn xét xử theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự hay không. Nếu có vi phạm thì kiên quyết kháng nghị, khi không được chấp nhận thì đề nghị cấp trên xem xét tiếp như Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã làm.

Trên đây là vụ án hình sự đã được xét xử theo thủ lục giám đốc thẩm do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị. Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thông báo để Viện kiểm sát nhân dân các địa phương biết, nghiên cứu rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao trách nhiệm và chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự trong tình hình mới./.

Ghi chú: Một số địa danh nơi xảy ra và giải quyết vụ việc đã được Ban biên tập thay đổi.

----------------------------------------

5- Vụ án Kim Văn A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Nguồn: Thông báo số 279/TB-VKSTC-V3 ngày 14 tháng 9 năm 2009

Ngày 26/11/2008 Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục tái thẩm vụ án Kim Văn A trú tại thôn 4, xã H, thành phố B, tỉnh D về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”. Qua vụ án có những vấn đề cần rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự.

I. Nội dung vụ án và quá trình tố tụng.

1. Nội dung vụ án:

Kim Văn A là đối tượng nghiện ma tuý. Tháng 6/2005, A nảy sinh ý định mua Hêrôin về sử dụng và bán kiếm lời; nên A đã xuống huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai nhờ một đối tượng tên là Sơn (chưa rõ lai lịch) mua một cục Hêrôin với giá 7.000.000đ (bảy triệu) đồng về chia nhỏ ra để bán và sử dụng. Đến ngày 30/8/2005 A lại xuống huyện Chư Sê nhờ Sơn mua tiếp 4.000.000đ (bốn triệu) đồng Hêrôin được 30 cục lớn, nhỏ và mang về phòng số 5 nhà nghỉ 87 đường Nguyễn Đức Cảnh, phường Thắng Lợi, thành phố B, nơi A thuê để ở trọ cùng với Hoàng Thị N. Ngày 30/8/2005 Công an thành phố B bắt quả tang 04 đối tượng là Kim Văn A, Hoàng Thị N, Hoàng Ngọc T (là em trai của N), bà Nguyễn Thị C (là mẹ của N) tại phòng trọ số 5 nhà nghỉ 87 nêu trên; thu giữ 30 cục lớn, nhỏ chất bột màu trắng, 02 điện thoại di động, 01 xe máy hon đa, 800.000đ. Lưu giữ 4 người là: Kim Văn A Hoàng Thị N, Nguyễn Thị C và Hoàng Ngọc T; đồng thời quản lý số tiền 17.000.000 VNĐ, 04 miếng kim loại vàng (giám định là 4 lượng vàng), 1 sợi dây chuyền vàng, 1 nhẫn vàng. Khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Lê Văn N chỉ đạo Điều tra viên Bùi Vũ T không đưa số tiền, vàng nói trên vào biên bản thu giữ mà gom tất cả vào một túi sách, đưa về Công an thành phố B. Theo kết luận giám định số 3505/C21B ngày 13/10/2005 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận 30 cục chất màu trắng đã thu giữ là Hêrôin, trọng lượng 9,3706 gam.

2. Quá trình tố tụng:

Cáo trạng số 40/KSĐT-MT ngày 08/2/2006 Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Kim Văn A về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/HSST ngày 09/3/2006 của Toà án nhân dân thành phố B áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Kim Văn A 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” và phạt 05 triệu đồng sung công quỹ Nhà nước.

Ngày 19/3/2006 Kim Văn A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 101/HSPT ngày 29/5/2006 của Toà án nhân dân tỉnh D đã giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với Kim Văn A.

Ngày 16/11/2007 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh A có công văn số 2446/VKS-P3 đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục tái thẩm vụ án Kim Văn A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” với lý do: quyết định tách vụ án hình sự, bản kết luận điều tra vụ án và một số tài liệu trong vụ án bị giả mạo chữ ký thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an thành phố B.

Ngày 17/4/2008 Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có công văn số 107/CQĐT đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục tái thẩm vụ án Kim Văn A phạm tội "mua bán trái phép chất ma tuý” với lý do: Quá trình điều tra, Đội trưởng Lê Văn N phân công Điều tra viên Bùi Vũ T điều tra vụ án, có những vi phạm pháp luật; bắt giữ các đối tượng, có thu giữ tiền vàng nhưng không lập biên bản. Song đến ngày 31/8/2005 Bùi Vũ T đã lập biên bản xử lý trả lại cho Hoàng Thị N, Nguyễn Thị C và Hoàng Ngọc T số tiền vàng trên.

Trong quá trình điều tra vụ án Kim Văn A phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý; Điều tra viên Bùi Vũ T đã ký giả chữ ký của ông Nguyễn Văn C, Trưởng Công an thành phố B, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra tại các văn bản:

- Bản kết luận điều tra vụ án số 27 ngày 27/12/2005.

- Quyết định tách vụ án hình sự số 10 ngày 25/12/2005.

- 05 quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với Hoàng Thị N, Nguyễn Đăng Hạ Long, Nguyễn Đăng Hải Long và Kim Văn A.

Hành vi phạm tội của T có dấu hiệu của tội "làm sai lệch hồ sơ vụ án”.

Tại quyết định kháng nghị tái thẩm số 05/QĐ - VKSTC- V3 ngày 08/10/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục tái thẩm huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 38 ngày 09/3/2006 của Toà án nhân dân thành phố B và bản án hình sự phúc thẩm số 101/HSPT ngày 29/5/2006 của Toà án nhân dân tỉnh D để giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

- Tại quyết định tái thẩm số 26/2008/HSTT ngày 26/11/2008 của Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao quyết định huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 101/HSPT ngày 29/5/2006 của Toà án nhân dân tỉnh D và bản án hình sự sơ thẩm số 38 ngày 09/3/2006 của Toà án nhân dân thành phố B để điều tra lại.

II. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Việc thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tiến hành các biện pháp tư pháp, khám xét, thu giữ, tạm giam, tạm giữ ra các quyết định xử phạt hành chính không triệt để. Từ đó xử lý hành chính không đúng và bỏ lọt tội phạm.

Vụ án có nhiều đối tượng phạm tội: Kim Văn A và Hoàng Thị N phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm vì đã có tiền án về tội "Mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý” đã lôi kéo một số đối tượng nghiện hút: Nguyễn Đăng Hạ Long, Nguyễn Đăng Hải Long, Hoàng Ngọc T và một đối tượng tên là Sơn ở huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai tham gia mua bán Hêrôin cho Kim Văn A. Nhưng quá trình điều tra đội trưởng Lê Văn N phân công 1 điều tra viên Bùi Vũ T điều tra vụ án; sau đó chỉ đạo cho T không đưa số tiền, vàng thu giữ tại phòng trọ số 5 vào biên bản phạm pháp quả tang để cho điều tra viên tự ý trả lại tài sản cho các đối tượng.

Nguyên nhân dẫn đến sai phạm là: do buông lỏng quản lý hoạt động điều tra của điều tra viên về nghiệp vụ, không thực hiện theo quy chế hoạt động điều tra, dẫn đến việc đội trưởng điều tra phó thác cho điều tra viên, không thực hiện đúng quy định của Bộ luật hình sự và tố tụng hình sự, tách vụ án và ra các quyết định xử lý hành chính trái pháp luật. Nghiêm trọng hơn là Điều tra viên đã lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý cán bộ và nghiệp vụ của lãnh đạo đội điều tra nên đã giả mạo chữ ký của thủ trưởng Cơ quan điều tra để ra các quyết định tách vụ án, kết luận điều tra vụ án và các quyết định xử phạt hành chính. Tất cả những thiếu sót, vi phạm nêu trên không được Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra phát hiện, kiến nghị khắc phục.

Quá trình thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án này, các Kiểm sát viên cũng không phát hiện thấy thiếu sót của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Việc Cơ quan điều tra tách hồ sơ vụ án và quyết định xử phạt hành chính không đúng với quy định của pháp luật dẫn đến bỏ lọt tội phạm cũng không được phát hiện. Các đối tượng phạm tội được xử phạt hành chính sống ngang nhiên ngoài xã hội và chỉ khi được quần chúng phát giác mới tìm ra vi phạm pháp luật của Điều tra viên Bùi Vũ T là làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Trên đây là những vấn đề cần được rút kinh nghiệm cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Kiểm sát viên các cấp. Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thông báo để các đơn vị nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong điều tra, truy tố và xét xử hình sự./.

Ghi chú: Một số địa danh nơi xảy ra và giải quyết vụ việc đã được Ban biên tập thay đổi.


6 - Vụ án Lưu Hồng Thịnh phạm tội vận chuyển trái phép chất  ma tuý

 

1- Nội dung vụ án và quá trình giải quyết

 

Hồi 7h sáng ngày 14/7/2003 Công an tỉnh L. đã bắt giữ Lưu Hồng Thịnh đang vận chuyển trái phép chất ma tuý, tang vật thu giữ là 01 gùi tre bên trong đựng 12,854 ml dung dịch màu vàng, 01 áo khoác, 01 sổ ghi số điện thoại chữ Trung Quốc, 01 giấy chứng minh nhân dân có dán ảnh của Thịnh và 01 giấy thông hành mang tên Thịnh do Trung Quốc cấp. Tại bản giám định số 2060 ngày 18/7/2003 Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận dung dịch thu giữ được nêu trên là dung dịch Diazepam nằm trong danh mục các chất ma tuý.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/HSST ngày 12/7/2004 TAND tỉnh L. áp dụng điểm g khoản 4 Điều 194 BLHS xử phạt Thịnh tử hình về tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý".

 

Ngày 18/7/2004 Thịnh kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

 

Bản án hình sự phúc thẩm số 1734/HSPT ngày 25/10/2004 của Toà phúc thẩm TANDTC giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Thịnh.

 

Tại quyết định giám đốc thẩm số 11/2005/HĐTP-HS ngày 24/6/2005, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã quyết định: Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 1734/HSPT ngày 25/10/2004 của Toà phúc thẩm TANDTC và bản án hình sự sơ thẩm số 50/HSST ngày 12/7/2004 của TAND tỉnh L. đối với Thịnh để điều tra lại theo thủ tục chung.

 

2- Những kinh nghiệm rút ra từ vụ án.

 

Theo biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang thì Thịnh bị bắt khi đang cầm giấu một gùi tre vào bờ rào. Tuy nhiên, những người làm chứng trực tiếp bắt giữ có nhiều lời khai khác nhau về việc bắt giữ Thịnh. Ngay lời khai của người làm chứng là anh Trần Văn Vang cũng khác nhau. Anh Vang khai: Thịnh bị bắt khi từ trong bụi rậm đi ra, trên tay cầm một chiếc gùi. Sau đó lại khai: trước đó không nhìn rõ Thịnh có đeo gùi hay không. Sau khi bắt được Thịnh rồi anh Vang mới đến và nhìn thấy chiếc gùi đựng ma tuý ở bên cạnh Thịnh. Việc bắt giữ Thịnhcó cả cán bộ VKS chứng kiến. Việc lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang lại có xác nhận của anh Lê Thanh Bìnhlà người chứng kiến và có lời khai về việc thấy Thịnh chui qua hàng rào, sau đó thò tay qua hàng rào kéo một gùi tre đưa lên vai thì bị bắt giữ.  Bình có nhiều lời khai mâu thuẫn nhau.

 

Tại biên bản bắt giữ Thịnh và những người chứng kiến không có lời khai về việc thu giữ giấy thông hành và chứng minh thư nhân dân của Thịnh. Sau này lại có lời khai về việc thu giữ số giấy tờ này, nhưng những lời khai này lại không thống nhất về nơi thu giữ số giấy tờ đó.

 

Ngày tháng năm sinh của Thịnh cũng không thống nhất. Theo lý lịch, bản dịch giấy tờ tùy thân xác định Thịnh sinh ngày 30/2/1967; theo tài liệu do Công an Trung Quốc cung cấp thì Thịnh sinh tháng 10/1967; Cáo trạng và bản án sơ thẩm, phúc thẩm chỉ ghi Thịnh sinh năm 1967. Trong khi đó tại các lời khai của Thịnh nhiều lần khai sinh ngày 30/2/1967. Ngoài ra, lý lịch của Thịnh ghi tên mẹ là Trần Hưng Tuấn,TA cấp sơ thẩm, phúc thẩm lại xác định là Trần Hưng Chân.

 

Tại Cơ quan điều tra, Thịnh chỉ có 2 lời khai nhận tội, các lời khai còn lại và tại phúc thẩm Thịnh đều kêu oan với lý do ngày 13/7/2003 Thịnhtừ Trung Quốc sang Việt Nam đến nhà Lục Chính Thăng chơi, buổi tối Thịnh cùng anh Thăng lên Công an đăng ký tạm trú rồi về nhà anh Thăng ngủ. Sáng 14/7/2003 khi gia đình anh Thăngmua bún về để ăn sáng, Thịnh ra sau nhà hái rau thơm, khi đang hỏi rau thì bị Công an ập tới bắt, thu giữ giấy tờ tuỳ thân trong túi áo ngực rồi dẫn đến chỗ gùi tre bỏ giấy tờ tuỳ thân vào gùi bắt Thịnh phải nhận. Thịnhcòn nói quá trình lấy lời khai Thịnh không được nghe phiên dịch lại. Trong hồ sơ thể hiện cơ quan điều tra chỉ lấy lời khai anh Thăng mà không lấy lời khai của vợ và con anh Thăng để xác định lời khai của Thịnh có trung thực hay không. Khi lấy lời khai của Thịnh tại Công an huyện, người phiên dịch cũng là người trực tiếp bắt giữ Thịnh là không đảm bảo tính khách quan trong việc điều tra vụ án.

 

Trong vụ án này Thịnh bị kết án với mức hình phạt cao nhất, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng thiếu thận trọng, quá tin vào biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, thoả mãn với lời khai nhận tội của bị cáo mà không phát hiện kịp thời những mâu thuẫn giữa lời khai bị cáo, lời khai nhân chứng, thu thập vật chứng, những vấn đề về nhân thân bị cáo... dẫn đến cấp Giám đốc phải hủy cả 2 bản án để điều tra lại.

Nguồn: Sổ tay Kiểm sát viên hình sự tập 2


7 - Vụ án Mựa A Xua phạm tội tàng trữ trái chính chất ma tuý

1- Nội dung vụ án và quá trình giải quyết

Hồi 16h ngày 17/8/2005 Tổ công tác của Đồn biên phòng thuộc Bộ Chỉ huy Bộ  đội Biên phòng tỉnh S. phối hợp với Ban Công an xã L. bắt quả tang Mựa A Xua và Tráng A Sái đang vận chuyển trái phép chất ma tuý. Qua khám xét đã thu giữ trong người Xua 04 bánh Hêrôin (tương đương 659,01 gam) và 190 viên ma tuý tổng hợp (có tổng trọng lượng 17,12 gam).

Quá trình điều tra, Xua Sái khai: 06 bánh Hêrôin, 190 viên ma tuý tổng hợp bị thu giữ nêu trên là của Táng A (anh trai Sái) mua từ bên Lào về, thuê Sái Xua giao cho Lộcở tỉnh S.

Ngoài ra, XuaSái còn khai nhận: vào đầu tháng 8/2005, thuê XuaSái mang 02 bánh Hêrôin (tương đương 700 gam)  giao cho lộc. Do Xua mệt không đi được nên (anh trai Xua) đó đi cùng Sái. Sáiđến nhà Lộc, nhưng Lộc không có nhà nên đã đưa 02 bánh Hêrôin cho con gái của LộcHạnh (sinh năm 1992) cất giữ và ngồi đợi Lộc. Đến khoảng 22h thì vợ chồng Lộc về. Sái nói với Lộc "em đưa hàng cho cháu cất đi rồi”, Lộc nói "ừ”, sau đó Sái và Mùa A đi về nhà .

Đối với Lộc: vào hồi 14h30’ ngày 20/02/2006, Công an huyện M. bắt quả tang Lộc đang tàng trữ trái phép 0,19 gam Hêrôin trong túi áo. Lộc  khai số ma tuý  này Lộc mua của một người đàn ông (không biết tên và địa chỉ) để sử dụng.

Tại Cáo trạng số 1338/AN-MT ngày 02/10/2006, VKSND tỉnh S. truy tố Lộc về tội "mua bán trái chính chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 Điều 195 BLHS.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2006/HSST ngày 26/10/2006, TAND tỉnh S. áp dụng điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 194 BLHS xử phạt Lộc10 năm tù về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý” và  phạt tiền 5.000.000 đ; tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Lộc để tiếp tục điều tra khi có đủ căn cứ xử lý sau...

(TA xử phạt bị cáo Sái, Xua, Lù về tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý”).

Tại Kháng nghị số 1544/VKS-P2 ngày 10/11/2006, Viện trưởng VKSND tỉnh S. đề nghị TA cấp phúc thẩm huỷ quyết định của TA cấp sơ thẩm về phần tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của  Lộc để xét xử sơ thẩm lại theo hướng kết án Lộc về tội "mua bán trái phép chất ma tuý” và tổng hợp hình phạt bổ sung (phạt tiền nhưng chưa tổng hợp) tại bản án hình sự sơ thẩm số 32 ngày 18/3/1998 của TAND tỉnh S. đó phạt Lộc.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 102/2007/HSPT ngày 05/2/2007, Toà phúc thẩm TANDTC quyết định hủy quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 19/2006/HSST ngày 26/10/2006 của TAND tỉnh S. về phần tách hành vi mua bán trái chính chất ma tuý của Lộc để điều tra lại theo thủ tục chung. Ngoài ra, TA cấp phúc thẩm còn quyết định việc tổng hợp hình phạt tiền đối với Lộc.

Quyết định giám đốc thẩm số 27/2007/HS-GĐT ngày 01/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC: Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 102/2007/HSPT ngày 05/2/2007 của Toà phúc thẩm TANDTC và bản án hình sự sơ thẩm số 19/2006/HSST ngày 26/10/2006 của TAND tỉnh S. để điều tra lại.

2- Những kinh nghiệm rút ra từ vụ án

VKSND truy tố Lộc về hành vi mua bán 2 bánh Hêrôin và hành vi tàng trữ trái phép 0,19 gam Hêrôin. TA cấp sơ thẩm cho rằng chưa đủ căn cứ kết luận Lộc mua 2 bánh Hêrôin nên tách hành vi này để điều tra khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau (thực chất là để điều tra lại). Việc TA cấp sơ thẩm tách hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và TA đã quyết định đưa ra xét xử là vi phạm nghiêm trọng giới hạn xét xử được quy định tại Điều 196 BLTTHS.

Nhận thấy bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. VKSND tỉnh S. đã kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm về việc tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Lộc. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 250 BLTTHS, khi xét xử phúc thẩm TA cấp phúc thẩm phải huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, trong vụ án này chứng cứ chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma tuý củaLộc còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ và chưa đầy đủ. Lẽ ra, TA cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, nhưng TA cấp phúc thẩm lại huỷ phần quyết định tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Lộc để điều tra lại theo thủ tục chung là sai lầm và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Nguồn: Sổ tay Kiểm sát viên hình sự tập 2

 

8 - Vụ án Đào Trọng Triển bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma tuý

1- Nội dung vụ án và quá trình giải quyết

Khoảng 0h30’ ngày 20/2/2007, Công an quận L, thành phố H bắt quả tang Đào Trọng Triển có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý tại khu vực bờ đê Phường N. Khi bắt giữ, Công an thu được trong người Triển 2 túi nilông đựng 13 gói nhỏ chứa Hêrôin có trọng lượng 0,268 gam, 01 điện thoại di động và  40.000đ. Triển khai nhận vừa bán cho một đối tượng nghiện ma tuý 2 gói loại 20.000 đ/gói thì bị bắt, số Herôin thu giữ trong ngườiTriển là của Nguyễn Công Tuấn (không rõ địa chỉ) thuê bán và Triểnđã bán thuê cho Tuấn từ ngày 15/2/2007 cho đến lúc bị bắt vào ngày 20/2/2007, mỗi ngày tuấn đưa cho Triển tiền công là 50.000 đ/ngày. Mỗi ngày Triển thu được từ 400.000đ đến 450.000đ tiền bán Hêrôin. Theo lời khai, Cơ quan điều tra cho Triển nhận dạng Tuấn và tiến hành khám xét nơi ở của Tuấn nhưng không thu được vật chứng có liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra cho Triển đối chất với Tuấn không thừa nhận việc thuê Triển bán Hêrôin.

Cáo trạng số 134/KSĐT ngày 16/5/2007, VKSND quận L, thành phố H truy tố Đào Trọng Triển về tội "mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 BLHS.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 118/2007/HSST ngày 05/6/2007, TAND quận L áp dụng điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 194; các điểm o và p khoản 1 Điều 46; 47 và Điều 196 BLHS xử phạt Triển 5 năm tù về tội "mua bán trái phép chất ma tuý”.

Ngày 19/6/2007 VKSND quận L, thành phố H có quyết định kháng nghị số 01/KNPT-HS  và ngày 25/6/2007 VKSND thành phố H. có Quyết định kháng nghị số 10/KNPT-HS đối với bản án hình sự sơ thẩm số 118/2007/HSST nêu trên và đề nghị TAND thành phố H. xét xử phúc thẩm Triển theo khoản 1 Điều 194 BLHS.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 111/2007/HSPT ngày 15/8/2007, TAND thành phố H giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 118/2007/HSST đối với Triển.

Trên cơ sở kháng nghị của VKSNDTC, tại Quyết định giám đốc thẩm số 01/2008/HS-GĐT ngày 12/3/2008, Hội đồng giám đốc thẩm Toà hình sự TANDTC hủy bản án hình sự phúc thẩm số 111/2007/HSST ngày 15/8/2007 của TAND thành phố H và bản án hình sự sơ thẩm số 118/2007/HSST ngày 05/6/2007 của TAND quận L, thành phố H để điều tra lại.

2- Những kinh nghiệm rút ra từ vụ án

Trong vụ án này TA cấp sơ thẩm và TA cấp phúc thẩm xét xử Đào Trọng Triển về tội mua bán trái phép chất ma tuý là đúng người, đúng tội.

Tuy nhiên TA cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS (phạm tội nhiều lần) để quyết định hình phạt đối với Triển là vi phạm nghiêm trọng Điều 196 BLTTHS quy định về giới hạn của việc xét xử, đó là: "TA chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và TA đã quyết định đưa ra xét xử” bởi vì, VKS chỉ truy tố Triển về hành vi mua bán Hêrôin bị bắt quả tang hồi 0h30’ ngày 20/02/2007 theo khoản 1 Điều 194 BLHS. TA cấp sơ thẩm cũng quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với Triểntheo khoản 1 Điều 194 BLHS như VKS đã truy tố. Mặc dù Triển khai nhận bán thuê Hêrôin cho Tuấn từ ngày 15/02/2007 đến ngày bị bắt quả tang, nhưng kết quả điều tra không đủ cơ sở chứng minh Tuấn thuê Triểnbán Hêrôin. Vì vậy, chưa đủ cơ sở kết luận Triển nhiều lần mua bán trái phép Hêrôin.

Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Lẽ ra, TA cấp phúc thẩm phải áp dụng khoản 1 Điều 250 BLTTHS để hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, nếu tại phiên toà thấy có căn cứ kết luận Triển có hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý, hoặc hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại nếu thấy Triển chỉ mua bán ma tuý và bị bắt hồi 0h30’ ngày 20/2/2007. Việc TA cấp phúc thẩm bác kháng nghị của VKS và giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với Triển cũng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.

Nguồn: Sổ tay Kiểm sát viên hình sự tập 2

-----------------------------------------------------------

 9- Vụ án Nguyễn Thị Phương phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy” và " Đánh bạc”

Nguồn: Thông báo số 244/TB-VKSTC-V3 ngày 15/11/2011

Ngày 13-9-2011, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Thị Phương bị kết án về các tội "mua bán trái phép chất ma tuý” và "đánh bạc”,  Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 3) xin thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu.

Nội dung vụ án và quá trình tố tụng:

Nguyễn Thị Phương sinh năm 1964, có hộ khẩu thường trú tại phường A, quận B, thành phố H; tạm trú tại phường C, quận B, thành phố H đã bị Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố về tội "đánh bạc” và bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố về tội "mua bán trái phép chất ma tuý”. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 117/2008/HSST ngày 09-4-2008 Tòa án nhân dân quận B, thành phố H đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Phương 30 tháng tù về tội "đánh bạc”.  Ngày 17-4-2008, Nguyễn Thị Phương kháng cáo xin giảm hình phạt.

   Tại bản án hình sự phúc thẩm số 537/2008/HSPT ngày 11-9-2008, Tòa án nhân dân thành phố H chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; các điểm o và p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Phương 24 tháng tù về tội "đánh bạc”.        

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 2247/2009/HSST ngày 25-8-2009, Tòa án nhân dân thành phố H áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Phương tù chung thân về tội "mua bán trái phép chất ma tuý”; tổng hợp với hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội "đánh bạc” tại bản án hình sự sơ thẩm số 117/2008/HSST ngày 09-4-2008 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố H, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là tù chung thân.   

Ngày 28-8-2009, Nguyễn Thị Phương kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 866/2009/HSPT ngày 01-12-2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 51 Bộ luật hình sự,  xử  phạt  Nguyễn Thị Phương tù chung thân về  tội  "mua bán trái phép chất ma tuý”; tổng hợp hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội "đánh bạc” tại bản án hình sự sơ thẩm số 117/2008/HSST ngày 09-4-2008 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố H, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là tù chung thân.

Ngày 19-01-2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định Kháng nghị số 02/2011/HS-TK, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 2247/2009/HSST ngày 25-8-2009 của Tòa án nhân dân thành phố H về phần quyết định tổng  hợp hình phạt đối với Nguyễn Thị Phương để tiến hành việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo đúng quy định của pháp luật.

   Tại Quyết định giám đốc thẩm số 21/2011/HS-GĐT ngày 13-9-2011, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị tuyên huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 866/2009/HSPT ngày 01-12-2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 2247/2009/HSST ngày 25-8-2009 của Tòa án nhân dân thành phố H về phần quyết định tổng  hợp hình phạt đối với Nguyễn Thị Phương để tiến hành việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo đúng quy định của pháp luật.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Nguyễn Thị Phương phạm tội "đánh bạc” bị Tòa án nhân dân quận B, thành phố H xét xử sơ thẩm (tại bản án hình sự sơ thẩm số 117/2008/HSST ngày 9-4-2008) tuyên phạt Nguyễn Thị Phương 30 tháng tù.

Ngày 17-4-2008, Nguyễn Thị Phương kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Như vậy, đương nhiên bản án hình sự sơ thẩm số 117/2008/HSST ngày 9-4-2008 Tòa án nhân dân quận B, thành phố H chưa có hiệu lực pháp luật đối với Nguyễn Thị Phương.

Ngày 11-9-2008 tại bản án hình sự phúc thẩm số 537/2008/HSPT, Tòa án nhân dân thành phố H đã sửa án sơ thẩm số 117/2008/HSST ngày 9-4-2008 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố H tuyên phạt Nguyễn Thị Phương 24 tháng tù.

Khi xét xử sơ thẩm đối với Nguyễn Thị Phương về tội "mua bán trái phép chất ma tuý” tại bản án hình sự sơ thẩm số 2247/2009/HSST ngày 25-8-2009, ngoài việc quyết định hình phạt tù chung thân đối với tội phạm này, Tòa án nhân dân thành phố H còn quyết định tổng hợp với hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 117/2008/HSST ngày 09-4-2008 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố H là sai lầm nghiêm trọng vì bản án này không còn hiệu lực pháp luật đối với Nguyễn Thị Phương. Theo quy định của pháp luật thì Tòa án nhân dân thành phố H phải quyết định tổng hợp với hình phạt 24 (hai mươi tư) tháng tù của bản án hình sự phúc thẩm số 537/2008/HSPT ngày 11-9-2008 của Tòa án nhân dân thành phố H, vì đây mới là bản án có hiệu lực pháp luật đối với Nguyễn Thị Phương.

Quá trình xét xử phúc thẩm vụ án "mua bán trái phép chất ma tuý” (do Nguyễn Thị Phương kháng cáo), Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh cũng không phát hiện được sai lầm này và tại bản án hình sự phúc thẩm số 866/2009/HSPT ngày 01-12-2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên, trong đó có quyết định về tổng hợp hình phạt đối với Nguyễn Thị Phương cũng là sai lầm nghiêm trọng, vì đã công nhận quyết định tổng hợp hình phạt không còn hiệu lực pháp luật đối với Nguyễn Thị Phương.

Thông qua việc giải quyết vụ án này, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự xin thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án, khi áp dụng pháp luật cho phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. 

-----------------------------------------------------------

­­­­­­­­­­­­­10- Vụ án Phạm Quốc Bảo phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy”

Nguồn: Thông báo số 254/TB-VKSTC-V3 ngày 25/11/2011

Ngày 21-7-2011, Tòa Hình sự-Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Phan Quốc Bảo bị kết án về các tội "mua bán trái phép chất ma tuý”, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 3) xin thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu.

Nội dung vụ án:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 06-11-2009, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại căn  nhà số 67 khu phố H, phường N, thị xã T có biểu hiện nghi vấn mua bán trái phép chất ma tuý, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phối hợp với cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiến hành giám sát và bắt quả tang tại địa chỉ trên Phan Quốc Bảo đang bán trái phép chất ma tuý cho hai đối tượng là Đoàn Văn Lực và Nguyễn Thành Nam.

Tang vật thu giữ bắt quả tang trong người Phan Quốc Bảo: tiền Việt Namlà 1.000.000 đồng, 01 điện thoại Nokia màu đen; trong người Đoàn Văn Lực: 02 túi nylon màu trắng bên trong có chứa chất rắn màu trắng; thu tại nhà vệ sinh 02 túi nylon màu trắng bên trong có chứa chất rắn màu trắng. Tiến hành giám định các túi nylon bên trong có chứa chất rắn màu trắng thu được tại nhà vệ sinh của Bảo (gói số 1) và trong người Đoàn Văn Lực (gói số 2), theo bản giám định số 2412/C21B ngày 11-11-2009 của Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự kết luận:

Gói số 1: Tinh thể trong suốt đựng trong hai gói nylon có chứa thành phần Methamphetamine trọng lượng 0,2580 gam.

Gói số 2: Tinh thể trong suốt đựng trong hai gói nylon có chứa thành phần Methamphetamine trọng lượng 0,1496 gam.

 Phan Quốc Bảo không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng qua điều tra có cơ sở xác định: Vào khoảng 10 giờ ngày 06 -11-2009 Nguyễn Thành Nam và Đoàn Văn Lực gặp nhau rồi rủ nhau mua ma tuý để sử dụng. Lực và Nam góp tiền lại được 1.000.000 đồng (trong đó Nam có 600.000 đồng và Lực góp 400.000 đồng). Sau đó vào lúc 10 giờ 36 phút, Lực đã dùng điện thoại di động gọi vào số máy di động của Phan Quốc Bảo để thoả thuận mua ma tuý dạng  "đá”. Bảo đồng ý và hẹn vào nhà Bảo để mua bán. Đến 11 giờ 45 phút cùng ngày, Bảo điện thoại lại cho Lực hối thúc vào mua liền. Khi Lực và Namđến, Namđứng ở bên ngoài hẻm còn Lực vào nhà mua thì bị bắt quả tang.

Ngoài lần bị bắt quả tang trên, tiến hành điều tra còn xác định được trước khi bị bắt có các đối tượng khai mua ma tuý của Bảo như sau:

- Vào khoảng 22 giờ ngày 05-11-2009 Phan Quốc Bảo đã bán ma tuý cho các đối tượng Lê Bình Phương Kha, Đoàn Văn Lực. Lực đã đi cùng Kha đến hẻm số 14, khu phố H, phường N, thị xã T, sau đó Kha vào gặp Bảo và mua ma tuý với giá 600.000 đồng.

- Vào tháng 8 năm 2009, Nguyễn Văn Bách sinh năm 1985, trú tại ấp Cầu, xã Tân Phong, huyện B, tỉnh T; Trịnh Văn Tấn sinh năm 1984, trú tại ấp Long Thới, xã Long Thành Trung, huyện A, tỉnh T; Nguyễn Hoàng Thọ sinh năm 1975, trú tại khu phố 1, thị trấn Tân Biên và vợ của Thọ tên là Nguyễn Thị Gái đã đi xe du lịch đến đầu hẻm 14 khu phố H, phường N, thị xã T, sau đó Phan Quốc Bảo ra gặp và bán ma tuý với số tiền 1.200.000 đồng.

Quá trình tố tụng:

 Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2010/HSST ngày 09-2-2010 Tòa án nhân dân thị xã T áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Phan Quốc Bảo 8 năm tù về tội "mua bán trái phép chất ma tuý”; áp dụng Điều 30; khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo Phan Quốc Bảo số tiền 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

 Ngày 13-2-2010, Phan Quốc Bảo kháng cáo với nội dung kêu oan.

 Tại bản án hình sự phúc thẩm số 95/2010/HSPT ngày 27-5-2010, Tòa án nhân dân tỉnh T áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Phan Quốc Bảo 4 năm tù về tội "mua bán trái phép chất ma tuý”.          

Ngày 24-02-2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quyết định Kháng nghị số 03/QĐ-VKSTC-V3, đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm số 95/2010/HSPT ngày 27-5-2010 của Tòa án nhân dân tỉnh T để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 10/2011/HS-GĐT ngày 21-7-2011, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị tuyên huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 95/2010/HSPT ngày 27-5-2010 của Tòa án nhân dân tỉnh T để xét xử phúc thẩm lại.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Ngày 06-11-2009, tại nhà của Phan Quốc Bảo, Công an tỉnh T và Công an thị xã T đã phối hợp bắt quả tang Phan Quốc Bảo đang bán ma tuý cho hai đối tượng là Đoàn Văn Lực và Nguyễn Thành Nam. Loại ma tuý thu giữ trong người Đoàn Văn Lực cùng chủng loại với ma tuý thu được trong nhà vệ sinh của Phan Quốc Bảo. Do đó, Toà án các cấp kết án Phan Quốc Bảo về tội "mua bán trái phép chất ma tuý” là có căn cứ và đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Phan Quốc Bảo không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, kể cả lần bị cáo bị bắt quả tang. Nhưng căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định của Phân viện khoa học hình sự, cùng tang vật thu giữ quả tang trong người bị cáo, trong nhà của bị cáo, tang vật thu giữ quả tang của các đối tượng sử dụng ma tuý, lời khai của các nhân chứng và Biên bản đối chất giữa bị cáo với các nhân chứng, thấy rằng: ngoài lần bị bắt quả tang thì các đối tượng sử dụng ma tuý như anh Nguyễn Văn Bách, Trịnh Văn Tấn, Nguyễn Hoàng Thọ, Nguyễn Thanh Phong, Hà Minh Huy, Đoàn Văn Lực, còn khai nhận thống nhất về địa điểm mua bán, về cách thức mua bán (thông qua việc gọi điện thoại, sau đó hẹn đến đầu hẻm nhà Bảo để mua) và đã mua ma tuý của Phan Quốc Bảo nhiều lần. Đặc biệt tại các BL 44 và BL 56 trong hồ sơ vụ án còn thể hiện việc Nguyễn Thanh Phong và Hà Minh Huy có mua ma tuý của Bảo 2 lần.

Với các hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T và Tòa án nhân dân thị xã T đã truy tố và xét xử Phan Quốc Bảo về tội "mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b (phạm tội nhiều lần) khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào lần phạm tội bị bắt quả tang ngày 06-11-2009 để xét xử bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là chưa đầy đủ và đã bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo Phan Quốc Bảo.

Thông qua việc giải quyết vụ án này, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự xin thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án, áp dụng pháp luật chính xác, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

 

 

11. Vụ án Tráng A Sái và đồng bọn phạm tội " Mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuy”

Nguồn: Thông báo rut kinh nghiệm số 389/QĐ-VKSTC-V3 ngày 16/11/2007

Ngày 01/10/2007, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vụ án Tráng A Sái và đồng bọn phạm tội "mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy” xảy ra ở Sơn La. Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, chúng tôi thấy cần thiết phải rút kinh nghiệm loại vi phạm này vì thường xảy ra ở một số địa phương.

I. Nội dung vụ án và quá trình giải quyết

Hồi 16h ngày 17/8/2005 tại khu vực bản Phát, xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn la, Tổ công tác của Đồn biên phòng 469 thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La phối hợp với Ban Công an xã Lóng Sập bắt quả tang Mùa A Đua và Tráng A Sái đang vận chuyển trái phép chất ma tuý. Qua khám xét đã thu giữ trong người Đua 04 bánh Hêrôin (tương đương 1.407,24 gam), 01 quả lựu đạn; thu giữ trong người Sái 02 bánh Hêrôin (tương đương 659,01 gam) và 190 viên ma tuý tổng hợp (có tổng trọng lượng 17,12 gam).

Quá trình điều tra, Đua và Sái khai: 06 bánh Hêrôin, 190 viên ma tuý tổng hợp bị thu giữ nêu trên là của Tráng A Lù (anh trái Sái) mua từ bên Lào về, thuê Sái và Đua mang giao cho Phạm Xuân Mộc ở bản Nà Bó, xã Mường Sang, huệyn Mộc Châu, tỉnh Sơn La; quả lựu đạn là do Lù đưa cho Sái và Đua giữ để sử dụng.

Ngoài ra, Đua và Sái còn khai nhận: vào đầu tháng 8/2005, Tráng A Lù thuê Mùa A Đua và Tráng A Sái mang 02 bánh Hêrôin (tương đương 700 gam) giao cho Phạm Xuân Mộc. Do Đua mệt không đi được nên Mùa A Lù (anh trai Đua) đã đi cùng Sái. Mùa A Lù và Tráng A Sái đến nhà Mộc, nhưng Mộc không có nhà nên đã đưa 02 bánh Hêrôin cho con gái của Mộc tên là Phạm Thị Minh Hạnh (sinh năm 1992) cất giữ và ngồi đợi Mộc. Đến khoảng 22h thì vợ chồng Mộc về. Sái nói với Mộc "em đã đưa hàng cho cháu cất đi rồi”, Mộc nói "ừ”, sau đó Sái và Mùa A Lù đi về nhà Tráng A Lù.

Đối với Phạm Xuân Mộc: vào hồi 14h30’ ngày 20/02/2006, Công an huyện Mộc Châu bắt quả tang Phạm Xuân Mộc đang tàng trư trái phép 0,19 gam Hêrôin trong túi áo. Mộc khai số ma tuý này Mộc mua của một người đàn ông (không biết tên và địa chỉ) để sử dụng.

Tráng A Lù bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã có quyết định truy nã và tách vúan hình sự đối với Tráng A Lù để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 1338/AN – MT ngày 02/10/2006, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn la truy tố:

- Tráng A sái và Mùa A Đua về tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 194 và tội "tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 230 Bộ luật hình sự;

- Mùa A Lù về tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý”theo điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự;

- Phạm Xuân Mộc về tội "mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 và tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2006/HSST ngày 26/10/2006, Toà án nhân dân tỉnh Sơn La quyết định:

- áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; khoản 1 Điều 230; các điểm p và q khoản 1 Điều 46; Điều 50 và áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Mùa A Đua tử hình, Tráng A Sái tử hình, đều về tội "vận chuyển trái phép chất ma túy”, phạt mỗi bị cáo 02 năm tù về tội "tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; tổng hợp hình phạt buộc Tráng A Sái và Mùa A Đua đều phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là tử hình.

- áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; các điểm p và q khoản 1 Điều 46; Điều 53 Bộ luật hình sự xử phạt Mùa A Lù 20 năm tù về tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

- áp dụng điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Xuân Mộc 10 năm tù về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý” và phạt tiền 5.000.000đ; tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc để tiếp tục điều tra khi có đủ căn cứ xử lý sau…

Sau khi xét xử sơ thẩm, ác bị cáo Đua, Sái kháng cáo xin giảm hình phạt về tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý”

Tại Kháng nghị số 1544/VKS-P2 ngày 10/11/2006, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về phần tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc để xét xử sơ thẩm lại theo hướng kết án Phạm Xuân Mộc về tội "mua bán trái phép chất ma tuý” và tổng hợp hình phạt bổ sung (phạt tiền nhưng chưa tổng hợp) tại bản án hình sự sơ thẩm số 32 ngày 18/3/1998 của Toà án nhân dân tỉnh Sơn La đã phạt Phạm Xuân Mộc.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 102/2007/HSPT ngày 05/2/2007, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội giữ nguyên quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đối với Tráng A Sái và Mùa A Đua; huỷ quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 19/2006/HSST ngày 26/10/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Sơn La về phần tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc để điều tra lại theo thủ tục chung. Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định việc tổng hợp hình phạt tiền đốivới Phạm Xuân Mộc.

Quyết định giám đốc thẩm số 27/2007/HS-GĐT ngày 01/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 18/HS-TK ngày 16/7/2007 của Toà án nhân dân tối cao.

II. Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Vấn đề cần rút kinh nghiệm trong vụ án này là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Phạm Xuân Mộc có hành vi mua 2 bánh Hêrôin nhưng Toà án cấp sơ thẩm cho rằng chưa đủ căn cứ kết tội Mộc mua 2 bánh Hêrôin nên tách hành vi này để tiếp tục điều tra khi có đủ căn cứ xử lý sau. Việc Toà án cấp sơ thẩm tách hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử là vi phạm nghiêm trong giới hạn của việc xét xử theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự. Mặc dù Toà án cấp sơ thẩm nhận định chưa đủ căn cứ chứng minh Mộc mua 2 bánh Hêrôin cần phải điều tra lại nhưng vẫn kết tội Tráng A Sái và Mùa A Lù là người vận chuyển 2 bánh Hêrôin trên giao cho Mộc là chưa có căn cứ vững chắc.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn la đã kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm về việc tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc. Toà án cấp phúc thẩm nhận định nội dung kháng nghị là có cơ sở nhưng vẫn tiếp tục tách hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Phạm Xuân Mộc để điều tra khi có căn cứ sẽ xử lý sau (vẫn giữ nội dung vi phạm của án sơ thẩm ) là sai lầm. Bởi vì, trường hợp Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với Hội đồng xét xử mới theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngoài ra trong quá trình điều tra nhiều lời khai còn mâu thuẫn nhưng chưa được cơ quan điều tra tiến hành đối chất theo quy định tại Điều 138 Bộ luật tố tụng hình sự; chưa làm rõ từng hành vi của Sái và Lù trong quá trình vận chuyển và giao Hêrôin cho Mộc.

Qua vụ án trên cho thấy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã nắm vững quy định của pháp luật và đã làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm đã ban hành kháng nghị phúc thẩm nhằm khắc phục những vi phạm của Toà án cấp sơ thẩm.

Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự xin thông báo rút kinh nghiệm đối với những vi phạm pháp luật trên thường xảy ra trong quá trình giải quyết án để các đồng chí tham khảo./.

 

12. Vụ án Huỳnh Song Toàn phạm tội " tàng trữ trái phép chất ma túy” và " tổ chức trái phép chất ma túy”.

Nguồn: Thông báo số 61/TB-VKSTC-V3

Vừa qua, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Huỳnh Song Toàn về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy” và "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” ở thành phố Hồ Chí Minh. Qua vụ án này, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo rút kinh nghiệm chung với các đơn vị trong ngành, như sau:

1. Nội dung vụ án.

Vào khoảng 24h ngày 04/4/2007 Đội cảnh  sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính khách sạn Tân Thiên Hương tại số 46 đường Linh Đông quận Thủ Đức phát hiện và bắt quả tang Huỳnh Song Toàn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với 3 người là Nguyễn Minh Quang, Phan Ngọc Anh Hoàng và Trần Nguyễn Phu Hùng, thu giữ 20 viên tân dược hình tròn màu trắng xám, một gói nilon đựng nhiều bột đá màu trắng, 01 gói chất bột màu trắng cùng một số dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy.

Kết quả  giám định: 02 gói chất bột màu trắng thu giữ có trọng lượng là 2,2553g, có chứa thành phần Methamphetamone; 20 viên thuốc tân dược hình đầu chó có trọng lượng 4,1300g có chứa thành phần Ephedrine và desmethyl-DOB.

2. Quá trình xét xử:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 304/2007/HSST, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức đã quyết định áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 197; khoản 1 Điều 194; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 50; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Huỳnh Song Toàn 08 năm tù về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 2 năm tù về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hình phạt chung cho hai tội là 10 năm tù.

Ngày 03/1/2008, Huỳnh Song Toàn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 383/2008/HSPT ngày 11/7/2008 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Song Toàn, hủy 1 phần bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo Huỳnh Song Toàn phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Huỳnh Song Toàn 2 năm tù; áp dụng khoản 2 Điều 107; Điều 251 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Huỳnh Song Toàn không phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngày 17/11/2008 tại công văn số 298/VKS-P3, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ngày 14/4/2009, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Quyết định số 06/QĐ-VKSTC-V3, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án hình sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 37/2009/HS-GĐT ngày 18/11/2009, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát , quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm số 383/2008/HSPT ngày 11/7/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí minh về phần quyết định áp dụng khoản 2 Điều 107,  Điều 251 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Huỳnh Song Toàn không phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án về phần tội danh "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Huỳnh Song Toàn.

3. Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm.

Việc cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm áp dụng Thông tư liên tịch số 02/1998/TTLT ngày 05/8/1998 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương VII A các tội về ma túy của Bộ luật hình sự năm 1985 để điều tra, truy tố xét xử Huỳnh Song Toàn về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Tuy nhiên, tại điểm a, mục 6.2 Thông tư số 17/2007/TTLT ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII các tội phạm về ma túy của Bộ luật hình sự năm 1999 lại có quy định "người nghiện ma túy có chất ma túy (không phân biệt nguồn gốc ma túy do đâu mà có) cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử vụ án và ban hành bản án ngày 26/12/2007 khi thông tư số 17 vừa mới ban hành ngày 24/12/2007, chưa có hiệu lực thi hành. Đến thời điểm xét xử phúc thẩm vụ án, ngày 11/7/2008 là khi Thông tư này đã có hiệu lực thi hành.

Trong phần nhận định của bản án phúc thẩm có trích dẫn mục 6.2 nêu trên của 17/2007/TTLT, nhưng trong phần quyết định của bản án, Hội đồng xét xử lại tuyên bố Huỳnh Song Toàn không phạm tôi "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Quyết định này của Tòa án cấp phúc thẩm là trái với khoản 1, Điều 25 Bộ luật hình sự, quy định "người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”, theo đó hành vi của Huỳnh Song Toàn lẽ ra phải được Tòa án cấp phúc thẩm miễn trách nhiệm hình sự, nhưng Tòa án lại tuyên bị cáo không phạm tội là không đúng với nội dung của Điều luật.

Ngoài ra, trong phần quyết định của bản án phúc thẩm còn nêu "áp dụng khoản 2 Điều 107, Điều 251 Bộ luật hình sự” – các điều luật không có liên quan gì đến việc xử lý hành vi của bị cáo Toàn là không đúng.

Trong phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là sai đối với những quy định tại thông tư số 17/2007/TTLT và Điều 25 Bộ luật hình sự nêu trên.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện vi phạm trong bản án phúc thẩm và đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị là đúng đắn.

Đề nghị các Viện kiểm sát nhân dân chỉ đạo các cán bộ, Kiểm sát viên lưu ý nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật, trong đó có các văn bản pháp luật mới ban hành đê áp dụng chính xác, góp phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự nói chung.

 

13. Vụ án Trương Thị Thu Vân phạm tội " mua bán trái phép chất ma túy”

Nguồn: Thông báo số 114/TB-VKSTC-V3 ngày 19/05/2010

Ngày 11-3-2010, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Trương Thị Thu Vân phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 3) xin thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu khi vận dụng pháp luật.

1.Nội dung vụ án:

Năm 1984 Trương Thị Thu Vân và Trần Văn Hiếu kết hôn sống tại căn nhà số 108 lô D chung cư Cô Giang, phường Cô Giang, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh (nhà của mẹ Hiếu cho ở). Tháng 10 năm 1999, vợ chồng Vân-Hiếu chuyển sang căn nhà số 44 Đề Thám; căn nhà này do Hiếu đứng tên mua của bà Trần Thị Kim Hoa với tổng diện tích sử dụng là 203,32 m2. Đây là nơi gia đình Vân-Hiếu sinh sống nhưng cũng là địa điểm giao dịch mua bán hêrôin.

Trương Thị Thu Vân bắt đầu mua bán hêrôin từ năm 1997 và là đầu mối tiêu thụ hêrôin cho Trần Huy Công, Trần Thị Ánh Trâm và một số đối tượng khác. Đến ngày bị bắt (24-4-2004), Vân đã mua bán tổng cộng là 109 bánh và 31.5 lượng hêrôin tương đương 37,91kg, thu lợi bất chính là 32.700 USD và 5.500.000 đồng. Vân còn lôi kéo cả chồng là Trần Văn Hiếu, con gái là Trương Thị Lan và người giúp việc gia đình là Huỳnh Thị Phượng cùng tham gia việc mua bán hêrôin. Trong đó, Trần Văn Hiếu đã nhiều lần chở Vân đi giao nhận hêrôin và thử hêrôin tại nhà, đồng phạm với Vân 02 bánh hêrôin, tương đương 673 gam.

2.Quá trình tố tụng:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 1862/2005/HSST ngày 30-12-2005 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, xử phạt Trương Thị Thu Vân tử hình về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”, phạt tiền 500.000.000 đồng. Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, tuyên tịch thu căn nhà số 44 Đề Thám, 6.740 USD, 11.000.000 đồng, điện thoại di động, một số nữ trang của Trương Thị Thu Vân và buộc Vân nộp số tiền thu lợi bất chính là 32.700 USD và 5.500.000 đồng để sung công qũy nhà nước; áp dụng điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn Hiếu 20 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”, phạt tiền 500.000.000 đồng. Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, tịch thu của Trần Văn Hiếu  02 xe gắn máy xung công qũy Nhà nước.

Sau khi xét xử sơ thẩm cả Trương Thị Thu Vân và Trần Văn Hiếu đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin lại căn nhà số 44 Đề Thám.

Bản án hình sự phúc thẩm số 925/2006/HSPT ngày 03-7-2006  của Tòa phúc thẩm-Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh  giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với Trương Thị Thu Vân, Trần Văn Hiếu về hình phạt, tịch thu căn nhà số 44 Đề Thám.

Tại kháng nghị giám đốc thẩm số 05/QĐ-VKSTC-V3 ngày 27-3-2009 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ phần tuyên tịch thu căn nhà số 44 Đề Thám của bản án hình sự phúc thẩm số 925/2006/HSPT ngày 03-7-2006  của Tòa phúc thẩm-Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 06/2010/HS-GĐT ngày 11-3-2010, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị tuyên huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 925/2006/HSPT ngày 03-7-2006  của Tòa phúc thẩm-Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và  bản án hình sự sơ thẩm số 1862/2005/HSST ngày 30-12-2005 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định tịch thu căn nhà số 44 Đề Thám, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh của Trương Thị Thu Vân và Trần Văn Hiếu; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân  thành phố Hồ Chí Minh để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

3.Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Suốt từ năm 1997 đến năm 2004, Trương Thị Thu Vân đã mua bán hêrôin trong thời gian dài với số lượng lớn, đặc biệt là Vân không chỉ thực hiện việc mua bán hêrôin ở trên đường phố, siêu thị..... mà còn trực tiếp mua bán tại nơi ở là căn nhà số 44 Đề Thám. Mặt khác, Vân còn lôi kéo cả chồng là Trần Văn Hiếu, con gái là Trương Thị Lan và người giúp việc là Huỳnh Thị Phượng tham gia vào việc mua bán hêrôin. Các bị cáo sử dụng căn nhà số 44 Đề Thám này vào việc mua bán hêrôin. Nhưng thực tế cho thấy căn nhà số 44 Đề Thám không chỉ là nơi Trương Thị Thu Vân và đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội, mà còn là nơi Vân-Hiếu và con gái Trần Thị Thanh Tuyền sinh sống. Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật hình sự thì "Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống”. Ngoài ra, ngày 27-11-2007 Trần Thị Thanh Tuyền đã nộp đủ tiền phạt, tiền thu lợi bất chính, án phí của Trương Thị Thu Vân, Trần Văn Hiếu và Trương Thị Lan, tổng cộng là 1.100.469.600 đồng tại Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Theo các tài liệu xác minh thể hiện chị Trần Thị Thanh Tuyền và hai cháu của Vân-Hiếu (con của Trương Thị Lan) chỉ có nơi ở duy nhất tại căn nhà số 44 Đề Thám và chị Tuyền hiện vẫn có hộ khẩu tại căn nhà này. Việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định tịch thu toàn bộ căn nhà số 44 Đề Thám là chưa đủ căn cứ vì trong trường hợp này cần phải xác minh làm rõ diện tích, cấu trúc thực tế căn nhà và xác minh những phần nào của căn nhà chỉ được các bị cáo sử dụng dùng vào mục đích phạm tội; nhu cầu nhà ở của những người còn lại trong gia đình để có căn cứ quyết định tịch thu một phần tương ứng của căn nhà này theo đúng với quy định tại Điều 40 Bộ luật hình sự. Có như vậy mới đảm bảo tính khách quan của vụ án.

Thông qua việc giải quyết vụ án này, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thấy cần thiết thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án, khi vận dụng điều luật của Bộ luật hình sự, nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự.


 

14. Vụ án Hồ Ngọc Tĩnh phạm tội " mua bán trái phép chất ma tuy”

Nguồn: Thông báo số 367/TB-VKSTC-V3 ngày 04/11/2010

Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Hồ Ngọc Tịnh cùng đồng bọn bị kết án về tội "mua bán trái phép chất ma túy", bị hủy án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra lại, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thấy cần thông báo rút kinh nghiệm một số vấn đề về nghiệp vụ để tránh những sai sót tương tự xảy ra.

1. NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 25/02/2007, Quang Văn Phiện là phạm nhân bị kết án 07 năm tù về tội "mua bán trái phép chất ma tuý” (đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam thuộc Công an tỉnh Nghệ An) có đơn tố giác về việc đã dẫn đường cho một số đối tượng mua hêrôin vào thời gian cuối tháng 10 (âm lịch) năm 2005. Căn cứ vào nội dung đơn tố giác của Phiện, Công an tỉnh Nghệ An tiến hành điều tra vụ án. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã xác định như sau:

Hồ Ngọc Tịnh có quan hệ như vợ chồng với Lô Thị Nhơ (là em vợ của Quang Văn Phiện) ở bản Xốp Mạt, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An nên Tịnh biết Phiện vẫn thường xuyên mua bán trái phép chất ma tuý.

Theo lời khai của Quang Văn Phiện thì vào buổi chiều một ngày cuối tháng 10 (âm lịch) năm 2005, Phiện đang ở nhà Lô Thị Nhơ thì Hồ Ngọc Tịnh đi cùng một người khác (theo Tịnh nói là bạn Tịnh ở Sài Gòn) đến gặp Phiện và nhờ Phiện dẫn đường đi mua hêrôin. Phiện đã gọi Ngô Viết Chiến (là người quen của Phiện) đến và nói "có quân Sài Gòn ra lấy hàng, mi có dẫn đường kiếm ít tiền mà tiêu" Chiến đồng ý đi cùng Phiện để dẫn đường cho Tịnh.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì Phiện, Chiến dẫn Tịnh và bạn của Tịnh đi lên đồi C5 thuộc xã Lượng Minh. Đến đồi C5, cả nhóm vào lán nương của ông Vi Văn Việt chơi rồi sang lán của một người Lào có tên là Và. Tịnh và bạn Tịnh đặt vấn đề mua hêrôin thì Và nói "nếu mua nhiều thì tôi sẽ gọi người mang tới". Cả nhóm ngồi đợi tại lán của Và, đến 8 giờ sáng ngày hôm sau thì Và cùng hai người Lào mang hêrôin đến, Tịnh và bạn Tịnh dùng dao thử hêrôin và đã mua 11,5 bánh hêrôin với giá 4.500 USD/bánh rồi cho hêrôin vào một túi màu đen đem theo từ trước. Sau đó, Phiện và Chiến dẫn Tịnh và bạn Tịnh về nhà Lô Thị Nhơ theo một  đường khác. Khi còn cách nhà khoảng 100m, Tịnh giấu hêroin vào bụi cây để bạn Tịnh đứng canh giữ còn Phiện, Tịnh, Chiến về nhà Nhơ. Tịnh nhờ Phiện ra Trạm bưu điện xã Lượng Minh gặp một người có tên là Cường, bảo Cường đưa xe ôtô vào chở hêroin. Khi xe ôtô đến, Tịnh và bạn Tịnh đưa hêroin lên xe đi.

Công an tỉnh Nghệ An đã điều tra, xác minh đối tượng đi cùng Hồ Ngọc Tịnh và người có tên là Cường (là người điều khiển xe ôtô và chở hêroin) nhưng chưa có cơ sở xác định. 

2. QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN:

  Cáo trạng số 296/KSĐT-P2 ngày 09/11/2007, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Hồ Ngọc Tịnh, Quang Văn Phiện và Ngô Viết Chiến về tội "mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 4 Điều 194 BLHS. 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2008/HSST ngày 15/01/2008, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An áp dụng điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 194; Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Hồ Ngọc Tịnh tử hình về tội "mua bán trái phép chất ma tuý”; tổng hợp hình phạt 09 năm tù tại bản án số 111/2007/HSST ngày 11/4/2007 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xử phạt đối với bị cáo; buộc Hồ Ngọc Tịnh phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là tử hình.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; các điểm a, p khoản 1 Điều 46; Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Quang Văn Phiện tù chung thân về tội "mua bán trái phép chất ma tuý”; tổng hợp hình phạt 07 năm tù tại bản án số 104/2007/HSST ngày 13/6/2007 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xử phạt đối với bị cáo; buộc Quang Văn Phiện phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là tù chung thân.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194; các điểm p, q khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Ngô Viết Chiến tù chung thân về tội "mua bán trái phép chất ma tuý”; tổng hợp hình phạt 15 năm tù tại bản án số 1063/2006/HSPT ngày 26/9/2006 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã xử phạt đối với bị cáo; buộc Ngô Viết Chiến phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là tù chung thân.

Ngày 30/01/2008, Hồ Ngọc Tịnh có đơn kháng cáo kêu oan.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 363/2008/HSPT ngày 27/5/2008, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm đối với Hồ Ngọc Tịnh.

Tại kháng nghị số 37/HS-TK ngày 30/9/2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 363/2008/HSPT ngày 27/5/2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 02/2008/HSST ngày 15/01/2008 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An; đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy các bản án hình sự nêu trên để điều tra lại theo thủ tục chung.

Tại quyết định giám đốc thẩm số 21/2010/HS-GĐT ngày 06 tháng 7 năm 2010, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm  thẩm số 363/2008/HSPT ngày 27/5/2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 02/2008/HSST ngày 15/01/2008 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An để điều tra lại theo quy định của pháp luật.   

3. NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT KINH NGHIỆM:

Đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, các bị cáo bị điều tra, truy tố và xét xử áp dụng hình phạt cao, trong đó Hồ Ngọc Tịnh bị áp dụng hình phạt cao nhất. Nhưng quá trình thực hành quyền công tố - kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm có những sai lầm nghiêm trọng cần phải được rút kinh nghiệm như sau:

3.1. Về việc thu thập và đánh giá chứng cứ:

Trong vụ án này, chứng cứ được sử dụng để truy tố và xét xử kết án Hồ Ngọc Tịnh căn cứ vào đơn tố giác tội phạm của Quang Văn Phiện; các lời khai nhận của Quang Văn Phiện và Ngô Viết Chiến về việc cuối tháng 10 (âm lịch) năm 2005, Phiện và Chiến có dẫn đường cho Tịnh lên đồi C5 thuộc xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An mua 11,5 bánh hêrôin; lời khai của những người làm chứng về việc Hồ Ngọc Tịnh có mặt có mặt tại xã Lượng Minh vào thời điểm tháng 10 (âm lịch) năm 2005. Tuy nhiên, lời khai của những người nêu trên bản khai trước mâu thuẫn với bản khai sau và mâu thuẫn với nhau, nhưng quá trình điều tra, truy tố và xét xử chưa làm rõ cụ thể là:

- Đối với lời khai của Quang Văn Phiện là người tố giác, trước sau đều khai nhận là đã dẫn đường cho Hồ Ngọc Tịnh đi mua ma túy, nhưng lời khai của bị cáo có nhiều điểm mâu thuẫn, không thống nhất về diễn biến của sự việc, những người trực tiếp giao dịch, mua bán hêrôin, trọng lượng, giá cả hêrôin; cụ thể là: Tại lời khai ban đầu thì Phiện khai là khi lên đồi C5 thì cả nhóm vào lán của người Lào tên là Và để mua hêrôin, nhưng lời khai sau lại khai là cả nhóm vào lán nương của ông Vi Văn Việt chơi, sau đó mới sang lán của người Lào; Phiện khai cùng Tịnh mua bán 11,5 bánh hêrôin, nhưng có lúc thì khai là Tịnh và bạn Tịnh mua hêrôin với Và; Phiện khai Tịnh mua 11,5 bánh hêrôin, nhưng có lúc lại khai không biết Tịnh và bạn Tịnh mua bao nhiêu hêrôin; lời khai của Phiện về việc Ngô Viết Chiến có chứng kiến việc mua bán hêrôin hay không, Phiện khai cũng không thống nhất. Có lúc Phiện khai là Chiến có chứng kiến việc mua bán, có lúc lại khai là lúc đó Chiến không có mặt…Những lời khai nêu trên của Phiện mâu thuẫn với nhau nhưng không được phát hiện để điều tra làm rõ lời khai nào là đúng, lời khai nào là không đúng…

- Đối với lời khai của Ngô Viết Chiến đều nhận có cùng Quang Văn Phiện dẫn đường cho Tịnh đi mua hêrôin tại đồi C5 thuộc xã Lượng Minh, nhưng lời khai của Chiến cũng có nhiều điểm mâu thuẫn. Đặc biệt là khi được giao cáo trạng ngày 12/11/2007, Chiến đã ghi vào Biên bản là thực tế không cùng Quang Văn Phiện dẫn đường cho Hồ Ngọc Tịnh lên đồi C5 mua bán ma tuý; việc tố giác tội phạm là do nghe Phiện kể lại và do cán bộ điều tra dỗ nhận tội. Lời khai này của Chiến đã phủ nhận toàn bộ các lời khai nhận tội trong quá trình điều tra nên nếu không được điều tra, xác định lại thì không thể sử dụng làm căn cứ kết tội Hồ Ngọc Tịnh.

Ngoài ra còn những vấn đề liên quan đến vụ án cũng chưa được điều tra làm rõ, cụ thể: Người bán hêroin tên là Và, việc mua bán diễn ra trên đồi C5 thuộc xã Lượng Minh nhưng Cơ quan điều tra không điều tra xác minh về đối tượng này; Phiện khai Tịnh thanh toán tiền bằng tiền USD, còn Chiến lại khai là Tịnh thanh toán bằng cả tiền USD và tiền Việt nam. Các lời khai của các bị cáo mâu thuẫn với nhau về cùng một sự việc nhưng cũng không được điều tra, làm rõ; Mặt khác, Lô Thị Mây (là vợ của Phiện) cũng có mặt tại nhà Lô Thị Nhơ khi Hồ Ngọc Tịnh và bạn Tịnh đến nhờ Phiện dẫn đường đi mua ma túy, nhưng Cơ quan điều tra không lấy lời khai của Lô Thị Mây để củng cố chứng cứ chứng minh việc Tịnh có mặt tại xã Lượng Minh vào thời điểm cuối tháng 10 (âm lịch) năm 2005.

Với những chứng cứ được thu thập chứa đựng đầy mâu thuẫn và những thiếu sót nêu trên, quá trình thực hành quyền công tố - kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án Kiểm sát viên đã không phát hiện ra những mâu thuẫn này để yêu cầu điều tra hoặc điều tra bổ sung làm rõ, chứng tỏ Kiểm sát viên không nghiên cứu hoặc nghiên cứu không kỹ hồ sơ vụ án từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn truy tố và xét xử. Thiếu sót này thuộc về Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố - kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án.

3.2. Khi xét xử vụ án Toà án các cấp có những sai lầm, thiếu sót:

- Không triệu tập người làm chứng tham gia tố tụng: Hồ Ngọc Tịnh không nhận tội, căn cứ để kết án bị cáo chủ yếu dựa vào lời khai của Quang Văn Phiện, Ngô Viết Chiến và lời khai của một số người làm chứng (khai về việc Hồ Ngọc Tịnh có mặt tại xã Lượng Minh vào khoảng thời gian cuối tháng 10/2005). Trong khi lời khai của Phiện và Chiến còn có nhiều điểm mâu thuẫn nhưng cả Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều không triệu tập người làm chứng nào đến phiên tòa.

- Xác định sai lý lịch tư pháp của bị cáo: Theo xác định của các Cơ quan tiến hành tố tụng thì Hồ Ngọc Tịnh, Quang Văn Phiện và Ngô Viết Chiến thực hiện hành vi phạm tội vào khoảng thời gian cuối tháng 10/2005. Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án này được thực hiện trước khi các bị cáo bị kết án tại các bản án sau này (vào các năm 2006-2007). Vì vậy, Tòa án các cấp xác định các bị cáo có tiền án là không đúng.

- Vi phạm thủ tục tố tụng trong khi nghị án: Khi nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm chỉ biểu quyết một lần cho tất cả các vấn đề của vụ án là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự. Biên bản nghị án còn thể hiện sự cẩu thả như: gạch xóa, thêm bớt câu chữ một cách tùy tiện.

- Mặt khác, Trong hồ sơ vụ án có tài liệu có dấu hiệu bị tẩy xóa, làm sai lệch nội dung; có tài liệu không đảm bảo thủ tục pháp lý, cụ thể là: Tại biên bản giao nhận cáo trạng, Ngô Viết Chiến có viết vào Biên bản với nội dung không nhận tội, nhưng chữ viết của Chiến có chỗ bị tẩy xóa theo hướng nhận tội; Khi xét xử sơ thẩm, Ngô Viết Chiến có đơn xin xử vắng mặt với lý do bị bệnh nặng, không đủ sức khỏe để tham gia phiên tòa, mặc dù đơn có chữ ký của cán bộ Trại tam giam và bác sỹ nhưng không đóng dấu nên không đảm bảo tính xác thực của tài liệu.

Những sai lầm nghiêm trọng của Toà án nêu trên có phần thiếu sót của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự vì trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, Kiểm sát viên đã không thực hiện đúng quy định của Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự nên đã mặc một loạt sai sót như: không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án nên không phát hiện ra những điểm còn mâu thuẫn trong lời khai (chứng cứ buộc tội duy nhất), không yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng, không kiểm tra biên bản nghị án nên không phát hiện ra những vi phạm về thủ tục tố tụng dẫn đến không bảo đảm được việc truy tố và xét xử đúng người, đúng pháp luật.

Trên đây là những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án Hồ Ngọc Tịnh cùng đồng bọn phạm tội "mua bán trái phép chất ma túy" ở tỉnh Nghệ An. Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thông báo để rút kinh nghiệm chung, nhằm hạn chế những trường hợp tương tự xảy ra, góp phần nâng cao hơn nữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự./.

---------------------------------------------

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi