Về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (phần II)

1. Vụ án Nguyễn Văn Hải phạm tội " giết người” và " cố ý gây thương tích”.

 

Nguồn: Thông báo rút kinh nghiệm số 03/TB-VKSTC-VPT1 ngày 05 tháng 01 năm 2012.

 

Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội vừa xét xử vụ án Nguyễn Văn Hải phạm tội giết người và cố ý gây thương tích. Cấp phúc thẩm đã cải sửa cơ bản án sơ thẩm. Viện phúc thẩm 1 thông báo rút kinh nghiệm chung về vụ án này như sau:

 

Nội dung vụ án:

 

Tối ngày 13/03/2000 Nguyễn Văn Hải và Tạ Hữu Cương đến nhà chị Trịnh Thị Nhung ở thôn Hà Tê chơi. Khoảng 22h cùng ngày Hải và Cương đi về đến cống Hà Tê thì bị Trịnh Văn Ân, Trịnh Văn Diễn, Trịnh Văn Dũng, Vũ Nhân Trường, Nguyễn Văn Chiến và Hoàng Văn Tùng chặn lại. Do trước đó Diễn biết Hải và Cương đến chơi nhà chị Nhung nên Diễn bàn với đồng bọn chặn đánh. Cả bọn thống nhất và đi đến bờ tre gần đó ngồi chờ. Khi Hải và Cương đi đến, Dũng cầm đèn pin soi vào mặt Hải và Cương thi Hải nói " xin các anh tha cho em”. Cùng lúc đó Ân, Diễn xông vào dùng chân tay đánh Cương, còn Chiến, Dũng xông vào đánh Hải. Do bị đánh Cương bỏ xe đạp chạy về hướng thôn Hà Tê còn Hải chạy về phía thôn Hà Phú thì Ân, Diễn, Trường, Dũng, Chiến tiếp tục đuổi theo đánh Hải. Ân đuổi trước, sau đến Diễn. Hải chống cự thì Ân nói " mày dám chống cự lại bọn tao à”. Hải chạy được 20m thì nhặt được miếng sắt. Khi Ân xông đến bị Hải dùng miếng sắt đâm vào bụng. Ân chạy quay lại thì Diễn tiếp tục xông tới bị Hải đâm vào bụng bên phải. Ân bị chết tại hiện trường, Diễn bị thương tích 33%.

 

Bản án sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999, khoản 2 điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Hải 14 năm tù về tội " giết người”; 02 năm tù về tội "cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 16 năm tù.

 

Ngày 30/09/2011 Toà Phúc Thẩm TANDTC tại Hà Nội đã xét xử phúc thẩm vụ án, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hải phạm tội " giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng” và " cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”; áp dụng khoản 1 điều 96 và khoản 1 điều 106 BLHS tuyên phạt bị cáo Hải 12 tháng 20 ngày tù về tội " Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” và miễn hình phạt về tội " cố ý gây thương tích do vựot quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam giữ về hành vi vi phạm tội khác.

 

Vấn đề cần rút kinh nghiệm là:

 

Trong vụ án này Nguyễn Văn Hải không quen biết và không hề mâu thuẫn gì với Trịnh Văn Ân, Trịnh Văn Diễn, Trịnh Văn Dũng và 3 người khác thuộc nhóm của Ân. Trong đêm tối Hải và Cương ( bạn Hải) bị Ân cùng 5 người khác vô cớ tấn công, Hải van xin nhưng không tha. Hải bỏ chạy nhưng không thoát. Ân cùng đồng bọn đuổi theo đánh. Hải chống cự lại thì Ân nói " mày dám chống lại tao à”. Hải bị đánh ngã thì vô tình nhặt được miếng sắt và ngay lập tức dùng miếng sắt để chống trả. Ân và Diễn tiếp tục lao vào đánh Hải đều bị Hải đâm vào bụng. Hậu quả Ân chết, Diễn bị thương tích 33%.

 

Như vậy, trong đêm tối, một mình bị cáo Nguyễn Văn Hải phải chống trả sự tấn công vô cớ, quyết liệt của Ân và 5 tên đồng bọn, bị cáo van xin nhưng không được tha. Bị cáo dùng miếng sắt để đâm vào bụng của Ân và Diễn là để chống trả đối phương để bảo vệ sức khoả, tính mạng của mình. Tuy nhiên hành vi chống trả của bị cáo Hải là " Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” cấp sơ thẩm đã đánh giá không đúng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo dẫn đến định tội "giết người” và " cố ý gây thương tích” đối với bị cáo là không đúng với quy định của pháp luật.

 

Viện phúc thẩm 1 thông báo rút kinh nghiệm chung để tránh lặp lại thiếu sót tương tự.

 

------------------------

 

2. Thông báo rút kinh nghiệm vụ án Trần Thanh Lan phạm tội " Giết người”

 

Nguồn: Thông báo số 108/TB-VKSTC-V3 ngày 31/05/2012

 

Ngày 13-02-2012, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Trần Thanh Lan bị kết án về tội "giết người”, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 3) xin thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu.

 

1. Nội dung vụ án:

 

Trần Thanh Lan và Nguyễn Văn Khanh là vợ chồng, làm nghề mua bán lúa gạo. Trong thời gian trước ngày xảy ra vụ án, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát do anh Khanh hay đi uống rượu và không lo phụ giúp gia đình. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29-8-2009, sau khi đi uống rượu về, anh Khanh gọi điện hỏi Lan ở đâu thì Lan trả lời là đang ở nhà máy xay lúa. Khoảng 5 phút sau anh Khanh đi xe máy tới chửi mắng và dùng dụng cụ xúc gạo đuổi đánh Lan. Lan bỏ chạy vào nhà chủ nhà máy xay lúa nên anh Khanh đi về.

 

Khoảng 17 giờ cùng ngày (sau khi bốc lúa ở nhà máy xay lúa xong), Lan về nhà thì bị anh Khanh dùng tay đánh vào mặt làm rách da chảy máu, được anh Nguyễn Tuấn Sinh (lái xe tải thuê cho vợ chồng Lan) can ngăn, nên anh Khanh bỏ đi uống rượu tiếp. Sau đó, Lan nhớ đến việc chiếc xe máy của Lan đã hết xăng đang để ở nhà máy xay lúa, nên Lan đưa 20.000 đồng cho con trai là Nguyễn Gia Tuấn đi mua xăng về để sáng hôm sau đem đến đổ vào xe máy. Sau khi cháu Tuấn đi mang xăng về, Lan cất chai xăng vào trong tủ sắt. Theo lời Lan khai thì khoảng 21 giờ 30 phút, sau khi anh Khanh đi uống rượu về, thấy Lan đang nằm xem truyền hình thì anh Khanh đến tắt tivi không cho Lan xem, lấy giấy kết hôn ra đốt, đòi ly dị với Lan, chửi và đuổi Lan ra khỏi nhà, nên Lan mới nảy sinh ý định dùng xăng đốt anh Khanh. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, anh Khanh đang đắp mền nằm ngủ thì Lan lấy chai xăng ở trong tủ ra đổ vào cái ấm nhôm rồi đến đổ lên cái mền anh Khanh đang đắp, dùng giấy mồi lửa từ bếp ga đốt anh Khanh. Anh Khanh bị cháy nên tri hô, được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đến ngày 03-10-2009 thì tử vong.

 

Tại Bản kết luận giám định số 339/GĐPY ngày 14-10-2009, Khoa giải phẫu bệnh-pháp y Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh kết luận: "anh Nguyễn Văn Khanh tử vong do choáng nhiễm trùng, nhiễm độc sau bỏng toàn thân có diện tích rộng và sâu”.

 

2. Quá trình tố tụng:

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2010/HSST ngày 20-01-2010 Tòa án nhân dân tỉnh T áp dụng khoản 2 Điều 93; các điểm b,đ,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Thanh Lan 4 năm tù về tội "giết người”.

 

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ/KNPT-P1A ngày 01-02-2010, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 02/2010/HSST ngày 20-01-2010 Tòa án nhân dân tỉnh T, đề nghị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt đối với Trần Thanh Lan.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 202/2010/HSPT ngày 15-4-2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Thanh Lan 12 năm tù về tội "giết người”.

 

Ngày 09-3-2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Kháng nghị giám đốc thẩm số 07/2011/HS-TK đối với bản án hình sự phúc thẩm số 202/2010/HSPT ngày 15-4-2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

3. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

Về việc áp dụng pháp luật:Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì nguyên nhân xảy ra vụ án có một phần lỗi của người bị hại là anh Nguyễn Văn Khanh đã nhiều lần gây gổ, chửi và đánh bị cáo. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự để kết án đối với bị cáo là có căn cứ, vì giữa bị cáo và người bị hại có quan hệ vợ chồng đã có mâu thuẫn với nhau trong thời gian dài; trong ngày xảy ra vụ án người bị hại đã liên tiếp thực hiện nhiều hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bị cáo làm bị cáo bị ức chế nên mới dùng xăng (mua về trước đó với mục đích là để đổ vào xe máy đã hết xăng) đốt người bị hại. Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định bị cáo dùng xăng đốt anh Khanh trong lúc anh Khanh đang ngủ, không thể tự vệ được thuộc trường hợp quy định tại điểm n (giết người có tính chất côn đồ) khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự là không đúng.

 

Về việc quyết định hình phạt:Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc các điểm b,đ,p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự (như tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại gây ra; thành khẩn khai báo) nên đã áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt 04 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Ngược lại, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ là không đúng và không áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, nên đã quyết định mức hình phạt 12 năm tù với bị cáo là nặng.

 

Vì vậy, tại Quyết định giám đốc thẩm số 03/2012/HS-GĐT ngày 13-02-2012, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị tuyên huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 202/2010/HSPT ngày 15-4-2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

Thông qua việc giải quyết vụ án này, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án, áp dụng pháp luật chính xác, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

 

(Ghi chú: Một số địa danh đã được BBT thay đổi)

 

--------------------------------

 

3. Thông báo rút kinh nghiệm vụ án Trần Văn Huy phạm tội "Giết người”

 

Nguồn : Thông báo rút kinh nghiệm số 134/TB-VKSTC-VPT1 ngày 12/06/2012

 

Khoảng 17 giờ ngày 04/01/2011 Trần Yăn Huy, Nguyễn Khắc Lượng, Nguyễn Khắc Trường (sinh năm 1993), Phùng Thế Tài cùng nhau đến dự tiệc cưới anh Ngọc, con trai ông Du. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Lượng điều khiển xe mô tô chở Hải, Trường đi về, Huy ở lại. Khi ra khỏi cổng nhà ông Du thì xe của Lượng bị đổ; anh Hoàng Văn Hưng đứng gần đấy thấy vậy nói: "Bọn Kim Bí nát rượu” dẫn đến Lượng và Trường nói nhau qua lại với anh Hưng, Huy ra can ngăn. Lượng dựng xe tiếp tục chở Trường, Hải đi tiếp. Khi đi được khoảng 300 mét, Lượng bảo quay xe máy lại hỏi xem "Thằng đó là thằng nào có dám chửi nữa không, nếu chửi thì đánh cho nó một trận”.Khi quay xe lại cả bọn thấy anh Hưng vẫn đứng ở đó. Lượng, Trường, Hải xuống xe, Lượng xông vào tát vào mặt anh Hưng, anh Hưng dùng gạch ném về phía Lượng. Lượng, Trường cũng nhặt gậy, gạch ném anh Hưng. Lúc này Huy đi từ nhà ông Du ra thấy anh Hưng bỏ chạy thì Huy cùng Lượng, Trường đuổi theo anh Hưng vào nhà ông Du. Vào đến sân nhà ông Du, Trường ném gạch, hất bàn vào người anh Hưng nhưng không trúng, Trường xông vào đạp tiếp một cái vào mặt anh Hưng, Huy áp sát người anh Hưng dùng dao nhọn mang sẵn từ trước đâm hai nhát vào bụng anh Hưng; tiếp đó Lượng dùng ghế nhựa đập vào đầu anh Hưng. Hậu quả anh Hưng bị chết hồi 22 giờ cùng ngày.

 

Cáo trạng truy tố Trần Văn Huy, Nguyễn Khắc Lượng, Nguyễn Khắc Trường về tội Giết người theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS. Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố.

 

Toà sơ thẩm áp dụng điểm n khoản 1 điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Huy 18 năm tù về tội "Giết người; áp dụng khoản 1 điều 245 điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46 (áp dụng thêm điều 69, điều 74 đối với bị cáo Trường) Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lượng 24 tháng tù, bị cáo Trường 15 tháng tù về tội "Gây rối trật tự công cộng”.

 

VKS nhân dân thành phố Hà Nội đã kháng nghị một phần về tội danh và mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Khắc Lượng, Nguyễn Khắc Trường; đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, xét xử các bị cáo Nguyễn Khắc Lượng, Nguyễn Khắc Trường về tội "Giết người” theo qui định tại điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS.

 

Trong vụ án này tuy các bị cáo không có bàn bạc từ trước về việc đánh anh Hưng nhưng hành vi đuổi theo anh Hưng rồi lần lượt dùng vũ lực tấn công anh Hưng của các bị cáo cho thấy các bị cáo đều thống nhất ý chí đánh cho anh Hưng một trận như ý định ban đầu của Lượng và Trường. Khi tấn công, Lượng và Trường phải biết hành vi của mình là nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của anh Hưng nhưng các bị cáo không cần biết hậu quả sẽ xẩy ra đối với anh Hưng như thế nào, thực tế hậu quả chết người xẩy ra thì phải xác định các bị cáo là đồng phạm trong vụ án giết người, cấp sơ thẩm quá chú trọng đến tình tiết nguyên nhân trực tiếp dẫn đến anh Hưng chết là do nhát đâm của bị cáo Huy để xét xử và quyết định hình phạt đối với Trường, Lượng về tội "Gây rối trật tự công cộng” là không phản ánh đúng bản chất của vụ án.

 

Xét thấy kháng nghị phúc thẩm của VKS sơ thẩm là có căn cứ, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị, sửa án sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc Lượng 05 năm tù, bị cáo Nguyễn Khắc Trường 03 năm tù về tội "Giết người”.

 

---------------------

 

4. Rút kinh nghiệm vụ án Nguyễn Xuân Chính có vi phạm về tổng hợp hình phạt bị kết án về các tội "tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, tội "hiếp dâm” và về tội "mua bán phụ nữ”

 

Nguồn: Thông báo số 137/TB-VKSTC-V3 ngày 12/06/2012

 

I/ Nội dung vụ án và quá trình tố tụng

 

Nguyễn Xuân Chính (tên gọi khác là Phúc), sinh năm 1967; trú tại phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; có một tiền án; tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 4/3/1992 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm áp dụng khoản 1 Điều 95; Điều 38; điểm đ Điều 44 Bộ luật hình sự năm 1985, xử phạt Nguyễn Xuân Chính 15 tháng tù về tội "tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng. Nguyễn Xuân Chính đã bị tạm giam từ ngày 15/8/1991 đến ngày 31/11/1991.

 

Ngày 30/6/1995 Nguyễn Xuân Chính và đồng bọn thực hiện hành vi hiếp dâm và hành vi mua bán phụ nữ; bị bắt tạm giam ngày 12/7/1995.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 78/HSST ngày 31/12/1996, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng các điểm a, b và c khoản 2 Điều 112; các điểm c,d khoản 1 Điều 115; Điều 41 và Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1985; xử phạt Nguyễn Xuân Chính 10 năm tù về tội "hiếp dâm” và 06 năm tù về tội "mua bán phụ nữ”; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 16 năm tù; tổng hợp hình phạt với 15 tháng tù về tội "tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” nhưng cho hưởng án treo, tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 4/3/1992 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 17 năm 3 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/1995.

 

Ngày 01/01/1997 Nguyễn Xuân Chính kháng cáo xin giảm hình phạt.

 

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 888/HSPT ngày 17/6/1997 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 78/HSST ngày 31/12/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

 

Bản án hình sự phúc thẩm số 888/HSPT ngày 17/6/1997 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

 

Tại quyết định giám đốc thẩm số 01/2012/HS-GĐT ngày 13/02/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm số 888/HSPT ngày 17/6/1997 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về phần quyết định:... "buộc bị cáo chấp hành hình phạt của bản án số 22 ngày 4/3/1992 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm. Tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 17 năm 3 tháng ( mười bẩy năm ba tháng) và bản án hình sự sơ thẩm số 78/HSST ngày 31/12/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần quyết định... "buộc bị cáo chấp hành hình phạt của bản án số 22 ngày 4/3/1992 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm. Tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 17 (mười bẩy) năm 3 (ba) tháng tù” đối với Nguyễn Xuân Chính và đình chỉ vụ án với việc giải quyết phần quyết định này.

 

II/Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 4/3/1992, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm áp dụng khoản 1 Điều 95; Điều 38; điểm đ Điều 44 Bộ luật hình sự năm 1985, xử phạt Nguyễn Xuân Chính 15 tháng tù về tội "tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Do bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, đến ngày 4/9/1994 thì thời hạn thử thách đối với Nguyễn Xuân Chính đã hết.

 

Đến ngày 30/6/1995 Nguyễn Xuân Chính cùng đồng bọn thực hiện hành vi hiếp dâm, mua bán phụ nữ. Khi xét xử bị cáo về các tội này, Tòa án cấp sơ thẩm còn tổng hợp hình phạt với hình phạt 15 tháng tù về tội "tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” nhưng cho hưởng án treo của bản án hình sự số 22/HSST ngày 4/3/1992. Như vậy, Hội đồng xét xử có sự nhầm lẫn khi xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân Chính thực hiện hành vi "hiếp dâm, mua bán phụ nữ” lại cho rằng Nguyễn Xuân Chính thực hiện tội phạm trong thời gian thử thách án treo ở tội tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng (án sơ thẩm số 22/HSST ngày 4/3/1992 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm).

 

Đây là sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật (khoản 5 Điều 60 và Điều 51 Bộ luật hình sự). Sau khi xét xử phúc thẩm bị cáo kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm đưa vụ án ra xét xử nhưng cũng không phát hiện ra sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm nên giữ nguyên bản án sơ thẩm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyễn Xuân Chính.

 

Những sai lầm nêu trên trách nhiệm thuộc về Hội đồng xét xử khi tổng hợp hình phạt. Nhưng với việc kiểm sát tuân theo pháp luật tại phiên tòa và kiểm sát bản án sau phiên tòa Kiểm sát viên cũng không phát hiện được những vi phạm trên, mãi sau 15 năm vi phạm này mới được phát hiện. Đây là những điểm cần lưu ý quan tâm khi gặp những trường hợp phải tổng hợp hình phạt và cũng cần rút kinh nghiệm chung trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự.

 

Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu./.

 

-------------------

 

5. Thông báo rút kinh nghiệm vụ án Dương Văn Hậu cùng đồng bọn phạm tội " giết người” và " cướp tài sản”.

 

Nguồn: Thông báo số 386/VPT3 ngày 11/06/2012

 

Qua công tác Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Vụ án Dương Văn Hậu cùng đồng bọn phạm tội "giết người” và "cướp tài sản” do Tòa án nhân dân tỉnh T xét xử sơ thẩm. Viện THQCT&KSXXPT tại TP.HCM xin thông báo đến các đồng chí một số vấn đề liên quan tới việc áp dụng các tình tiết định khung hình phạt khi truy tố và kiểm sát xét xử để cùng tham khảo rút kinh nghiệm.

 

I./ Nội dung vụ án:

 

Do muốn có tiền tiêu sài và sang cămpuchia đánh bạc, đêm 07 rạng sang 08/10/2011 các bị cáo Dương Văn Hậu và Hoàng Ngọc Linh đã cùng nhau bàn bạc giết chết anh Cao Thanh Tâm để lấy tài sản, sau khi chuẩn bị công cụ, chúng điện thoại cho anh Tâm chạy xe ô tô đến đón, sau đó chúng dùng dây dù siết cổ anh Tâm cho tới chết rồi chiếm đoạt anh Tâm tiền, điện thoại di động, xe ô tô…v.v Tổng giá trị tài sản trên 500.000.000đ.

 

Tại bản cáo trạng số: 48/QDD/KSĐT-VKS-P1A ngày 01/11/2011 của VKSND tỉnh T đã quyết định truy tố Dương Văn Hậu và Hoàng Ngọc Linh về tội " giết người” và tội "cướp tài sản” theo điểm e, g, o khoản 1 điều 93 và điểm a, b khoản 4 điều 133 BLHS. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19/11/2011 VKSND tỉnh T vẫn giữ nguyên các tình tiết định khung hình phạt với các bị cáo như cáo trạng.

 

Tại bản án số: 70/2011/HSST ngày 19/11/2011 của TAND tỉnh T đã áp dụng Đ93 k1 e, g, o; Đ 133 k4 a, b; Đ 46 k1 p; Đ 20; Đ 53 BLHS, xử phạt:

 

1- Dương Văn Hậu: Tử hình về tội "giết người”; 20 năm tù về tội "cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành là: Tử hình.

 

2- Hoàng Ngọc Linh: Tù chung thân về tội "giết người”, 18 năm tù về tội "cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành là : Tù chung thân.

 

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Dương Văn Hậu kháng cáo nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

 

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 28/03/2012 Viện THQCT&KSXXPT tại TP.HCM đề nghị Hội đồng xét xử: Không áp dụng các điểm e (giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng ) tại khoản 1 điều 93 BLHS và điểm a ( gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người) tại khoản 4 điều 133 BLHS đối với cả 02 bị cáo Dương Văn Hậu và Hoàng Ngọc Linh, vì áp dụng 02 tình tiết định khung nêu trên ở 02 tội đối với các bị cáo là không phù hợp với pháp luật. Giữ nguyên quyết định về hình phạt với các bị cáo như án sơ thẩm đã tuyên.

 

Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM chấp nhận đề nghị của Viện THQCT&KSXXPT tại TP.HCM, không áp dụng điểm e khoản 1 Điều 93 và điểm a khoản 4 Điều 133 BLHS đối với 02 bị cáo, chỉ áp dụng điểm g, o khoản 1 Điều 93, điểm b khoản 4 Điều 133, Đ 46 k1 p, Đ 20, Đ 53 BLHS với các bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định về hình phạt với các bị cáo Dương Văn Hậu và Hoàng Ngọc Linh như án sơ thẩm đã tuyên.

 

II./ Những vấn đề cần rút kinh nghiệm.

 

Cáo trạng số: 48/QĐ/KSĐT-VKS-P1A ngày 01/11/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh T áp dụng Đ 93 k1; Đ 133 k4 BLHS để truy tố , xét xử các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội , mức án đã tuyên là phù hợp. Tuy nhiên việc áp dụng tình tiết định khung tại điểm e khoản 1 Điều 93 ( giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng) và điểm a khoản 4 Điều 133 ( gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người) đối với cả 02 bị cáo trong vụ án này là không phụ hợp, bởi lẽ: Các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã chứng minh rõ động cơ của các bị cáo là giết người để cướp tài sản phù hợp với điểm g khoản 1 Điều 93 BLHS ( giết người để thực hiện tội phạm khác) đồng thời trước khi thực hiện tội phạm có sự bàn bạc phân công chuẩn bị công cụ rất rõ ràng , phù hợp với điểm o khoản 1 Điều 93 BLHS ( có tổ chức), vì vậy chỉ cần áp dụng các điểm g, o khoản 1 Điều 93 BLHS ( giết người để thực hiện tội phạm khác và có tổ chức) để truy tố. xét xử các bị cáo là đủ, cũng như ở tội " cướp tài sản” hậu quả chết người đã được coi là tình tiết định tội ở tội ở tội giết người rồi hoặc đã hút vào tội giết người, do vậy áp dụng thêm điểm a khoản 4 Điều 133 BLHS ( gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người) đối với các bị cáo trong tội cướp tài sản là không phù hợp vì vô hình chung hậu quả chết người áp dung 02 lần, bất lợi cho các bị cáo ( vừa áp dụng làm tình tiết định tội ở tội giết người lại vừa áp dụng làm tình tiết định khung ở tội cướp tài sản), do vậy đối với tội cướp tài sản chỉ cần áp dụng điểm b khoản 4 Điều 133 BLHS ( chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000đ trở lên để truy tố, xét xử các bị cáo là đủ.

 

Trên đây là một số vấn đề liên quan tới nhận thức và vận dụng các tình tiết định khung hình phạt rút ra qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án Dương Văn Hậu và đồng bọn phạm tội : "giết người” và tội "cướp tài sản”. Chúng tôi thấy cần thiết thông báo và trao đổi với các đồng chí để cùng rút kinh nghiệm chung, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự./.

 

----------------

 

6. Thông báo rút kinh nghiệm vụ án Huỳnh Quyết Tâm phạm tội " Giết người”.

 

Nguồn: Thông báo số 232/TB-VKSTC-V3 ngày 05/09/2012

 

Ngày 18/4/2012, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm vụ án Huỳnh Quyết Tâm bị kết án tử hình về tội "Giết người”. Qua vụ án này, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thấy cần thông báo để rút kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.

 

1/ Nội dung và quá trình giải quyết vụ án:

 

Theo Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm thì Huỳnh Quyết Tâm sinh ngày 31/6/1990; trú tại huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

 

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 22/3/2009, trong lúc ngồi uống rượu tại quán của chị Nguyễn Thị Mừng ở chợ Mỏ Công, Huỳnh Quyết Tâm phát sinh mâu thuẫn với anh Nguyễn Chí Tâm. Sau đó, Huỳnh Quyết Tâm cùng Huỳnh Thanh Vũ về lấy 01 con dao nhọn dài 25cm, rộng 3,2cm rồi quay lại quán để đánh nhóm anh Chí Tâm. Trong lúc hai bên đánh nhau, Huỳnh Quyết Tâm đã dùng dao đâm anh Chí Tâm 4-5 nhát vào vùng đầu, hông trái, ngực trái và thấu phổi. Lúc này, anh Phạm Minh Thư chạy đến định đánh Huỳnh Quyết Tâm thì bị Huỳnh Quyết Tâm dùng dao đâm 01 nhát trúng người, anh Thư bỏ chạy thì Huỳnh Quyết Tâm đuổi theo đâm 02 nhát vào lưng, thấu phổi. Hậu quả anh Nguyễn Chí Tâm và anh Phạm Minh Thư đều chết trên đường đi cấp cứu.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/2009/HSST ngày 19/8/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh áp dụng các điểm a, n khoản 1 Điều 93; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Huỳnh Quyết Tâm tử hình, Huỳnh Thanh Vũ 20 năm tù đều về tội "giết người”.

 

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Huỳnh Văn Mẻo (bố Huỳnh Quyết Tâm) cung cấp các tài liệu thể hiện bị cáo Tâm sinh năm 1991 chứ không phải 1990 (khi xảy ra vụ án Tâm chưa đủ 18 tuổi).

 

Ngày 20/8/2009, Huỳnh Quyết Tâm và Huỳnh Thanh Vũ kháng cáo xin giảm hình phạt.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 558/2010/HSPT ngày 10/9/2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo, không chấp nhận các tài liệu do gia đình bị cáo Tâm cung cấp, giữ nguyên phần trách nhiệm hình sự của bản án sơ thẩm.

 

Tại kháng nghị giám đốc thẩm số 27/2011/HS-KN ngày 16/11/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên đối với Huỳnh Quyết Tâm để điều tra lại.

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 07/2012/HS-GĐT ngày 18/4/2012, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy bản án hình sự sơ thẩm và bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để điều tra lại theo đúng qui định của pháp luật.

 

2. Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào các tài liệu như Giấy chứng minh nhân dân của Huỳnh Quyết Tâm thể hiện Tâm sinh ngày 31/6/1990, phù hợp với lời khai của Tâm tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, nên Tòa án cấp sơ thẩm kết luận Tâm sinh năm 1990, khi phạm tội đã đủ 18 tuổi và áp dụng hình phạt tử hình đối với bị cáo.

 

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Huỳnh Văn Mẻo (bố của Huỳnh Quyết Tâm) cung cấp các tài liệu thể hiện Tâm sinh năm 1991, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận những tài liệu này và xác định Tâm sinh ngày 31/6/1990. Tuy nhiên, việc xác định tuổi chính xác của Huỳnh Quyết Tâm còn thiếu căn cứ vững chắc bởi vì tháng 6 hàng năm chỉ có 30 ngày, không có ngày 31/6, đồng thời trong hồ sơ vụ án có nhiều tài liệu thể hiện mâu thuẫn về ngày, tháng, năm, sinh của Huỳnh Quyết Tâm, cụ thể như sau:

 

- Về giấy khai sinh của Huỳnh Quyết Tâm: bản gốc giấy khai sinh đã bị mất, chỉ thu được 02 bản sao thể hiện khác nhau về năm sinh của Tâm. Bản sao giấy khai sinh đề ngày đăng ký là 30/11/1995 do ông Nguyễn Văn Nưng ký sao y thể hiện Tâm sinh ngày 31/6/1990. Bản sao giấy khai sinh của Tâm đề ngày đăng ký là 30/6/1991 do ông Mai Văn Dìa (Phó chủ tịch UBND xã Trà Vong) ký sao y thể hiện Tâm sinh ngày 31/6/1991.

 

- Về sổ hộ khẩu: tại Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh lưu giữ 02 quyển sổ hộ khẩu của gia đình ông Huỳnh Văn Nài (ông nội Tâm) đều được cấp ngày 23/4/1994. Trong đó, 01 quyển có dấu sửa năm sinh của Tâm giữa 1990 và 1991; còn 01 quyển thể hiện Tâm sinh năm 1991. Tại kết luận giám định số 10 ngày 15/02/2010 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh xác định năm sinh của Tâm trong quyển hộ khẩu nêu trên đã bị sửa từ năm 1991 sang 1990. Kết luận này phù hợp với lời khai của ông Huỳnh Văn Mẻo là Tâm sinh năm 1991, sau đó ông xin sửa thành sinh năm 1990 để Tâm đi học trước tuổi.

 

- Về sổ đăng ký hộ khẩu tại xã Trà Vong: tại Công an xã Trà Vong lưu 02 quyển đăng ký hộ khẩu hộ khẩu thể hiện khác nhau về năm sinh của Tâm gồm: Sổ (số lưu trữ là quyển 7) thể hiện Tâm sinh năm 1990 và Sổ (không số) thể hiện năm sinh của Tâm có dấu sửa giữa 1990 và 1991. Bản kết luận giám định số 10 nêu trên xác định năm sinh của Tâm trong sổ đăng ký hộ khẩu này bị sửa từ 1991 sang 1990.

 

- Về lời khai của bà Lê Thị Lệ (người đỡ đẻ Huỳnh Quyết Tâm) thì không thống nhất, lúc thì khai sinh năm 1990, lúc thì khai sinh năm 1991.

 

Do đó, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm nêu trên để điều tra lại.

 

Qua vụ án trên thấy rằng: Huỳnh Quyết Tâm bị áp dụng mức hình phạt cao nhất là tử hình, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không chú trọng, làm rõ những mâu thuẫn về ngày, tháng, năm, sinh của bị cáo dẫn đến việc ra bản án với mức hình phạt tử hình thiếu căn cứ. Vụ Thực hành quyền công tố và Kiểm sát xét xử hình sự xin thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các địa phương để nghiên cứu, rút kinh nghiệm chung./.

 

------------------------

 

7. Thông báo rút kinh nghiệm vụ án Hồ Minh Trí phạm tội " Hiếp dâm trẻ em”

 

Nguồn: Thông báo số 537/2012/TB-VPT3

 

Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm đối với 02 vụ án hình sự có kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An đã được Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố chấp nhận. Viện Thực hành quyền công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh rút ra một số ưu điểm cũng nhứ tồn tại từ 02 bản kháng nghị này, xin thông báọ để các đồng chí cùng tham khảo rút kinh nghiệm.

 

1. Vụ thứ nhất: Hồ Minh Trí phạm tội "Hiếp dâm trẻ em”

 

Nội dung vụ án:

 

Ngày 20/8/2011 từ dục vọng, bị cáo Hồ Minh Trí đã thực hiện hành vi giao cấu với cháu Võ Thị Ngọc Nhi sinh ngày 05/01/1999 sau đó bị phát hiện bắt giữ. Trước đóvào tháng 7/2011 Trí cũng đã một lần thực hiện hành vi giao cu với cháu Võ Thị Ngọc Nhi.

 

Theo kết luận giám định pháp y của trung tâm pháp y tỉnh Long An thì màng trinh Võ Thị Ngọc Nhi giãn rộng

 

Hồ Minh Trí đã có 1 tiền án bị phạt 6 tháng tù giam về tội vi phạm các qui định về ĐKPTGTĐB, chấp hành xong ngày 23/8/2010

 

Bản án số 05/2012/HSST ngày 12/01/2012 của Toà án nhân dân tỉnh long An áp dụng Điều 112 Khoản 4, Điều46 Khoản 2 Điểm b, p; Điều 48 Khoản 1 Điểm g; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt Hồ Minh Trí 08 năm tù về tội "Hiếp dâm trẻ em”

 

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An có kháng nghị phúc thẩm số: 07/QĐ-KN ngày 16/01/2012 kháng nghị một phần bản ántrên, đề nghị phúc xử theo hướng tăng hình phạt với bị cáo với lập luận như sau: ... Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo Điểm b, p Khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, tuy nhiên bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần (02 lần) và nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án bị xét xử và bị phạt tù giam ... nhưng toà án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự tuyên mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là nhẹ và không đúng qui định của pháp luật ...v.v.

 

Tại phiên tòa phúc thẩm Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng nghị, tăng hình phạt với bị cáo, xử phạt Hồ Minh Trí từ 10 năm đến 12 năm tù về tội "Hiếp dâm trẻ em”. Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử: Chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số: 07/QĐ-KN ngày 16/01/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An, tăng hình phạt đối với bị cáo, xử phạt Hồ Minh Trí 10 năm tù về tội "Hiếp dâm trẻ em”.

 

2.Vụ thứ hai: Nguyễn Thị Ai phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”

 

Nội dung vụ án:

 

Năm 2006 Nguyễn Thị Ai rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán tiền hụi cho nhiều dây hụi dở dang, đầu năm 2007 Nguyễn Thị Ai có hành vi gian dối mở thêm 28 dây hụi có qui mô lớn nhằm hốt lén tiền hụi trả cho những người trước, đồng thời Ai cũng xác lập nhiều hợp đồng vay tài sản của nhiều người khác, bằng thủ đoạn trên Nguyễn Thị Ai đã chiếm đoạt được của 32 bị hại với tổng số tiền là 3.783.592.000đ đến tháng 6/2010 Ai khắc phục được 1.070.452.000đ còn lại Ai chiếm đoạt 2.713.500.000đ.

 

Tại bản án s 06/2012/HSST ngày 11+12/01/2012 của Toà án nhân dân tỉnh Long An áp dụng Điều 139 Khoản 4 Điểm a, Điều 46 Khoản 1, 2 Điểm b, p; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị Ai 07 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

 

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An có kháng nghị số: 09/QĐ-KN ngày 18/01/2012, kháng nghị một phần bản án trên, đề nghị phúc xử theo hướng tăng hình phạt với bị cáo với lập luận như sau: Qua xem xét bản án số 06/2012/HSST ngày 12/01/2012 của Toà án nhân dân tỉnh Long An là thiếu căn cứ, không tương xứng với hành vi phạm tội và định lượng mà bị cáo đã chiếm đoạt... trái với qui định tại Điểm b Mục 2.2 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của các Điều 139,193,194,278, 279, 289 Bộ luật hình sự 1999...v.v..

 

Tại phiên tòa phúc thẩm Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đ nghị hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An, tăng hình phạt với bị cáo, xử phạt Nguyễn Thị Ai 10 năm đến 12 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

 

Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử: Chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-KN ngày 18/01/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An, tăng hình phạt với bị cáo, xử phạt Nguyễn Thị Ai 10 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

 

MT S VẤNĐ RÚT RA TỪ 02 BẢNKHẢNG NGH NÊU TRÊN

 

Do làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự nên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An đã kịp thời ban hành các kháng nghị phúc thẩm khi phát hiện bản án sơ thẩm tuyên xử các bị cáo mức án quá nhẹ, không tương xứng với tính chất vụ án, không phù hợp với pháp luật và văn bản hướng dẫn đường lối xét xử các tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự 1999. Cả 02 bản kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An đều bảo đảm chặt chẽ về hình thức lẫn nội dung, đúng thủ tục và thời hạn pháp luật qui định

 

- Ưu điểm của kháng nghị phúc thẩm s: 07/QĐ-KN ngày 16/01/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An đối với vụ án Hồ Minh Trí phạm tội "Hiếp dâm trẻ em” là ở chỗ ngoài việc tập trung phân tích những điểm không phù hợp của bản án sơ thẩm khi đánh giá tính chất vụ án thì kháng nghị còn nêu được thiếu sót quan trọng mà bản án sơ thẩm đã bỏ qua không đề cập tới khi lượng hình đó là yếu tố nhân thân của bị cáo trong vụ án. Theo qui định tại Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì nhân thân bị cáo là một trong những căn cứ khi xem xét quyết định hình phạt, chính từ việc bỏ qua không xem xét tới yếu tố nhân thân bị cáo dẫn tới việc đánh giá của bản án sơ thẩm thiếu toàn diện và hệ quả là tuyên xử bị cáớ mức hình phạt không tương xứng, quá nhẹ.

 

-Những phân tích vàlập luận của Kháng nghị 07/QĐ-KN ngày 16/01/2012 của Viện trưởng, viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An đã thể hiện sự cân nhắc đánh giá một cách toàn diện tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đúng với qui định tại Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 qui định về căn cứ quyết định hình phạt. Tuy nhiên nếu trong kháng nghị nêu được một vài dòng về thực trạng tình hình phức tạp của tội phạm hiếp dâm trẻ em xảy ra ở địa phương cùng yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa loại tội này hiện nay thì kháng nghị sẽ mang tính thuyết phục cao hơn.

 

-Đối với kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-KN ngày 18/01/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An: Ưu điểm của kháng nghị này là đã viện dẫn cụ thể thiếu sót của bản án sơ thẩm đã không vận dụng đầy đủ qui định của pháp luật khi lượng hình, cụ thể là đã không vận dụng nghị quyết số: 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của các Điều 139,193,194, 278, 279, 289 Bộ luật hình sự 1999 khi xét xử vụ án này.Từ việc không vận dụng văn bản hướng dẫn đường lối xét xử tại nghị quyết dẫn tới việc tuyên xử bị cáo mức án quá nhẹ, không tương xứng với tính chất vụ án, không phù họp với pháp luật. Theo hướng dẫn áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Điểm b tiểu mục 2.2 của nghị quyết số: 01/2001/NQ- HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao nêu rõ: Trong

 

trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không có tình tiết tăng nặng hoặc có ít tình tiết tăng nặng hơn đồng thời đánh giá tính chất giảm nhẹ và tính chất tăng nặng xét thấy có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội thì có thể xử phạt người phạm tội mức án.... như sau:

 

a...

 

b- Xử phạt tù từ 12 năm đến 20 năm nếu tài sản bị chiếm đoạt cổ giá trị từ 1 tỷ 500 triệu đồng đến dưới 4 tỷ 500 triệu đồng..

 

Như vậy căn cứ vào hướng dẫn áp dụng Điểm a Khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Nghị quyết nêu trên thì thấy Nguyễn Thị Ai đã lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền là 3.783.592.000đ mà bản án sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ai 07 năm tù rõ ràng là quá nhẹ, không phù hợp, trái với hướng dẫn của Nghị quyết, do vậy kháng nghị tăng hình phạt với bị cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An là hoàn toàn có căn cứ vững chắc.

 

- Tuy nhiên trong vụ án này bị cáo Nguyễn Thị Ai phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự (phạm tội nhiều lần), bản án sơ thẩm không áp dụng nhưng kháng nghị lại không đề cập tới, nếu tình tiết này đươc nêu trong kháng nghị thì bản kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Long An sẽ thể hiện sự đánh giá toàn diện và mang tính thuyết phục cao hơn./.

 

------------------

 

8. Thông báo rút kinh nghiệm kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử một số vụ án giết người.

 

Nguồn: Thông báo số 646/TB-VKSTC-VPT2 ngày 15/11/2012

 

Thông qua công tác kiểm sát bản án và kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự, Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng phát hiện một số vụ án giết người cấp sơ thẩm truy tố, xét xử không đúng khung hình phạt và xử phạt các bị cáo mức án quá nhẹ, cần phải thông báo để các Viện kiểm sát nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm.

 

1. Nội dung vụ án và quá trình tố tụng:

 

1.1.Vụ án Trần Sỹ Hùng phạm tội "Giết người”:

 

Tối ngày 02-10-2011, Trần Đăng Khoa mời Phạm Xuân Thành, Lê Dũng Đồng, Cao Duy Thái (ở xã Văn Hoá) và Lê Quý Toản, Phạm Văn Hưng, Đoàn Anh Thư (ở xã Quảng Tiên) cùng Trân Sỹ Hùng (cháu của Hưng) đến nhà ông Nguyễn Hồng Duy (bố vợ Khoa) để uống rượu. Trong lúc uống rượu, Thái nói: "Anh em mình chưa biết nhau, mấy anh lên Văn Hoá có khi bị bọn em đập rồi”. Nghe vậy, Toản dùng tay tát vào mặt Thái, Thái xin lỗi rồi tiếp tục cùng uống rượu. Một lát sau, Thái từ chối không uống rượu nữa thì Hưng dùng tay đấm vào mặt Thái, Thư dùng chân đạp vào lưng Thái. Thấy vậy, Thành ôm vật Thư thì được mọi người can ngăn kéo ra. Khoa lấy chai nhựa, đèn pin ném về phía Thư. Hưng cầm dao nhảy lên giường đứng cạnh Thư nói: "Thằng mô đập thằng Thư tao chém”. Khoa cầm bơm xe đạp lao vào. Hưng dùng dao chém vào đầu Khoa rồi kéo Thư chạy ra ngoài sân. Lúc này Nguyễn Thế Anh (con ông Duy) ra đứng ở cửa gian nhà phía tây nói với Hưng và Thư "Bọn bây đến nhà tao uống rượu còn đập chắc trong nhà, bây không nể tao chi cả”. Lập tức, Trần Sỹ Hùng lấy 01 đoạn tre dài 90cm ở sân, cầm hai tay đánh từ trên xuống vào đầu Nguyễn Thế Anh, làm Anh ngã xuống nền nhà. Hùng đánh tiếp vào đầu Nguyễn Thế Anh, làm Anh bị vỡ xương hộp sọ. Mọi người đưa Thế Anh đến Bệnh viện Việt Nga- Cu Ba, Đồng Hới cấp cứu, đến 11 giờ 30’ ngày 06-10-2011 Nguyễn Thế Anh tử vong.

 

Tại bản giám định pháp y số 174 ngày 13-10-2011 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh kết luận: Nguyễn Thế Anh chết do chấn thương sọ não kín, tụ máu dưới da toàn bộ vùng thái dương, đỉnh, chẩm bên trái, vỡ xương hộp sọ hình chân chim, có nhiều mảnh rời vùng chẩm, tụ máu ngoài màng cứng và dưới màng cứng vùng chẩm hai bên, tụ máu dưới màng cứng vùng tiểu não trái, dập não vùng chẩm hai bên. Cáo trạng của Viện KSND tỉnh truy tố bị can Trần Sỹ Hùng về tội "Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Hùng mức án từ 05-07 năm tù.

 

Bản án sơ thẩm số 02/2012/HSST ngày 28-02-2012 của TAND tỉnh đã áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b,p khoản 1 Điều 46 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Sỹ Hùng 09 năm tù về tội "Giết người”.

 

Trong thời hạn luật định, bị cáo Trần Sỹ Hùng kháng cáo xin giảm hình phạt.

 

Ông Nguyễn Hồng Duy - đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt tù đối với bị cáo và tăng bồi thường dân sự.

 

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại, sửa án sơ thẩm, tăng hình phạt tù đối với bị cáo (vì không có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu chuyển khung hình phạt nên cấp phúc thẩm không thể hủy án để điều tra, truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 93 BLHS).

 

Bản án phúc thẩm số 219/2012/HSPT ngày 25-6-2012 của Tòa phúc thẩm TAND tối cáo tại Đà Nẵng đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; khoản 3 Điều 249 BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại, sửa án sơ thẩm.

 

Áp dụng khoản 2 Điều 93 điểm b,p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Sỹ Hùng 12 năm tù, về tội "Giết người” (tăng 03 năm tù).

 

1.2. Vụ án Nguyễn Xuân Thắng và đồng bọn phạm tội "Giết người”:

 

Vào khoảng 20h ngày 17-7-2011 nhóm thanh niên gồm: Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Xuân Phương, Nguyễn Ngọc Trung, Phan Văn Quang, Trần Xuân Phương, Trần Thanh Hùng, Phan Hồng Sơn, Phan Quốc Cường, Phan Văn Luận, Nguyễn Thế Lâm và một số người khác đều ở thôn Pháp Kệ, xã Quảng Phương đến nhà ông Nguyên Xuân Tân ở cùng thôn dự đám cưới. Cùng thời gian trên, Nguyễn Trung Hiếu, Phạm Ngọc Công, Phạm Xuân Tuấn, Nguyễn Việt Tuấn, Nguyễn Xuân Thuỷ và Sơn ở thôn Đông Dương, xã Quảng Phương cũng đến dự đám cưới. Đến khoảng 22h, hai nhóm thanh niên vừa hát, vừa nhảy và chúc rượu lẫn nhau. Trong lúc nhảy, Nguyễn Trung Hiếu ở thôn Đông Dương cầm chai rượu mời những người đang nhảy uống. Do Hiếu làm đổ rượu vào những người đang nhảy và vào người Nguyễn Xuân Thắng, nên Nguyễn Xuân Thắng chửi tục: "Đ.Mạ răng mi va tau”, Hiếu chửi lại: "Đ. Mạ tau lỡ va có chi mà láo rứa”. Do bức xúc nên Nguyễn Xuân Thắng dùng tay đấm vào mặt Hiếu, Hiếu bỏ chạy thì Phạm Quốc Cường đấm vào người Hiếu nhưng Hiếu dơ tay lên đỡ nên trúng vào tay. Nguyễn Xuân Thắng và Nguyễn Văn Thắng đuổi theo và đánh sau lưng của Hiếu. Cùng lúc Nguyễn Xuân Phương, Trần Xuân Phương, Nguyễn Ngọc Trung, Phan Văn Quang, Trần Thanh Hùng, Phan Hồng Sơn, Phan Văn Luận và Nguyễn Thế Lâm cũng đuổi theo Hiếu. Khi Hiếu chạy ra khỏi rạp cưới trèo lên đường bê tông để chạy thì Nguyễn Ngọc Trung cầm chân Hiếu, Nguyễn Xuân Thắng cầm áo Hiếu kéo lại làm cho Hiếu ngã xuống đất. Khi Hiếu đang nằm dưới đất thì Nguyễn Ngọc Trung dùng tay đấm vào miệng và dùng chân đạp hai cái vào người của Hiếu; Nguyễn Văn Thắng dùng chân đạp hai cái vào người của Hiếu và đạp một cái vào lưng của Hiếu; Nguyễn Ngọc Trung dùng chân đạp hai cái vào người của Hiếu; Phan Văn Quang dùng chân đạp hai cái vào người của Hiếu; Trần Xuân Phương dùng tay đấm liên tiếp 05 cái vào mặt và người Hiếu và cả nhóm đánh Hiếu liên tục cho đến khi Hiếu bị ngất, được nhiều người can ngăn thì bọn chúng không đánh nữa và quay lại vào rạp cưới tiếp tục nhảy một lúc mới giải tán. Riêng Phan Quốc Cường, Phan Văn Luận và Nguyễn Thế Lâm có chạy đuổi theo Hiếu nhưng chưa đánh được Hiếu vì bị nhiều người đến can ngăn. Hậu quả Nguyễn Trung Hiếu bị chết tại chỗ.

 

Tại bản kết luận giám định số 129 ngày 29-7-2011 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh kết luận: nguyên nhân Nguyễn Trung Hiếu chết là do "Đa chấn thương toàn thân: tụ máu dưới màng cứng thái dương đỉnh trái lan xuống chẩm trái; bầm tụ máu phổi; chảy máu nhu mô phổi; đụng dập thận”.

 

Tại bản cáo trạng số 187/VKS-P2 ngày 16-4-2012 của VKSND tỉnh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Xuân Phương, Nguyễn Ngọc Trung, Phan Văn Quang, Trần Xuân Phương, Trần Thanh Hùng và Phan Hồng Sơn về tội "Giết người” theo khoản 2 Điều 93 BLHS.

 

Bản án sơ thẩm số 10/2012/HSST ngày 31-7-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh đã áp dụng khoản 2 Điều 93; các điểm b,p khoản 1 Điều 46 BLHS đối với các bị cáo: Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Xuân Phương, Nguyễn Ngọc Trung, Phan Văn Quang, Trần Xuân Phương, Trần Thanh Hùng và Phan Hồng Sơn.

 

Áp dụng thêm Điều 69 và Điều 47 BLHS đối với các bị cáo: Nguyễn Ngọc Trung, Phan Văn Quang, Trần Xuân Phương, Trần Thanh Hùng và Phan Hồng Sơn.

 

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Thắng 08 năm tù, bị cáo Nguyễn Văn Thắng 07 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Xuân Phương 07 năm tù, bị cáo Nguyễn Ngọc Trung 5 năm 06 tháng tù, bị cáo Phan Văn Quang 05 năm tù, bị cáo Trần Xuân Phương 04 năm 06 tháng tù, bị cáo Trần Thanh Hùng 04 năm tù, bị cáo Phan Hồng Sơn 03 năm 06 tháng tù.

 

Trong thời hạn luật định, bị cáo Nguyễn Xuân Thắng kháng cáo xin giảm hình phạt. Đại diện hợp pháp người bị hại kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Xuân Thắng và bị cáo Nguyễn Ngọc Trung.

 

2. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

- Vụ thứ nhất: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Sỹ Hùng thuộc trường hợp có tính chất côn đồ. Giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn gì, bị hại Nguyễn Thế Anh chỉ nói: "Bọn bây đến nhà tau uống rượu còn đập chắc trong nhà, bây không nể tau chi cả”, vậy mà Hùng đã dùng đoạn tre dài 90cm đánh vào đầu Nguyễn Thế Anh nhiều cái, làm Thế Anh bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong. Hành vi vô cớ tước đoạt sinh mạng người khác của bị cáo Trần Sỹ Hùng lẽ ra phải bị truy tố, xét xử theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS và xử phạt bị cáo mức án trong khung hình phạt mới phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra. Nhưng cấp sơ thẩm lại truy tố, xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 93 BLHS là sai lầm trong việc áp dụng pháp luật và xử phạt bị cáo mức án qúa nhẹ, không đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

 

-Vu thứ hai: Vụ án này các bị cáo cũng phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ. Trong lúc mời rượu, do sơ suất nên Nguyễn Trung Hiếu làm đổ rượu vào người Nguyễn Xuân Thắng. Chỉ vì một va chạm nhỏ, vậy mà 08 bị cáo đã thay nhau dùng chân, tay đánh liên tiếp vào người Nguyễn Trung Hiếu. Khi Hiếu bỏ chạy, các bị cáo tiếp tục đuổi đánh cho đến khi Hiếu bị ngất và được mọi người can ngăn các bị cáo mới không đánh nữa. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã phạm tội "Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS, nhưng cấp sơ thẩm lại truy tố, xét xử các bị cáo theo khoản 2 Điêu 93 BLHS và xử phạt các bị cáo mức án quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả do các bị cáo gây ra, không có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

 

Nguyên nhân dẫn đến 02 vụ án nêu trên truy tố, xét xử các bị cáo không đúng khung hình phạt trước hết thuộc trách nhiệm của Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử. Do không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án và không nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn đường lối xử lý đối với tội phạm giết người nên Kiểm sát viên đã tham mưu Lãnh đạo Viện truy tố các bị can không đúng khung hình phạt và đề nghị xử phạt các bị cáo mức án quá nhẹ, không đúng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.

 

Hai vụ án nêu trên, khi Viện kiểm sát cấp trên nhận được bản án đều đã hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm. Mặc dù Viện THQCT &KSXXPT tại Đà Nẵng đã kiến nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, nhưng tình trạng gửi bản án chậm, nhất là những vụ án xét xử không đúng khung hình phạt và xử phạt bị cáo mức án nhẹ vẫn chưa được khắc phục.

 

Trên đây là 02 vụ án giết người, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử không đúng khung hình phạt dẫn đến xử phạt các bị cáo mức án quá nhẹ. Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nng thông báo để Viện kiểm sát nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm v công tác kim sát điu tra và kim sát xét x loại án giết người.

---------------------

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi