Về các tội xâm phạm sở hữu(phần II)

1.Vụ án Nguyễn Văn San phạm tội "huỷ hoại tài sản”.

Nguồn: Thông báo rút kinh nghiệm số 114/TB-VKSTC-VPT2 ngày 21/03/2012.

Ngày 21-02-2012, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án Nguyễn Văn San, can tội "huỷ hoại tài sản". Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã huỷ bản án sơ thẩm số 28/2011/HSST ngày 08-11-2011 của Toà án nhân dân tỉnh để điều tra tại. Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng thông báo để các Viện kiểm sát nhân dân địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm.

Nội dung vụ án: Theo nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm: Khoảng thời gian năm 2003, Nguyễn Văn San vào khu vực lô g, khoảnh 8, Tiểu khu 517, thuộc địa phận xã Đăk Tờ Re, huyện Kon Rẫy tỉnh K khai hoang khu vục đất khe suối, sình lầy đê trồng lúa nước.

Ngày 01-11-2006, Uỷ ban nhân dân tỉnh K ra quyết định số 1240/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và giao cho Công ty TNHH Duy Tân (nay là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân) thuê đất trồng rừng sản xuất, tại các Tiểu khu 516,517, 518, 550, 553, 554, thuộc xã Đăk Ruồng và xã, Đăk Tờ Re, huyện Kon Rẫy.

Năm 2006, Công ty TNHH Duy Tân đã tiến hành san ủi mặt bằng và ký hợp đồng giao khoán trồng, chăm sóc, phòng cháy, chữa cháy và quản lý bảo vệ rừng tại khu vực khoảnh 2, 3, 4, 5, 6 Tiểu khu 550 và khoảnh 4, 5, 6, 8 Tiểu khu 517 để trồng cây bạch đàn và xà cừ.

Năm 2010, Công ty Cổ phân đầu tư và phát triển Duy Tân thấy việc trồng cây xà cừ, bạch đàn một số Tiểu khu không có hiệu quả nên đã tiến hành trồng cây cao su. Do vậy cuối năm 2010, đầu năm 2011, Nguyễn Văn San đã vào khu vực lô g, khoảnh 8, Tiểu khu 517 chặt phá 3, 2 ha và khu vực lô p, khoảnh 3, Tiêủ khu 550 Chặt phá 2,9 ha cây xà cừ và cây bạch đàn của Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân.

Ngày 03-02-2011 , sau khi uống rượu, Nguyễn Văn San vào khu vực lô g, khoảnh 8, Tiểu khu 517 dùng bật lửa ga đốt làm cháy toàn bộ diện tích 3, 2 ha cây bạch đàn và cây xà cừ của Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân. Ngày 03- 02-2011, Nguyễn Văn San tiếp tục đốt làm cháy lan 09 ha rừng trồng bạch đàn.

Tại Bản kết luận giám định số 16/KL-ĐG ngày 20-7-20011 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Uỷ ban nhân dân tỉnh K kết luận: giá trị thiệt hại của 2,9 ha rừng bị chặt phá tại lô p, khoảnh 3, Tiểu khu 550; diện tích rừng bị chặt đốt 3,2 ha và 09 ha rừng cháy lan thuộc lô g, khoảnh 8, Tiểu khu 517 là 271.086.000đ.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn San đã tác động gia đình bồi thường cho Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân 7.000.000đ.

Quá trình tố tụng:

Cáo trạng số 16/QĐ-KSĐT ngày 26-8-2011 của Viện kiểm sát tỉnh truy tố Nguyễn Văn San về tội "Huỷ hoại tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 143 Bộ luật hình sự.

Bản án HSST số 28/2011/HSST ngày 08-11-2011 của TAND tỉnh đã áp dụng điểm g khoản 2 Điều 143; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 60 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn San 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng 8 ngày, về tội "Huỷ hoại tài sản".

Trong thời hạn luật định, ngày 21-01-2012 bị cáo Nguyễn Văn San kháng cáo yêu cầu kiểm tra hiện trường, xác minh, đối chất làm rõ số diện tích, số cây bị cháy, số diện tích bị cáo phát dọn và số cây con sống sót của Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân.

Bản án HSPT số 76/2012/HSPT ngày 21-02-2012 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đã Nẵng đã căn cứ khoản 2 Điều 250 BLTTHS huỷ bản án HSST số 28/2011/HSST ngày 08-11-2011 của TAND tỉnh để điều tra lại.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

-Về chứng cứ và đánh giá chứng cứ :

- Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, chưa đủ chứng cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn San chặt phá, đốt 15,1 ha rừng trống của Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân, gây thiệt hại 271.086.000đ. Cụ thể:

- Tại biên bản kiểm tra ngày 16-01-2011 Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân lập thể hiện: tại lô g, khoảnh 8, Tiểu khu 517 phát hiện bị chặt phá 3,2 ha diện tích bạch đàn trồng năm 2007 (biên bản không có đại diện UBND xã tham gia). ông Đạt có nhà rẫy gần đó cho biết: "ông Nguyễn Văn San phá rừng làm rẫy”.

- Tại biên bản kiểm tra ngày 03-02-2011, do Công ty Cổ phân đầu tư và phát trỉên Duy Tân lập thể hiện: Vào lúc 11 giờ ngày 03-02-2011, phát hiện đám cháy tại lô g, khoản 8, Tiểu khu 517. Ông Đạt nhà ở gần đó cho biết: "từ sáng tới lúc cháy chỉ có ông Nguyễn Văn San vào chúc tết” (biên bản không có đại diện UBND xã tham gia, không xác định diện tích bị cháy).

- Tại biên bản kiểm tra ngày 10-02-2011 do Hạt Kiểm lâm huyện và UBND xã lập thể hiện: Tiểu khu 550 thuộc địa phận quản lý hành chính xã Đăk Tờ Re phát hiện ông Nguyễn Văn San chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng tại lô p, khoảnh 3, Tiểu khu 550, diện tích 2,9 ha loại cây bạch đàn và xà cừ (biên bản kiểm tra nhưng lại khẳng định Nguyễn Văn San chặt phá rừng, nội dung biên bản có San tham gia, nhưng San không ký vào biên bản, không nêu rõ lý do).

Như vậy, tại hồ sơ vụ án có 03 biên bản kiểm tra hiện trường, trong đó có 02 biên bản do Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân lập, không có đại diện UBND xã tham gia, 01 biên bản do UBND xã và Kiểm lâm lập, không có đại diện Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân tham gia.

Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân (nguyên đơn dân sự) cho rằng, Nguyễn Văn San đã chặt phá 6,1 ha trong khoảng thời gian từ tháng 9, 10, 11 và tháng 12/2010 và làm cháy 09ha, nhưng bị cáo Nguyễn Văn San chỉ thừa nhận đã chặt khoảng giữa, trong tháng 11/2010, làm cháy khoảng 1,5 ha. Như vậy, giữa lời khai nguyên đơn dân sự và Nguyễn Văn San có mâu thuẫn, nhưng Cơ quan điều tra chưa tổ chức đối chất để làm rõ.

- Ông Tạ Duy Hoạch - đại diện Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân khai, Công ty đã phát hiện rừng bị chặt từ tháng 9, 10 năm 2010 và đã báo với chính quyền địa phương. Nhưng chưa điều tra làm rõ, khi Công ty phát hiện rừng bị chặt có lập biên bản hay không ? có xác định diện tích đã bị chặt trong từng lần phát hiện hay không ? ai là người có hành vi chặt pha rừng ?.

- Tại biên bản xác nhận khối lượng chăm sóc rừng trồng ngày 18-4-2010 do Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Duy Tân lập thể hiện: tại khoảnh 2, 3, 5, 7, Tiểu khu 550, xã Đăk Tờ Re, loại cây bạch đàn, xà cừ tỷ lệ sống >=85%. Nhưng biên bản định giá tài sản thiệt hại lại xác định tỉ lệ cây sống là 100%.

- Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Hội đồng định giá khai: tại thời điểm định giá, thông có tài liệu nào xác định tỷ lệ cây sống 80-85% do đó việc Hội đồng định giá xác định thiệt hại là chưa phù hợp với thực tế. Yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp lại hồ sơ đúng với thực tế để Hội đồng định giá xác định thiệt hại cho chính xác.

- Ông Tạ Duy Hoạch - đại diện nguyên đơn khai: Công ty trồng rừng năm 2007, đến năm 2010 mỗi năm đều có biên bản nghiệm thu và đánh giá chất lượng, tỷ lệ cây sống trên khu đất bị chặt phá là 80-85%. Để giảm bớt một phần tiền bồi thường cho bị cáo, Công ty đề nghị định giá thiệt hại với tỷ lệ rừng trồng là 70%.

Căn cứ lời khai của đại diện nguyên đơn dân sự tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Văn San chặt phá và đốt rừng gây thiệt hại 189.760.000đ và áp dụng khoản 2 Điều 143 BLHS để xét xử đối với bị cáo.

-Về thủ tục tố tụng: Cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.

Công ty Cổ phân đầu tư và phát triển Duy Tân là nguyên đơn dân sự nhưng ông Tạ Duy Hoạch - Trưởng ban dự án của Công ty lại tham gia Hội đồng định giá để xác định giá trị thiệt hại do rừng bị chặt, đốt là vi phạm khoản 4 Điều 60 và khoản 1 Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và điều tra chưa đầy đủ, nên cấp phúc thẩm phải huỷ án sơ thẩm để điều tra lại.

Trên đây là vụ án "Huỷ hoại tài sản” bị cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm để điều tra lại. Viện THQCT & KSXXPT tại Đà Năng thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu, rút kinh nghiệm.

2. Thông báo rút kinh nghiệm vụ án Nguyễn Văn Dũng phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” cấp phúc thẩm huỷ án điều tra lại.

Nguồn: Thông báo số 283/TB-VKSTC-VPT2 ngày 11/06/2012

Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm đối với vụ án Nguyễn Văn Dũng phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng thấy cần thông báo rút kinh nghiệm trong việc thu thập chứng cứ và đánh giá chứng cứ đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Nôi dung vu án:

Theo bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2008 đến năm 2009, Nguyễn Văn Dũng - Giám đốc Công ty TNHH thương mại Văn Dũng đã trực tiếp ký một số hợp đồng vay vốn có thế chấp tài sản đảm bảo với Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Huế, cụ thể:

Hợp đồng tín dụng số H0020/12, thời hạn vay từ ngày 26-5-2008 đến ngày 26-5-2011, khoản vay trung hạn 500.000.000đ, thế chấp bằng bản gốc giấy "Đăng ký xe ôtô” biển số 75K-1505.

Hợp đồng tín dụng số H0126/1LC, thời hạn vay tù’ ngày 26-12-2008 đến 26-12-2009, khoản vay trung hạn 1.250.000.000đ, thế chấp bằng bản gốc "Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” tại 276 Lê Duẩn, phường Phú Thuận, thành phố Huế”.

Hợp đồng tín dụng số H0132/1LC, thời hạn vay từ ngày 21-01-2009 đến ngày 21-01-2010, khoản vay trung hạn 370.000.000đ, thế chấp bằng bản gốc giấy "Đăng ký xe ôtô” biển số 75K-2323.

Hợp đồng tín dụng số H0135/1LC, thời hạn vay từ ngày 12-02-2009 đến ngày 12-02-2010, khoản vay trung hạn 160.000.000đ, thế chấp bàng bản gốc giấy "Đăng ký xe ôtô” biển số 75K-2109.

Hợp đồng tín dụng số H0231/1, thời hạn vay từ ngày 27-4-2009 đến ngày 26-4-2010, khoản vay ngắn hạn 500.000.00đ, thế chấp bằng bản gốc giấy "Đăng ký xe ôtô” biển số 75K-2609.

Tổng cộng tiền vay của 05 hợp đồng tín dụng nêu trên là 2.780.000.000 đồng.

Các hồ sơ tín dụng nêu trên đều do Võ Phúc Thịnh - nhân viên tín dụng Ngân hàng TMCP Đông Á-Chi nhánh Huế trực tiếp lập, theo dõi, quản lý khoản vay. Sau khi nhận được các tài sản thế chấp đảm bảo, Thịnh ký niêm phong và chỉ làm thủ tục ký nhập kho 02 bì hồ sơ có đựng bản gốc tài sản thế chấp là giấy "Đăng ký xe ôtô” 75K-1505 và "Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” tại 276 Lê Duẩn, còn lại 03 bộ hồ sơ có đựng bản gốc tài sản thế chấp là giấv "Đăng ký xe ôtô” các xe 75K-2323; 75K-2609 và 75K-2109, Thịnh không làm thủ tục nhập kho mà tự giữ lại tủ cá nhân để quản lý. Theo Thịnh khai, do tin tưởng nhau nên khi Dũng đặt vấn đề mượn các tài sản thế chấp nêu trên để giải quyết việc riêng, thì Thịnh đã đưa cho Dũng 03 bộ hồ sơ thế chấp mà Thịnh đang giữ; đồng thời tự xé niêm phong 02 bộ hồ sơ thế chấp đã nhập kho đưa cho Dũng, mặc dù lúc này Dũng chưa trả nợ xong cho ngân hàng.

Ngày 02-4-2010, Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Huế lập Hội đồng kiểm tra tài sản thế chấp, phát hiện 5 bộ hồ sơ gốc tài sản thế chấp do Thịnh nộp không còn trong hồ sơ vay vốn đang cất giữ tại kho Ngân hàng, nên làm đơn tố cáo gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế.

Sau khi có được 05 bộ hồ sơ gốc tài sản thế chấp do Thịnh đưa, Nguyễn Văn Dũng đem các tài sản thế chấp này cùng với một số tài sản khác cùa Công ty TNHH TM Văn Dũng làm hồ sơ thế chấp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội- Chi nhánh Huế; đồng thời thông báo đã trả nợ xong cho Ngân hàng TMCP Đông Á- Chi nhánh Huế.

Tại thời điểm tháng 7/2009, khi Thịnh đưa 05 bộ hồ sơ thế chấp cho Dũng thì dư nợ gốc tại 05 hợp đồng tín dụng là 2.598.000.000 đồng. Sau đó Ngân hàng TMCP Đông Á- Chi nhánh Huế tiếp tục thu nợ được 126.000.000 đồng (không xác định được nguồn tiền của Dũng hay Thịnh) nên nợ gốc còn lại là 2.472.000.000 đồng.

Khi Ban giám đốc Ngân hàng TMCP Đông Á- Chi nhánh Huế quy kết trách nhiệm cho Thịnh khoản nợ của 05 hợp đồng tín dụng này, thì Thịnh đã nhờ Dũng lập " Thư cam kết (bảo lãnh) ngày 14-4-2010” với nội dung là Thịnh nợ Ngân hàng TMCT Đông Á-Chi nhánh Huế 2.472.000.000 đồng của 05 hợp đồng tín dụng nêu trên và Công ty TNHH thương mại Văn Dũng trả nợ thay Thịnh số tiền 2.472.000.000 đồng trong vòng 03 tháng. Sau đó, gửi văn bản này cho Ban giám đốc Ngân hàng TMCP Đông Á- Chi nhánh Huế theo dõi thực hiện. Nhưng sau đó cam kểt này không được thực hiện. Tuy vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm vẫn kết luận Nguyễn Văn Dũng chiếm đoạt khoản tiền 2.472.000.000 đồng.

Quá trình tố tụng:

*Bản án hình sự sơ thẩm sổ 18/2011/HSST ngày 22-11-2011 của TAND tỉnh đã quyết định: Áp dụng điểm a, khoản 4, Điều 140 BLHS; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Dũng 16 năm tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 3 Điều 179; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Phúc Thịnh 12 năm tù về tội "Vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”.

Ngoài ra bản án còn quyết định phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

*Ngày 02-12-2011 bị cáo Nguyễn Văn Dũng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 01-3-2012, bị cáo Nguyễn Văn Dũng có đơn kháng cáo bổ sung với nội dung kêu oan, bị cáo cho rằng mình không phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như bản án sơ thẩm xử phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn Dũng một mực kêu oan và cho rằng toàn bộ số tiền vay tại 05 họp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Huế bị cáo đã tất toán xong thông qua Võ Phúc Thịnh cán bộ tín dụng nên bị cáo mới được nhận lại hồ sơ tài sản thể chấp từ Thịnh. Còn Võ Phúc Thịnh thừa nhận hành vi sai phạm của mình đã tạo điều kiện để bị cáo Dũng chiếm đoạt số tiền 2.472.000.000 đồng của ngân hàng TMCP Đông Á- Chi nhánh Huế.

*Tại phiên toà phúc thẩm ngày 30-3-2012, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Nhận thấy, việc điều tra thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm chưa đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.

*Bản án hình sự phúc thẩm số 146/2012/HSPT ngày 30-3-2012 của Toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng căn cứ điểm c khoản 2 Điều 248; khoản 1 Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự, quyểt định: huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 18/2011/HSST ngày 22-11-2011 của Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ; chuyển hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm đế điều tra lại.

Thiếu sót của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm.

Chứng cứ, tài liệu tại hồ sơ vụ án thể hiện: Ngân hàng TMCP Đông Á-Chi nhánh Huế cho bị cáo Dũng vay 2.780.000.000 đồng tại 05 hợp đồng tín dụng; tài sản thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay là 04 bộ hồ sơ gốc giấy đăng ký xe ô tô và một bộ hồ sơ quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở. Về việc thanh toán nợ vay, Ngân hàng TMCP Đông Á-Chi nhánh Huế và bị cáo Thịnh cho rằng bị cáo Dũng chưa thanh toán xong nợ gốc và tiền lãi còn việc bị cáo Dũng có được 05 bộ hồ sơ thế chấp là do bị cáo Thịnh cho bị cáo Dũng mượn vì nể nang bạn bè; ngược lại, bị cáo Dũng khai việc bị cáo được nhận lại 05 bộ hồ sơ thế chấp là do đã gửi đủ tiền cho bị cáo Thịnh và nhờ bị cáo Thịnh trả hết nợ gốc và tiền lãi cho Ngân hàng TMCP Đông Á-Chi nhánh Huế nên mới được bị cáo Thịnh trả lại 05 bộ hồ sơ thế chấp. Mâu thuẫn của các chứng cứ này chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm giải quyết triệt để và kết luận chính xác.

Ngoài ra, chứng cứ tại hồ sơ thể hiện "Thư cam kết (bảo lãnh) ngày 14-4-2010” (BL:564) có nội dung là bị cáo Thịnh nợ Ngân hàng TMCP Đông Á-Chi nhánh Huế 2.472.000.000 đồng của 05 hợp đồng tín dụng nêu trên và Công ty TNHH thương mại Văn Dũng do bị cáo Dũng làm Giám đốc bảo lãnh trả nợ thay bị cáo Thịnh số tiền 2.472.000.000 đồng trong vòng 03 tháng. Nội dung này có phần phù hợp với lời khai của .bị cáo Dũng là "đã gửi tiền cho bị cáo Thịnh trả nợ cho ngân hàng nên mới được Thịnh giao lại hồ sơ thế chấp”. Như vậy, nếu bị cáo Thịnh đã nhận 2.472.000.000 đồng của bị cáo Dũng nhưng không nộp cho ngân hàng thì chính bị cáo Thịnh là người chiếm đoạt tài sản; còn nếu, bị cáo Dũng chưa nộp tiền cho ngân hàng nhưng bị cáo Thịnh rút hồ sơ thế chấp đưa cho bị cáo Dũng tiếp tục thế chấp cho ngân hàng khác để vay tiền, thì bị cáo Thịnh đồng phậm với bị cáo Dũng về hành vi chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng TMCP Đông Á-Chi nhánh Huế.

Vì vậy, cần phải điều tra, chứng minh làm rõ và kết luận chính xác bị cáo Dũng hay bị cáo Thịnh chiếm đoạt số tiền gốc tại 05 hợp đồng tín dụng nêu trên, trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, cũng như xác định yếu tố đồng phạm giữa bị cáo Dũng với bị cáo Thịnh; những vấn đề này chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm điều tra, chứng minh làm rõ.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm thông qua vụ án này

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử cần thực hiện nghiêm túc nguyên tắc xác định sự thật của vụ án quy định tại Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự là " ...phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp đế xác định sự thật của vụ án một cách khách quan , toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội... Đồng thời phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm đánh giá chứng cứ quy định tại Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự đó là "1. Mỗi chúng cứ phải được đánh giả để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án... 2. ...Kiểm sát viên xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm , sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết vụ án”. Nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng xin thông báo đến các Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu rút kinh nghiệm, để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án hình sự.

3. Rút kinh nghiệm vụ án Vũ Quốc Hội có vi phạm về tổng hợp hình phạt bị kết án về các tội "làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Nguồn: Thông báo số 137/TB-VKSTC-V3 ngày 12/06/2012

I/ Nội dung vụ án và quá trình tố tụng

Vũ Quốc Hội, sinh năm 1975; trú tại số 10 ngõ Hòa Bình 4, phố Minh Khai, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội bị kết án về các tội "làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản” ở nhiều bản án thể hiện như sau:

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng khoản 1 và khoản 4 Điều 267; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Vũ Quốc Hội 12 tháng tù về tội "làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 355/2010/HSPT ngày 6/7/2010 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 51 Bộ Luật hình sự, xử phạt Vũ Quốc Hội 12 năm tù về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tổng hợp hình phạt với 12 tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc Vũ Quốc Hội phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 13 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/2/2008.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 269/2011/HSPT ngày 13/5/2011, của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dung điểm a khoản 4 Điều 139; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 51 Bộ luật hình sự giữ nguyên bản án sơ thẩm số 188/2010/HSST ngày 19/4/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Vũ Quốc Hội 13 năm tù về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc Vũ Quốc Hội phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 14 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2008.

Bản án hình sự phúc thẩm số 269/2011/HSPT ngày 13/5/2011 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 188/2010 ngày 19/4/2010 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 06/2012/HS-GĐT ngày 27/3/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm số 269/2011/HSPT ngày 13/5/2011 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 188/2010 ngày 19/4/2010 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội về phần quyết định: "áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự”, "Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù về tội làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 14 năm tù” đối với Vũ Quốc Hội để tiến hành việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo đúng quy định của pháp luật.

II/ Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Năm 2009, Vũ Quốc Hội bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội kết án 12 tháng tù về tội "làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” (tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009).

Năm 2010, Vũ Quốc Hội lại bị Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội kết án 12 năm tù về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tổng hợp với 12 tháng tù về tội "làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” của bản án số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009 buộc Vũ Quốc Hội phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 13 năm tù ( tại bản án số 355/2010 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội).

Với hành vi lừa đảo khác Vũ Văn Hội bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (tại bản án hình sự sơ thẩm số 188/2010/HSST ngày 19/4/2010) xử phạt 13 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo kháng cáo; Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã giữ nguyên bản án sơ thẩm và tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc Vũ Quốc Hội phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 14 năm tù. (tại bản án hình sự phúc thẩm số 269/2011/HSPT ngày 13/5/2011). Như vậy, lần này, khi tổng hợp hình phạt lại một lần nữa tổng hợp 12 tháng tù về tội "làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” tại bản án hình sự phúc thẩm số 235/2009/HSPT ngày 29/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Trước đấy bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 6/7/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã được tổng hợp hình phạt. Trong khi đó, hình phạt 13 năm tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 355/2010/HSPT ngày 6/7/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội lại không được tổng hợp với hình phạt 13 năm tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 269/2011/HSPT ngày 13/5/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội; nếu được tổng hợp hình phạt thì Vũ Quốc Hội phải chịu một hình phạt là 26 năm tù. Đây là sai lầm nghiêm trọng trong việc tổng hợp nhiều bản án đối với bị cáo Vũ Quốc Hội.

Những thiếu sót trong việc tổng hợp bản án như đã phân tích ở trên, khi bị cáo phạm nhiều tội cần quan tâm ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố, và xét xử nhất là khi xác minh lý lịch bị can cũng như trích lục tiền án, tiền sự, Cơ quan điều tra cần làm rõ trong hồ sơ, tránh xem xét qua loa. Nhất là Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án phải hết sức thận trọng, lưu tâm trong quá trình tiến hành tố tụng. Chính những thiếu sót nêu trên cũng không được Kiểm sát viên phát hiện nên dẫn đến sai lầm từ cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm trong phần tổng hợp hình phạt đối với nhiều bản án; chỉ đến khi Vũ Quốc Hội chấp hành hình phạt tại trại giam thì mới được phát hiện những thiếu sót về tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Vũ Quốc Hội.

4. Rút kinh nghiệm vụ án Trần Văn Nghĩa phạm tội " Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Nguồn: Thông báo số 285/TB-VKSTC-V3 ngày 06/10/2012

Ngày 01/12/2011, Tòa hình sự- Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Văn Nghĩa bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và Tòa án cấp phúc thẩm kết án về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thông qua vụ án này, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thấy cần rút kinh nghiệm về việc kết án bị cáo, nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần vào việc nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự.

1. Nội dung vụ án

Theo nội dung bản án sơ thẩm và phúc thẩm: Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiện Tài (viết tắt là Công ty TNHH Thiện Tài) thành lập và được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh NB cấp giấp phép đăng ký kinh doanh "Trồng và chế biến sản phẩm từ gấc” từ ngày 22/01/2008 gồm 02 thành viên có trụ sở giao dịch tại số nhà 405 phố Khánh Tân, phường Ninh Khánh, thành phố NB, tỉnh NB do ông Nguyễn Trí Thiện (tức Thích Trí Thiện) sinh năm 1966 tu hành tại chùa Phổ Quang, thuộc phường Giang Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội làm Chủ tịch hội đồng thành viên; Trần Văn Nghĩa làm Giám đốc. Công ty có vốn điều lệ là 3,5 tỷ đồng, trong đó ông Thiện góp 2 tỷ đồng ( gồm đất và tài sản trên đất là mảnh đất 8,3 ha ở xã Quảng Lạc, huyện NQ, tỉnh NB và 0,5 ha đất tại xã Quang sơn, thị xã TĐ, tỉnh NB). Trần Văn Nghĩa góp 1,5 tỷ đồng nhưng hiện tại chưa có vốn. Sau khi công ty đi vào hoạt động, ông Thiện và Nghĩa đã thống nhất để chị Phạm Thị Thanh Duyên sinh năm 1984 làm kế toán viên ghi chép kiêm thủ quỹ. Đến ngày 24/2/2008 được sự nhất trí của Hội đồng thành viên, Trần Văn Nghĩa ký quyết định bổ nhiệm ông Trương Đăng Công làm kế toán trưởng công ty, Nghĩa đã đưa ông Công ký vào một số biểu mẫu đề nghị mở tài khoản tại Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh NB, nhưng đến khi Nghĩa bị bắt Công ty TNHH Thiện Tài chưa mở tài khoản tại Ngân hàng.

Quá trình hoạt động, ngày 17/3/2008 ông Thiện bàn với Nghĩa mời ông Trương Đăng Công kế toán trưởng vào làm thành viên mới của công ty, ông Công đồng ý và về nhà làm hồ sơ. Ngày 13/8/2008, Nghĩa đã ký biên bản họp Hội đồng thành viên số 0003/BB-HĐTV thống nhất bổ sung thêm thành viên mới là ông Trương Đăng Công, tổng số vốn điều lệ của công ty không thay đổi, phần vốn góp mới của ông Công sẽ là tổng số vốn do ông Thiện và Nghĩa chuyển nhượng lại. Cụ thể: ông Thiện chuyển nhượng cho ông Công 600.000.000 đồng = 17,14% vốn điều lệ, Nghĩa chuyển nhượng cho ông Công 450.000.000 đồng = 12,68% vốn điều lệ. Như vậy, sau khi chuyển nhượng, tỷ lệ vốn góp của các thành viên sẽ là: ông Thiện 1,4 tỷ đồng = 40%, Trần Văn Nghĩa 1,05 tỷ đồng = 30%, Trương Đăng Công 1,05 tỷ đồng = 30%. Đồng thời, Nghĩa ký đóng dấu vào các văn bản tài liệu như: Hợp đồng chuyển nhượng vốn số 001 với nội dung Nghĩa chuyển nhượng cho ông Công 450.000.000 đồng; Hợp đồng chuyển nhượng vốn số 002 với nội dung ông Thiện chuyển nhượng cho ông Công 600.000.000 đồng; Danh sách 03 thành viên công ty TNHH Thiện Tài; Phiếu thu không số với nội dung thu của ông Công 1,05 tỷ đồng; 01 phiếu chi không số nội dung Nghĩa đã nhận 450.000.000 đồng trả lại vốn góp; 01 phiếu chi không số nội dung ông Thiện đã nhận 600.000.000 đồng trả lại vốn góp. Sau đó, Nghĩa không làm thủ tục cho ông Công vào làm thành viên thứ ba của công ty và đem toàn bộ hồ sơ về nhà anh Dương Nam Sơn trú tại số 7 ngõ 100, đường Trần Huy Liệu, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định cất giấu. Ngày 16/5/2008, anh Dương Nam Sơn đem toàn bộ số tài liệu đến trụ sở Công ty TNHH Thiện Tài giao cho ông Thiện. Ngày 18/5/2008, chị Phạm Thị Thanh Duyên nộp tại Cơ quan điều tra 04 quyển sổ quỹ thu, chi của công ty. Ngày 11/6/2008, ông Trương Đăng Công nộp tại Cơ quan điều tra 01 quyển phiếu thu, 01 quyển phiếu chi và một số giấy tờ, tài liệu khác. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét cơ sở sản xuất của công ty thu giữ 01 con dấu mang tên giám đốc Trần Văn Nghĩa, 14.260.000 đồng và một số giấy tờ, tài liệu liên quan đến hoạt động của công ty, đồng thời kê biên tài sản nằm trên diện tích 8,8 ha ở xã Quảng Lạc, huyện NQ của công ty. Ngày 18/6/2008, Trần Văn Nghĩa bị bắt tạm giam.

2. Quá trình giải quyết vụ án

Tại Cáo trạng số 136/VKS - HS ngày 29/10/2008 Viện kiểm sát nhân dân thành phố NB, tỉnh NB truy tố Trần Văn Nghĩa về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2009/HSST ngày 03/3/2009, Toà án nhân dân thành phố NB áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn Nghĩa 09 năm tù về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, các Điều 604, 605, 606, 608 Bộ luật dân sự buộc Trần Văn Nghĩa trả lại cho anh Trương Đăng Công số tiền là 450.000.000 đồng.

Ngày 06/3/2009, Trần Văn Nghĩa kháng cáo kêu oan.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 14/2009/HSPT ngày 23,24/6/2009, Toà án nhân dân tỉnh NB áp dụng điểm d khoản 3 Điều 140; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn Nghĩa 09 năm tù về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, các Điều 604, 605, 606, 608 Bộ luật dân sự buộc Trần Văn Nghĩa trả lại cho anh Trương Đăng Công số tiền là 450.000.000 đồng.

Tại Quyết định Kháng nghị giám đốc thẩm số 20/QĐ-VKSTC-V3 ngày 01/6/2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 14/2009/HSPT ngày 23,24/6/2009 của Toà án nhân dân tỉnh NB và đề nghị Toà hình sự- Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 12/2009/HSST ngày 03/3/2009 của Toà án nhân dân thành phố NB đã kết án đối với Trần Văn Nghĩa để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 36/2011/GĐT ngày 01/12/2011, Tòa hình sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 14/2009/HSPT ngày 23,24/6/2009 của Toà án nhân dân tỉnh NB và bản án hình sự sơ thẩm số 12/2009/HSST ngày 03/3/2009 của Toà án nhân dân thành phố NB để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

3. Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào bút tích và chữ ký của Trần Văn Nghĩa để lại trên phiếu chi không số ngày 18/3/2008 với nội dung là "Tôi đã nhận đủ số tiền là 450 triệu đồng VN” và cho rằng Trần Văn Nghĩa đã lợi dụng danh nghĩa là thành viên công ty thông qua hợp đồng chuyển nhượng một phần vốn góp của mình ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mặc dù chưa nộp phần vốn góp của mình, sau đó nhận 450 triệu đồng tiền mặt của ông Trương Đăng Công, nhưng không làm thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh, cố tình trốn tránh việc họp Hội đồng thành viên để giải quyết số tiền này, đến nay vẫn không thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền này là phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Nhận xét trên của Tòa án cấp phúc thẩm là chưa đủ căn cứ vững chắc để quy kết hành vi của Trần Văn Nghĩa phạm tội . Bởi: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án còn nhiều thiếu sót, chưa thu thập đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với Trần Văn Nghĩa. Cụ thể như sau:

Công ty TNHH Thiện Tài được thành lập ban đầu chỉ có hai thành viên là Trần Văn Nghĩa và ông Nguyễn Trí Thiện, với số vốn điều lệ kê khai trong hồ sơ là 3,5 tỷ đồng, trong đó ông Thiện góp vốn là 2 tỷ đồng, Nghĩa góp vốn là 1,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm Công ty được thành lập cả ông Thiện và Nghĩa đều chưa có đồng vốn nào. Trong khi theo quy định của Luật Công ty thì điều kiện bắt buộc khi thành lập công ty là "thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản góp vốn như đã cam kết” nhưng Cơ quan điều tra chưa điều tra, làm rõ việc Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh NB cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty TNHH Thiện Tài.

Các lời khai của Trần Văn Nghĩa đều không thừa nhận đã nhận số tiền 450.000.000 đồng của ông Trương Đăng Công mà cho rằng chỉ nhằm hợp thức hóa hồ sơ kết nạp ông Trương Đăng Công vào làm thành viên của công ty. Ông Trương Đăng Công và ông Nguyễn Trí Thiện đều khai Trần Văn Nghĩa đã nhận số tiền trên, nhưng Cơ quan điều tra chưa tiến hành đối chất để xác định rõ bản chất sự việc.

Tại các phiếu thu, phiếu chi không có số chỉ có chữ ký của Trần Văn Nghĩa với tư cách vừa là thủ trưởng đơn vị, vừa là người nhận tiền và chữ ký của ông Trương Đăng Công với tư cách vừa là kế toán trưởng, vừa là người lập phiếu, người nộp tiền và vừa là thủ quỹ. Nhưng Cơ quan điều tra chưa làm rõ tại sao khi ông Trương Đăng Công giao tiền, Công ty Thiện Tài đã không làm đúng quy định của Luật Tài chính kế toán là phải có đủ chữ ký của người lập phiếu và thủ quỹ.

Ông Trương Đăng Công biết Công ty TNHH Thiện Tài tại thời điểm đó Tài khoản chưa mở tại Ngân hàng, thủ quỹ chưa có, đất thì đang phải vay tiền để mua, Trụ sở công ty đang phải đi thuê. Ông Trương Đăng Công lại khai do tin tưởng ở Nghĩa và ông Thiện đã góp vốn điều lệ vào công ty. Nhưng Cơ quan điều tra chưa làm rõ những vấn đề này và tiền góp vốn của Nghĩa và ông Thiện để ở đâu chưa được chứng minh. Mặt khác, nếu công ty không có tiền, chỉ có đất và một số tài sản trên đất thì tại sao việc chuyển nhượng vốn lại bằng tiền?

Toàn bộ hồ sơ kết nạp thành viên thứ ba do ông Trương Đăng Công lập đều theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trong đó chứng từ thu, chi đều thể hiện việc chuyển nhượng vốn chứ không phải là giao nhận tiền giữa các cá nhân với nhau. Trong khi Trần Văn Nghĩa không bỏ trốn, quá trình điều tra không chứng minh được Trần Văn Nghĩa bỏ trốn; Đồng thời công ty TNHH Thiện Tài vẫn còn đất và các tài sản trên đất (Toàn bộ tài sản trên đất và giá trị mảnh đất 8,8 ha hiện tại là bao nhiêu quá trình điều tra cũng chưa được định giá).

Ngày 08/5/2008, ông Trương Đăng Công có đơn tố cáo Trần Văn Nghĩa và ông Nguyễn Trí Thiện đã nhận 1.050.000.000 đồng mà không đưa ông Trương Đăng Công vào làm thành viên của công ty (trong đó Trần Văn Nghĩa ký nhận 450.000.000 đồng, ông Nguyễn Trí Thiện ký nhận 600.000.000 đồng). Như vậy, cần phải giải quyết triệt để trong vụ án này có hay không có sự đồng phạm của ông Nguyễn Trí Thiện (nếu như xác định là Trần Văn Nghĩa có tội). Còn việc ông Thiện trả lại cho ông Công 500.000.000 đồng chỉ là việc khắc phục hậu quả.

Trong vụ việc này cần phải được nghiên cứu kỹ: như tại phiếu thu không số ngày 18/3/2008 ông Trương Đăng Công có nộp 1.050.000.000 đồng với lý do góp vốn vào công ty để được kết nạp làm thành viên, nhưng nay Trần Văn Nghĩa chưa làm thủ tục kết nạp thành viên mới cho ông Trương Đăng Công, kết hợp với việc vay và nợ giữa các bên trong việc thành lập công ty đều có sự thỏa thuận. Như vậy, việc tranh chấp về phần vốn góp phải giải quyết theo quy định của Điều lệ công ty, Luật Doanh nghiệp và Pháp luật về kinh tế điều chỉnh.

Do còn nhiều tình tiết của vụ án chưa được giải quyết, cần phải được làm rõ hành vi gian dối của Trần Văn Nghĩa có chiếm đoạt tài sản của ông Trương Đăng Công hay không cần phải điều tra lại.

Thông qua vụ án này, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo để Viện kiểm sát nhân dân địa phương nghiên cứu, trao đổi nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự./.

5. Thông báo rút kinh nghiệm số 370/TB-VKSTC-V3 ngày 27/11/2012 rút kinh nghiệm vi phạm về tổng hợp hình phạt đối với vụ án Trần thị Liên phạm tội trộm cắp tài sản

Đây là vụ án mà trong quá trình giải quyết cơ quan tiến hành tố tụng còn vi phạm trong việc áp dụng Điều 51 Bộ luật hình, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự xin nêu một số điểm vi phạm để các Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu.

1/ Nội dung vụ án :

Khoảng 19 giờ ngày 5/6/2011, Trần Thị Liên, trú tại 5/89 Hạ Lý – quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng rủ em trai là Trần văn Chiến vào cửa hàng quần áo của anh Trần văn Thanh ở số 65 Lê Quốc Uy, Bắc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng trộm 01 chiếc quần bò trị giá 1.250.000đ sau đó bị bắt quả tang. Về nhân thân Trần Thị Liên đã có 01 tiền sự về trộm cắp tài sản và 08 tiền án về tội trộm cắp tài sản.

* Tiền sự: Ngày 9/2/2001, Công an phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (chưa được xóa án)

* Tiền án:

1) Bản án số 31/2002/HSST ngày 22/11/2002, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt Trần Thị Liên 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội trộm cắp tài sản (chưa được xóa án);

2) Bản án số 46/2003/HSST ngày 3/4/2003, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng xử phạt Trần Thị Liên 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 9 tháng tù tại bản án số 31/2002/HSST ngày 22/11/2002 của Tòa án huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 21 tháng tù (chưa được xóa án );

3) Bản án số 07/2003//HSST ngày 16/2/2003, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xử phạt Trần Thị Liên 2 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 21 tháng tù tại bản án số 46/2002/HSST ngày 3/4/2002 của Tòa án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng là 4 năm 3 tháng tù (trừ 3 ngày tạm giữ), buộc Liên phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 04 năm 02 tháng 27 ngày tù (chưa được xóa án )

4) Bản án số 265/2006/HSST ngày 29/9/2006, Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định xử phạt Trần Thị Liên 42 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 4 năm 2 tháng tù 27 ngày tại bản án số 07/2005/HSST ngày 16/2/2005 của Tòa án huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, buộc bị cáo Liên phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 08 tháng 27 ngày tù (chưa được xóa án )

5) Bản án số 138/2006/HSST ngày 16/11/2006, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Thị Liên 4 năm tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 07 năm 08 tháng 27ngày tù tại bản án số 265/2006/HSST ngày 29/9/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, buộc Liên phải chấp hành hình phạt chung là 11 năm 08 tháng 27 ngày tù (chưa được xóa án)

6) Bản án số 281/2007/HSST ngày 18/12/2007, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt Trần Thị Liên 09 tháng năm tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 04 năm 02 tháng 27 ngày tù tại bản án số 07/2003/HSST ngày 16/2/2003 Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xử, buộc bị cáo Liên phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm 11 tháng 27 ngày tù (tại bản án này, Tòa án quận Cầu Giấy đã tổng hợp thiếu hình phạt tại Bản án số 265/2006/HSST ngày 29/9/2006 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định và Bản án số 138/2006/ HSST ngày 16/11/2006 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình)

7) Bản án số 189/2009/HSST ngày 7/7/2009, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Trần Thị Liên 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 04 năm 11 tháng 27 ngày tù tại bản án số 281/2007/HSST ngày 18/12/2007, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội là 07 năm 11 tháng 27 ngày tù, trừ cho bị cáo 08 ngày tạm giữ từ 24/4/2009 đến 2/5/2009 (bản án này tổng hợp thiếu hình phạt tại Bản án số 265/2006/HSST ngày 29/9/2006, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định và Bản án số 138/2006/HSST ngày 16/11/2006, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình)

8) Bản án số 22/2010/HSST ngày 1/6/2010, Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên xử phạt Trần Thị Liên 1 năm tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (tại bản án này, Tòa án huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên không tổng hợp hình phạt các bản án trước)

Sau khi xác minh: Trần Thị Liên chưa thi hành hình phạt của tất cả các bản án hình sự nêu trên. Ngày 7/6/2011 Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Kiến An đã khởi tố vụ án đối với Trần Thị Liên về tội trộm cắp tài sản. Do Liên đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nới cư trú. Ngày 25/10/2011 Viện kiểm sát nhận dân quận Kiến An ban hành Cáo trạng truy tố đối với Trần thị Liên về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2012/HSST ngày 16/3/2012 Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Thị Liên 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản; tổng hợp hình phạt 1 năm tù của Bản án số 22/2010/HSST ngày 1/6/2010 Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, buộc bị cáo Liên phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 năm tù.

2) Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Theo qui định tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật hình sự về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án: " Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án ra quyết định tổng hợp các bản án theo qui định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này (Điều 51 Bộ luật hình sự);

Trong vụ án này, Trần Thị Liên phạm tội ngày 5/6/2010, khi các bản án trước đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được tổng hợp và chưa được thi hành. Vì vậy, việc áp dụng khoản 3 Điều 51 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt là phù hợp. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Kiến An đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Trần Thị Liên là chưa chính xác, vì tất cả các bản án trước Trần Thị Liên đều chưa chấp hành; mà khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự chỉ qui định về tổng hợp hình phạt đối với người "đang chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới”.

Theo hướng dẫn tại mục 5 Thông tư liên tịch số 02 ngày 20/12/1991, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao về thi hành một số qui định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, người có thẩm quyền tổng hợp hình phạt trong trường hợp này là Chánh án Tòa án nơi xét xử cuối cùng khi bản án có hiệu lực pháp luật. Các bản án trước là của các tòa án khác nhau, nhưng cùng cấp huyện, nên trong trường hợp cụ thể này, nếu bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Kiến An không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thì Chánh án Tòa án nhân dân quận Kiến An ra quyết định tổng hợp hình phạt. Trường hợp vụ án phải xét xử theo thủ tục phúc thẩm thì Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng có thẩm quyền tổng hợp hình phạt.

Theo nội dung trên, tính đến ngày 16/3/2012 (ngày Tòa án nhân dân quận Kiến An xét xử sơ thẩm Trần Thị Liên về tội Trộm cắp tài sản) thì Trần Thị Liên có 08 bản án chưa thi hành. Trong tổng số các bản án chưa thi hành này có 02 bản án đã tổng hợp sai hình phạt với các bản án trước đó là:

+ Bản án số 281/2007/HSST ngày 18/12/2007, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Bản án này phải tổng hợp hình phạt với bản án số 138/HSST ngày 16/11/2006 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mới đúng. Nhưng bản án số 281/2007/HSST ngày 18/12/2007 lại tổng hợp hình phạt với bản án số 07/2003//HSST ngày 16/2/2003, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm 11 tháng 27 ngày; ở đây có vấn đề cần rút kinh nghiệm là cùng một bản án số 07/2003//HSST ngày 16/2/2003, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, đã có hiệu lực pháp luật và được Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã tổng hợp; sau đấy Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội lại tổng hợp hình phạt là vi phạm về tổng hợp hình phạt. Điều quan trọng hơn là nếu tổng hợp đúng qui định Bộ luật tố tụng hình sự thì theo bản án số 281/2007/HSST ngày 18/12/2007, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội tổng hợp đúng thì bị cáo Liên phải chấp hành hình phạt 12 năm 7 tháng 27 ngày. Nếu như không được phát hiện thì bị cáo Liên chỉ chấp hành 04 năm 11 tháng 27 ngày tù.

Vì bản án số 281/2007/HSST ngày 18/12/2007 tổng hợp sai dẫn đến bản án số 189/2009/HSST ngày 7/7/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tổng hợp hình phạt đối với Trần Thị Liên không đúng. Tổng hợp đúng thì bị cáo Trần thị Liên phải chấp hành hình phạt là 15 năm 7 tháng 27 ngày tù. Nhưng do tổng hợp sai nên Trần Thị Liên chỉ phải chấp hành hình phạt 7 năm 11 tháng 27 ngày; ( 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của bản án số 189/2009/HSST ngày 7/7/2009 tổng hợp với 04 năm 11 tháng 27 ngày của bản án số 281/2007/HSST ngày 18/12/2007 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội).

Chính những sai lầm trong phần tổng hợp hình phạt của một số bản án nêu trên, dẫn đến sau này các bản án khác tổng hợp không đúng, hoặc không tổng hợp được mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã phát hiện vi phạm trong phần tổng hợp hình phạt và đề nghị Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự xem xét theo qui định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã làm tốt công tác kiểm sát bản án đã có hiệu lực pháp luật trong phạm vi của mình.

Nhiều năm qua không ít trường hợp xảy ra tương tự như vụ án Trần Thị Liên. Do đó, Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu, trao đổi, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự./.

 

 

-----------------

6. Thông báo số 123/TB-VKSTC-VPT1 ngày 10/04/2013 đối vói vụ án Nguyễn Hồng Minh phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cấp phúc thẩm hủy án để điều tra lại

Tòa phúc thẩm tại Hà Nội đã đưa vụ án Nguyễn Hồng Minh phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ra xét xử phúc thẩm, tuyên hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại. Đây là vụ án có nhiều sai phạm trong hoạt động điều tra, vi phạm tố tụng, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội nêu quá trình tiến hành tố tụng và những sai sót của cấp sơ thẩm để các địa phương tham khảo, rút kinh nghiệm:

Nội dung vụ án: Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2009 đến tháng 3/2010, Nguyễn Hồng Minh chiếm đoạt của 17 bị hại với tổng số tiền là 15.766.600.000 đồng bằng các hành vi sau:

- Làm giả hồ sơ nhà đất để chứng minh minh là chủ sở hữu của lô biệt thự tại các khu đô thị, sau đó bán biệt thự cho ông Vũ Ngọc Khanh và ông Trương Tuấn Nghĩa chiếm đoạt 5.116.600.000 đồng, bán cho ông Nguyễn Thanh Tùng chiếm đoạt 2.600.000.000 đồng.

- Tự nhận là giám đốc Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị, có khả năng mua được đất ở các dự án, bằng thủ đoạn nhận mua hộ đất, bị cáo chiếm đoạt của 14 người bị hại 8.050.000.000 đồng.

Với hành vi trên, bị cáo bị Tòa sơ thẩm xử phạt tù chung thân về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, 9/17 bị hại kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm do bỏ lọt người đồng phạm Nguyễn Thị Hà - vợ của bị cáo; xem xét lại việc cơ quan điều tra không thực hiện việc kê biên tài sản dẫn đến bị cáo tẩu tán tài sản, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi người bị hại. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tối cao thực hành quyền công tố đã đề nghị hủy án sơ thẩm điều tra lại và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Những vi phạm trong quá trình điều tra:

- Có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm:

Tài liệu điều tra thể hiện bị cáo cùng vợ là Phạm Thị Hà tham gia hầu hết các giao dịch mua bán nhà ở, cụ thể: Hà trực tiếp nhận của bị hại Vũ Ngọc Khanh 950.000.000 đồng vào ngày 10/03/2010 và 2.500.000.000 đồng vào ngày 06/4/2010, nhận của Nguyễn Thanh Tùng 2.600.000.000 đồng vào ngày 27/3/2010 là các khoản tiền bán biệt thự. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, một số bị hại còn xuất trình "Giấy biên nhận đặt cọc” có chữ kí của Hà. Hà còn tham gia kí hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền, kí biên bản bàn giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (không có thật) cho Vũ Ngọc Khanh, Trương Tuấn Nghĩa, Vũ Thanh Tùng, số tiền nhận được, có khoản Hà giao ngay cho chồng, có khoản cùng chồng đi mua đất (nhận từ Vũ Ngọc Khanh 2,5 tỉ đồng vào ngày 6/4/2010, thì ngay hôm sau Hà đã cùng chồng mua 50,3m2 đất của anh Kiên, tài sản đứng tên Hà). Bị cáo Minh bằng nhiều lời khai cũng khẳng định Hà là người trực tiếp nhận tiền từ các bị hại. Ngoài các hành vi như đã nêu trên, khi Minh đã bị cơ quan điều tra khởi tố, bắt tạm giam, Hà còn chủ động cùng Minh tẩu tán các tài sản có được từ tiền chiếm đoạt của bị hại. Như vậy có cơ sở xác định việc cơ quan tố tụng ở cấp sơ thẩm không xem xét xử lý đối với Hà là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

- Không áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với người phạm tội.

Bị cáo Nguyễn Hồng Minh bị bắt khẩn cấp ngày 07/5/2010, bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can ngày 14/5/2010. Tại bản tường trình ngày 6/5/2010, (trước khi bị bắt) bị cáo khai: số tiền lừa đảo tôi đã mua đất của anh Kiên. Các lời khai sau này bị cáo liên tục thừa nhận tiền lừa đảo bị cáo đã mua đất, nếu cơ quan công an yêu cầu sẽ bán để trả lại tiền cho bị hại. Ngày 22/6/2010, bị hại Khanh và Nghĩa đã có đơn yêu cầu cơ quan điều tra kê biên mảnh đất 50,3m2 bị cáo mua của anh Kiên. Tuy nhiên cơ quan điều tra đã không tiến hành kê biên tài sản mà còn trích xuất can phạm tạo điều kiện thuận lợi cho Công chứng viên Đào Nguyên Khải, thuộc Văn phòng công chứng Đào và đồng nghiệp vào trại tạm giam cho bị cáo kí vào bên chuyển nhượng họp đồng công chứng số 10980 ngày 2, 3/8/2010 với nội dung: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất 50,3 m2 cho người mua Trần Minh Trâm.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Bản chất của đối tượng phạm tội là không thành khẩn, chối tội, đổ lỗi cho người khác nếu có cơ hội nhằm trốn tránh pháp luật. Do vậy để xác định được một người có thực hiện hành vi phạm tội hay không cần phải xem xét một cách toàn diện các yếu tố, đặc biệt là hành vi khách quan, là cái biểu hiện ra bên ngoài của ý thức chủ quan. Trong vụ án trên, Phạm Thị Hà tham gia một loạt hành vi khách quan như kí vào các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền... trực tiếp nhận tiền mặt trong hầu hết các thương vụ lừa đảo của Minh. Nếu không có sự tham gia của Hà vào các hợp đồng thi chắc chắn bị hại sẽ không tin tưởng giao tiền cho bị cáo bởi pháp luật dân sự quy định rất chặt chẽ về thủ tục mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đa số trường họp phải có chữ kí của vợ khi quan hệ hôn nhân đang tồn tại. Hà khai với cơ quan điều tra thấy Minh kí vào hợp đồng chuyển nhượng biệt thự cho ông Khanh thì Hà cũng kí vào mà không đọc nội dung là phi lý, bởi Hà là người có đầy đủ năng lực hành vi, không có nhà nhưng kí "bừa” vào hợp đồng bán nhà buộc Hà phải hình dung ra hậu quả xảy ra. Hà lại là người được hưởng lợi từ việc kí các hồ sơ mua bán, chuyển nhượng giả đó thi không thể nói Hà "vô can”. Đặc biệt là hành vi kí hợp đồng chuyển nhượng 50,3m2 đất cho bà Trâm sau khi Minh đã bị bắt, bị khởi tố nhằm tẩu tán tài sản, là có dấu hiệu của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Viện kiểm sát và Tòa án đã có nhiều văn bản trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện nghiêm túc các yêu cầu điều tra dẫn đến bỏ lọt tội phạm, và cùng với sai sót này là việc Cơ quan điều tra "tạo điều kiện” để bị cáo kí hợp đồng chuyển nhượng tài sản, gây thiệt hại quyền lợi của người bị hại, khiến cho 9/17 bị hại kháng cáo nghi ngờ về tính không minh bạch, thiếu trung thực trong hoạt động điều tra, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Sai sót nghiêm trọng trên đã được cấp phúc thẩm khắc phục bằng việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại là cần thiết, là có căn cứ. Về phía Cơ quan điều tra, Viện Phúc thẩm 1 sẽ có kiến nghị yêu cầu chấn chỉnh khắc phục vi phạm.

Vậy, Viện phúc thẩm 1 nêu lên để các địa phương cùng tham khảo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.

------------------

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi