Về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

1 - Vụ án Nguyễn Thị Ngọc Thiên phạm tội trốn thuế

a- Nội dung vụ án và quá trình giải quyết

Vợ chồng Trần Minh Huệ và Nguyễn Thị Ngọc Thiênlà chủ cơ sở kinh doanh xe gắn máy Thành Tiên, được UBND thị xã T. cấp giấy giấy chính kinh doanh số 00804 ngày 25/7/1994 và được Chi cục thuế thị xã T. quản lý theo chế độ tự kê khai doanh thu, được tính thuế doanh thu trên chênh lệch giữa giá bán - giá mua và chịu thuế lợi tức theo kết quả kinh doanh hàng năm của cơ sở. Trong quá trình kinh doanh từ tháng 9 năm 1996 đến tháng 6 năm 1998, vợ chồng Huệ đã mua vào và bán ra 916 xe máy các loại nhưng chỉ kê khai nộp thuế 250 xe máy với chênh lệch giữa giá bán hàng và giá mua hàng là 116.650.000 đ. Chi cục thuế thị xã T. đã thu thuế doanh thu trên chênh lệch bán 250 chiếc xe (mỗi xe chênh lệch là 466.600 đ) mà cơ sở Thành Tiên báo cáo: 116.650.000 đ x 16% = 18.664.000 đ. Còn lại 666 xe máy đã bán, vợ chồng Huệ đã để ngoài sổ sách và không kê khai với mục đích trốn thuế.

Qua kiểm tra và đối chiếu các tài liệu thu giữ tại cửa hàng, Công an thị xã T. đã khởi tố vụ án, khởi tố 2 bị can Huệ Thiên về tội trốn thuế và trưng cầu giám định để xác định số thuế mà các bị can đã trốn. Cục thuế tỉnh B. đã áp dụng tiết b, điểm 2, phần C của Thông tư số 97/TC/TCT ngày 30/12/1995 của Bộ Tài chính để xử lý cơ sở kinh doanh đã vi phạm các điều kiện về tính thuế doanh thu. Cục thuế tỉnh B. đã xác định số thuế Cơ sở kinh doanh xe máy Thành Tiên phải nộp khi để ngoài sổ sách kế toán 696 xe máy (bao gồm cả 30 xe máy có liên quan trong một vụ án khác) là 710.994.442 đ, bao gồm:

+ Thuế doanh thu: 386.715.620 đ.

+ Thuế lợi tức: 324.278.822 đ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 54/HSST ngày 01/8/2002, TAND thị xã T. áp dụng khoản 3, khoản 4 Điều 161; các điểm a, i khoản 1 Điều 48; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 BLHS xử phạt ThiênHuệ mỗi bị cáo 3 năm tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 4 năm và phạt tiền 710.994.442 đ về trội "trốn thuế"; buộc 2 bị cáo phải nộp số tiền trốn thuế là 710.994.442 đ vào Ngân sách Nhà nước.

Ngày 11/8/2002, Thiên Huệ kháng cáo đề nghị TA cấp phúc thẩm xem xét lại số tiền thuế và khoản tiền phạt.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 09/HSPT ngày 21/3/2003, TAND tỉnh B. đã sửa án bản án sơ thẩm về hình phạt tiền và số tiền truy thu thuế, vì bản án sơ thẩm chưa trừ đi số thuế của 30 xe đã bị tịch thu; áp dụng khoản 4 Điều 161 BLHS, phạt tiền ThiênHuệ 628.285.185 đ; buộc hai bị cáo phải nộp số tiền trốn thuế là 682.285.185 đ.

Trên cơ sở kháng nghị của VKSNDTC, ngày 19/4/2005, Hội đồng giám đốc TANDTC đã ban hành Quyết định số 08/2005/HS-GĐT hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 54/HSSP ngày 01/8/2002 của TAND thị xã T. và bản án hình sự phúc thẩm số 09/HSPT ngày 21/3/2003 của TAND tỉnh B.; giao hồ sơ vụ án cho TAND thị xã T. để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

b- Những kinh nghiệm rút ra từ vụ án

Cơ sở kinh doanh xe máy Thành Tiên để ngoài sổ sách kế toán, không kê khai với cơ quan thuế 666 xe máy là hành vi vi phạm pháp luật. TA xét xử Thiên Huệ về tội "trốn thuế" là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, khi xác định số thuế cơ sở kinh doanh xe máy Thành Tiên thực trốn là bao nhiêu, cần phải dựa trên số liệu xác định rằng, nếu cơ sở này kê khai đủ thì số thuế thu được khi mua vào và bán ra 666 xe máy này là bao nhiêu và số thuế đó phải được tính trên doanh thu chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua vào số xe máy đó (vì cơ sở này đã được cơ quan quản lý thuế trên địa bàn chấp nhận phương pháp tính thuế này). Việc Cục thuế dựa trên nguyên tắc việc phạt về khai man, lậu thuế đối với cơ sở vi phạm các quy định về việc tính thuế trên chênh lệch phải tính trên doanh thu để xác định số thuế cơ sở kinh doanh xe máy Thành Tiên đã trốn khi để ngoài sổ sách kế toán 666 xe máy là đã vi phạm nguyên tắc: Một hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một lần.

Bản án phúc thẩm xác định số thuế cơ sở kinh doanh xe máy Thành Tiên đã trốn 682.282.185 đ là không chính xác, không phản ánh đúng số thuế mà cơ sở kinh doanh xe máy Thành Tiên thực trốn vì số tiền 682.285.185 đ đã bao gồm cả yếu tố xử lý của ngành thuế khi phát hiện cơ sở này vi phạm chế độ tài chính, kế toán trong quá trình kinh doanh.

Bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm đã sai lầm trong việc xác định số lượng thuế thực trốn của Thiên Huệ trong quá trình kinh doanh 666 xe máy. Vì vậy, quyết định giám đốc đã hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm để xét xử lại.

 

 Nguồn: Sổ tay Kiểm sát viên hình sự tập 2

 

­­­­­­­­­­­­­  2- Vụ án Ngô Thị Phương phạm tội sản xuất hàng giả

 

Nguồn: Thông báo số 220/TB-VKSTC-V3 ngày 24/10/2011

 

 Ngày 18-7-2011, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Ngô Thị Phương phạm tội "Sản xuất hàng giả”, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 3) xin thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu khi vận dụng pháp luật.

 

1. Nội dung vụ án:

 

Ngày 26-02-2008, Đội quản lý thị trường quận TB kiểm tra và phát hiện tạm giữ tại Công ty TNHH may và xuất nhập khẩu Hoàng Huỳnh (số 101 Nhất Chi Mai, phường A, quận TB) số hàng hoá gồm 14.916 cái áo thun lưới (trong đó có 12.440 áo thun nhãn hiệu ADIDAS và 2.476 áo thun nhãn hiệu NIKE) đang đóng kiện để gửi đi nước ngoài. Ngoài ra còn thu giữ của Phương những vật chứng như sau: 01 máy cắt, 01 bộ rập mẫu áo bằng bìa cac-tông. Tạm giữ và giao cho Huỳnh Ngọc Thái (chồng Ngô Thị Phương) quản lý một máy ép thuỷ lực tự chế.

 

Quá trình điều tra, Công an quận TB làm rõ được hành vi sản xuất hàng giả của Ngô Thị Phương như sau: Ngô Thị Phương là giám đốc Công ty TNHH may và xuất nhập khẩu Hoàng Huỳnh. Từ tháng 12 năm 2007, thông qua Lê Thị Hà giới thiệu, Vũ Tuấn Anh (không rõ lai lịch, địa chỉ) làm nghề kinh doanh buôn bán quần áo tại UKRAINE đến gặp Phương tại cơ sở may thoả thuận may gia công áo thun lưới gắn nhãn hiệu ADIDAS và NIKE gồm nhiều màu với số lượng 15.000 cái, giá bán là 8.000 đồng/1cái, tức trị giá của hợp đồng là 120.000.000 đồng. Tuấn Anh đã ứng trước cho Phương số tiền là 80.000.000 đồng (tương đương 70% tổng giá trị hàng hóa). Sau đó, Ngô Thị Phương đã mua vải, các nguyên phụ liệu tại khu vực chợ Tân Bình đưa về cơ sở tự cắt mẫu và đưa cho các thợ bên ngoài may gia công với cách thức như sau: Trải vải trên mặt bàn rồi dùng rập đo vẽ mẫu áo cho kín mặt vải, dùng máy cắt mỗi lần thành nhiều lớp sau đó bỏ cho người tên Cường ở quận Gò Vấp để thêu lôgô theo mẫu do Tuấn Anh đưa (mỗi lần giao là 1.000 cái). Sau khi thực hiện xong, Cường trực tiếp đến giao lại cho Phương và tiếp tục nhận hàng mới về làm.

 

Đối với số hàng đã thêu, Phương lại giao cho các thợ may bên ngoài để may gia công thành phẩm. Với cách làm như trên, đến ngày 26-02-2008 Phương đã làm ra 14.916 cái áo thun lưới (gồm 12.440 áo thun nhãn hiệu ADIDAS và 2.476 áo thun nhãn hiệu NIKE) và dùng máy ép thuỷ lực dập, đóng kiện để gửi kho vận chuyển ra nước ngoài cho Tuấn Anh. Tính chi phí thành phẩm 01 cái áo như sau: tiền vải 5.000 đồng, thêu 500 đồng, bao bì nhãn mác 500 đồng, tiền công may 1.000 đồng, công đóng cắt ủi-đóng gói 500 đồng; tổng cộng 7.500 đồng, bán lời được 500 đồng/1cái.

 

Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ xác nhận: nhãn hiệu ADIDAS và NIKE hiện đang được bảo hộ tại Việt Nam theo đăng ký quốc tế. Qua xác minh giá bán áo thun nhãn hiệu ADIDAS  là 500.000 đồng/1 cái x 12.440 cái = 6.220.000.000 đồng (theo công văn trả lời xác minh cung cấp thông tin giá về hàng thật ADIDAS  số 32/2008/ĐHS-VPL của Văn phòng luật sư Đoàn Hồng Sơn- Đại diện theo ủy quyền của công ty ADIDAS). Giá bán áo thun nhãn hiệu NIKE là 630.000 đồng/1 cái x 2.476 cái = 1.559.880.000 đồng (theo công văn trả lời xác minh cung cấp thông tin giá về hàng thật NIKE số 01140708/ER-GD ngày 14-7-2008 của Văn phòng đại diện thường trú NIKE tại thành phố H). Tổng cộng 14.916 áo thun lưới nhãn hiệu ADIDAS và NIKE nói trên có giá trị là 7.779.880.000 đồng, đại diện hai hãng ADIDAS và NIKE đều yêu cầu xử lý về hình sự đối với Ngô Thị Phương, nhưng không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

 

Tại kết luận giám định số 466/KLGĐ-TT ngày 09-9-2008, Phòng kỹ thuật hình sự-Công an thành phố H kết luận: "nhãn hiệu logo ADIDAS và NIKE do Ngô Thị Phương  sản xuất không trùng giống  với nhãn hiệu, logo do Công ty ADIDAS và NIKE cung cấp”. Ngày 26-11-2008, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Tân Bình kết luận: "áo thun lưới không cổ, hàng Việt Nam giả nhãn hiệu ADIDAS và NIKE là 10.000 đồng/01 cái”. Như vậy, tổng số hàng hóa vi phạm tạm giữ nói trên có giá trị 10.000 đồng x 14.916 cái =149.160.000 đồng.

 

2. Quá trình tố tụng

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2009/HSST ngày 22-01-2010 Tòa án nhân dân quận TB, thành phố H, xử phạt Ngô Thị Phương 2 năm 6 tháng tù về tội "Sản xuất hàng giả”; áp dụng khoản 4 Điều 156 Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo Phương 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

 

Ngày 25-01-2010, bị cáo Ngô Thị Phương kháng cáo xin được giảm án và xin được án treo.

 

Bản án hình sự phúc thẩm số 263/2010/HSPT ngày 31-5-2010 của Tòa án nhân dân thành phố H chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng khoản 1 Điều 156; các điểm g,p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60  Bộ luật hình sự, xử phạt Ngô Thị Phương 2 năm 6 tháng tù về tội "Sản xuất hàng giả”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

 

Ngày 28-10-2010, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 28/QĐ/VKSTC-V3 kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án hình sự phúc thẩm số 263/2010/HSPT ngày 31-5-2010 của Tòa án nhân dân thành phố H và bản án hình sự sơ thẩm số 21/2009/HSST ngày 22-01-2010 Tòa án nhân dân quận TB, thành phố H; đề nghị Tòa Hình sự-Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm để hủy các bản án nêu trên; giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

   Tại Quyết định giám đốc thẩm số 23/2011/HS-GĐT ngày 26-7-2011, Tòa Hình sự-Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị tuyên huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 263/2010/HSPT ngày 31-5-2010 của Tòa án nhân dân thành phố H và bản án hình sự sơ thẩm số 21/2009/HSST ngày 22-01-2010 Tòa án nhân dân quận TB, thành phố H để điều tra lại; giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để giải quyết theo thủ tục chung.

 

3. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

 Công ty TNHH may và xuất nhập khẩu Hoàng Huỳnh do Ngô Thị Phương làm giám đốc đã sản xuất số hàng hóa gồm 14.916 cái áo thun lưới giả nhãn hiệu ADIDAS và NIKE. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Ngô Thị Phương về tội "Sản xuất hàng giả” theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

 

Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã căn cứ vào số tiền 149.160.000 đồng do Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận TB kết luận, để xử phạt bị cáo theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật hình sự là không chính xác. Việc định giá tài sản phải dựa trên giá trị hàng hóa thật được bán trên thị trường, hàng hóa giả không được phép bán trên thị trường nên không thể lấy đó để làm cơ sở định giá tài sản. Vì vậy, việc Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận TB dựa trên giá trị hàng hóa giả (áo thun lưới không cổ, hàng Việt Nam giả nhãn hiệu ADIDAS và NIKE) được bán trên thị trường để làm căn cứ định giá là không đúng với quy định của pháp luật.

 

Mặt khác, với những tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nếu căn cứ vào số lượng hàng giả mà Ngô Thị Phương đã sản xuất ra tương đương với số lượng hàng thật cả hai loại áo có tổng giá trị là 7.779.880.000 đồng để xét xử bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 156 Bộ luật hình sự  cũng  chưa có căn cứ. Bởi, việc xác định tổng giá trị hàng thật của cả hai loại áo là 7.779.880.000 đồng mới chỉ dựa trên các công văn trả lời của hai văn phòng là Văn phòng luật sư Đoàn Hồng Sơn-đại diện theo ủy quyền của công ty ADIDAS và Văn phòng đại diện thường trú NIKE tại thành phố H mà chưa có sự thẩm định, định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự là không tuân theo đúng các quy định của pháp luật về định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Chính vì vậy, Quyết định giám đốc thẩm số 23/2011/HS-GĐT ngày 26-7-2011 của Tòa Hình sự-Tòa án nhân dân tối cao hủy cả hai bản án của cấp phúc thẩm và sơ thẩm tại thành phố H để điều tra lại là cần thiết và đúng pháp luật.

 

Thông qua việc giải quyết vụ án này, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự xin thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án, khi áp dụng pháp luật cho phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Ghi chú: Một số địa danh đã được Ban biên tập thay đổi

 

3. Thông báo rút kinh nghiệm số 365/TB-VKSTC-V3 ngày 26/11/2012 rút kinh nghiệm một số vụ án hình sự bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hủy án phần dân sự.

Đây là vụ án Tòa  án cấp sơ thẩm cũng như cấp phúc thẩm đã có sai lầm trong việc xác định nguyên đơn dân sự đồng thời có những vi phạm về tố tụng dẫn đến quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại không đúng nên cấp giám đốc thẩm phải hủy án để xét xử laị.

 I/ Nội dung vụ án và quá trình tố tụng

Năm 2003 Mai Quý Cường đã thành lập 03 công ty và thuê người đứng tến gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư thương mại Hà Hưng, Công ty thương mại Hoàng Loan, Công ty thương mại Hưng Thịnh. Sau khi có chứng nhận đăng ký kinh doanh của các công ty trên, Mai Quý Cường và Nguyễn Thanh Hải đã móc nối với Vũ Hưng Bình giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Phương Trinh, thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng tư cách pháp nhân của 03 Công ty: Công ty Hưng Thịnh, Công ty Hoàng Loan, Công ty Hà Hưng để làm thủ tục nhập khẩu 93 xe ô tô các loại đã qua sử dụng từ Hàn quốc về Việt Nam, qua cửa khẩu Cảng Sài Gòn 3, thành phố Hồ Chí Minh và cửa khẩu Cảng Phú Mỹ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Sau khi nhập và tiêu thụ hết số xe trên đã lợi dụng chính sách ân hạn thuế nhập khẩu không nộp thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, chiếm đoạt 13.110.076,734đồng tiền thuế

 Cụ thể các Công ty trốn thuế như sau:

1/Công ty Hà Hưng: Được thành lập từ  8/10/2003 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0102010094 do Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp. Công ty có hai thành viên là Mai Quý Cường và Nguyễn Văn Hưng do Hưng làm Giám đốc; địa điểm đăng ký kinh doanh tại thôn Tương Chúc, đường 71, xã Thanh Trì, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Công ty đăng ký mã số thuế, mua hóa đơn giá trị gia tăng tại Chi cục thuế huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

 Từ tháng 12/2003 đến tháng 1/2004 Công ty Hà Hưng ký 4 hợp đồng ngoại thương với 4 Công ty của Hàn Quốc mua 37 xe ô tô các loại đã qua sử dụng tổng giá trị là: 241.170 USD. Công ty mở 8 tờ khai hàng hóa nhập khẩu 37 xe ô tô các loại, trong đó nhập qua Cảng Sài Gòn khu vực 3, thành phố Hồ Chí Minh 06 xe ô tô chở khách, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng phải nộp là: 3.012.765.439 đồng và nhập qua cảng Phú Mỹ tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu 31 xe tải các loại, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng phải nộp là: 2.483.502.000đồng. Tổng cộng là: 5.496.267.439 đồng. Ngày 10/4/2004 Chi cục thuế huyện Thanh Trì ra thông báo số 122 về việc doanh nghiệp bỏ trốn khỏi địa phương

 2/ Công ty Hoàng Loan: Được thành lập từ 30/2/2004 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103002673 do Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp. Công ty có ba thành viên là Nguyễn Văn Liêm, Lê Thị Thảo và Trần Văn Nam do Liêm làm Giám đốc; địa điểm đăng ký kinh doanh tại tổ 1 đường Lĩnh  Lam, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Công ty đăng ký mã số thuế, mua hóa  đơn giá trị gia tăng tại Chi cục thuế quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

 Từ 12/3/2004 đến 19/3/2004, Công  ty Hoàng Loan ký 6 hợp đồng thương mại với 4 Công ty của Hàn Quốc mua 16 xe ô tô các loại giá trị 161.700USD. Công ty mở 06 tờ khai hàng hóa nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Cảng Sài Gòn khu vực 3, thành phố Hồ Chí Minh nhập 5 xe khách và 11 xe tải các loại, thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng phải nộp là: 4.132.915.719 đồng.Ngày 2/8/2004, Chi cục thuế quận Hoàng Mai ra thông báo số 18080 về việc doanh nghiệp bỏ trốn khỏi địa phương.

3/Công ty Hưng Thịnh: Được thành lập từ 7/5/2004 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103004297 do Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp. Công ty có 03 cổ đông là :Vũ Thị Thanh Loan, Lê Thị Thanh và Nguyễn Văn Thành do Loan làm Giám đốc; địa điểm đăng ký kinh doanh tại phòng 102, nhà B4 khu tập thể Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Công ty  đăng ký mã số thuế, mua hóa đơn giá trị gia tăng tại Chi cục thuế quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

 Từ tháng 5/2004 đến tháng 7/2004, Công ty Hưng Thịnh ký 4 hợp đồng ngoại thương với 4 Công ty của Hàn Quốc mua các loại xe ô tô giá trị là: 189.000USD. Công ty Hưng Thịnh mở 7 tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu nhập 40 xe tải, trong đó nhập cảng Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 21 xe ô tô tải các loại, thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng phải nộp là 1.731.519.161 đồng. Ngày 11/11/2004 Chi cục thuế quận Thanh Xuân ra thông báo số 616 về việc doanh nghiệp bỏ trốn khỏi địa điểm đăng ký kinh doanh mang theo hóa đơn giá trị gia tăng.

 Quá trình điều tra đã xác định lợi dụng chính sách ân hạn thuế của nhà nước, Mai Quý Cường đã bàn bạc cùng Nguyễn Văn Hưng đứng ra thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Hà Hưng. Cường thuê Ngô Thị Thúy làm dịch vụ thành lập Công ty Hoàng Loan, Công ty Hưng Thịnh (các cổ đông của các công ty này là giả không có thật). Sau khi có được giấy phép kinh doanh của các Công ty trên Mai Quý Cường cùng Nguyễn Thanh Hải đã móc nối với Vũ Hưng Bình Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Phương Trinh ở thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng tư cách pháp nhân của Công ty này làm thủ tục nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng từ Hàn Quốc về Việt Nam nhằm mục đích trốn thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng. Các bên thỏa thuận như sau: Mai Quý Cường, Nguyễn Thanh Hải có công ty, có chức năng nhập khẩu, Cường, Hải sử dụng tư cách pháp nhân của các công ty trên để ký hợp đồng ngoại thương, mở tờ khai hàng hóa nhập khẩu xuất hóa đơn giá trị gia tăng và cung cấp các giấy tờ có liên quan đến việc tiêu thụ xe ô tô theo yêu cầu của Vũ Hưng Bình. Bình có nhiệm vụ tìm nguồn hàng, thanh toán tiền mua xe với khách hàng nước ngoài, tiêu thụ xe ô tô nhập khẩu. Tiền thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng nộp theo quy định của Nhà nước. Bình, Cường Hải thống nhất không nộp mà sử dụng chia nhau theo tỷ lệ: Cường Hải  được 50% thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng trên tờ khai nhập khẩu hàng hóa, còn 50% còn lại Bình được hưởng.

 Thực hiện thỏa thuận trên,Vũ Hưng Bình đã hợp đồng ngoại thương chuyển cho Mai Quý Cường thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh để Mai Quý Cường ký đóng dấu và chuyển lại cho Bình, Bình cử người đi làm thủ tục mở tờ khai hàng nhập khẩu, nhận xe và tiêu thụ xe ôtô.

 Tháng 12/2003 Bình liên hệ mua 06 xe ô tô khách của Hàn Quốc nhập khẩu qua Công ty Hà Hưng.

Tháng 1/2004 mua 05 xe  ô tô khách nhập khẩu qua Công ty Hoàng Loan.

Tổng số tiền thuế nhập khẩu của 11 xe này là: 6.144.416.689 đồng, Bình giữ lại khoảng 4 tỷ còn chuyển lại cho Cường và Hải.

 Ngoài ra Bình còn gặp Nguyễn Phát Đạt (Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Ngọc Ẩn thành phố Hồ Chí Minh) để thỏa thuận việc nhập khẩu xe ô tải các loại thông qua Công ty Hà Hưng, Hoàng Loan, Hưng Thịnh. Đạt chịu trách nhiệm quan hệ với phía Hàn Quốc để mua ô tô, thanh toán tiền với các đối tác nước ngoài, tiêu thụ xe, Bình thỏa thuận với Đạt nếu thanh toán ngay toàn bộ tiền thuế nhập khẩu trên tờ khai hàng hóa do Bình thì Đạt được giảm tiền thuế ; Bình có trách nhiệm cung cấp các Công ty có chức năng nhập khẩu để các Công ty này cung cấp các giấy tờ liên quan đến việc đăng ký và tiêu thụ xe ôtô, nhận tiền thuế nhập khẩu xe ôtô từ Đạt và chịu trách nhiệm nộp thuế cho nhà nước.

 Thực hiện thỏa thuận trên Nguyễn Phát Đạt đã mua 82 xe  ô tô trên tờ khai hàng nhập khẩu trị giá 6.956.660.045 đồng. Theo thỏa thuận, Đạt chuyển cho Bình 6.371.456.023 đồng tiền thuế nhập khẩu, còn 594.204.022 đồng tiền thuế giá trị gia tăng, Nguyễn Phát Đạt được hưởng.

 Như vậy, tổng cộng 03 công ty đã nêu trên đã nhập khẩu 93 xe ôtô các loại, thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng phải nộp là 13.110.076.734 đồng. Theo thỏa thuận ban đầu thì Cường, Hải được hưởng 50% nhưng do lô hàng trước đây bị Hải quan tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu tịch thu (19 xe), việc nhập khẩu xe phát sinh nhiều chi phí nên Cường, Hải đồng ý chỉ lấy 1/3 tiền thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng còn lại 2/3 để lại cho Bình. Bình đã chuyển cho Mai Quý Cường và Nguyễn Thanh Hải số tiền là: 4.370.025.578 đồng.Vũ Hưng Bình Hưởng 8.145.847.134 đồng. Sau khi nhập khẩu 93 xe ô tô các loại như đã nêu trên Mai Quý Cường đã hủy toàn bộ dấu của 03 công ty cùng toàn bộ hóa đơn giá trị gia tăng còn lại. Số tiền 4.370.025.578 đồng Cường đã chia cho Hải là: 35.000.000đồng, còn lại dùng để chơi số đề và đánh bạc hết.

 Tòa án cấp sơ thẩm xác định Mai Quý Cường chiếm hưởng số tiền trốn thuế là 11.310.000.000đồng, Vũ Hưng Bình chiếm hưởng số tiền trốn thuế là 1.200.000.000 đồng.

 Trong giai đoạn điều tra,Cơ quan điều tra đã tạm giữ số tiền 8.069.223.322 đồng, trong đó: Vũ Hưng Bình nộp 7.433.823.322 đồng, Nguyễn Thanh Hải nộp 35.000.000 đồng, Nguyễn Phát Đạt nộp 594.100.000đồng.

 Chị Vũ Thị Thanh Loan và anh NguyễnVăn Liêm được Mai Quý Cường thuê đứng tên làm giám đốc, chị Loan được trả công 5.000.000đồng, anh Liêm được trả công 1.300.000đồng; chị Loan và anh Liêm đã nộp lại số tiền đã nhận.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2009/HSST ngày 19, 20 /02/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xác định Cục Thuế Hà Nội là nguyên đơn dân sự; áp dụng khoản 3 Điều 161; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Mai Quý Cường 05 (năm) năm tù về tội "Trốn thuế”;

Áp dụng khoản 3 Điều 161; điểm b, p khoản, khoản 2 Điều 46 Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Hưng Bình 30 tháng tù về tội " Trốn thuế” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 54 tháng.

Áp dụng khoản 3 Điều 161; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46  Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thanh Hải 06 tháng 25 ngày tù về tội "Trốn thuế”;

 Áp dụng khoản 3 Điều 161; điểm b, p, h khoản 1 và khoản 2 Điều 46  Điều 47, Điều 54 Bộ luật hình sự miễn hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Phát Đạt về tội "Trốn Thuế’.

Buộc Mai Qúy Cường phải truy nộp số tiền 11.310.000.000 đồng thuế cho Cục Thuế Hà Nội để nộp vào ngân sách Nhà nước.

-Số tiền 8.069.223.322 đồng có trong tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Bộ Công an (C15) số 921-90-015 kho bạc thành phố Hà Nội giải quyết như sau:

Tạm giữ  6.100.000.000đồng còn lại của bị cáoVũ Hưng Bình để đảm bảo thi hành án.

-Số tiền 133.823.311 đồng của Vũ Hưng Bình nộp trong vụ án khác, tạm giữ để giải quyết sau.

-Số tiền còn lại trong tài khoản là 1.835.400.000đồng sung công quỹ Nhà nước.

Ngày 23/2/2009 bị cáo Mai Quý Cường kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

 Ngày 2/3/2009 Vũ Hưng Bình kháng cáo cho rằng Bình không có hành vi trốn thuế.

 Ngày 2/7/2009 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án số 181/2009/HSPT, lý do các bị cáo rút kháng cáo.

 Sau khi kiểm tra bản án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 32/VKSTC-V3 ngày 28/11/2011, đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm số 66/2009/HSST ngày 19, 20 /02/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xác định lại nguyên đơn dân sự và xét xử lại phần trách nhiệm dân sự của các bị cáo.

Ngày 11/9/2012 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm hủy bản án hình sự sơ thẩm số 66/2009/HSST ngày 19, 20 /02/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần quyết định:

"Buộc Mai Qúy Cường phải truy nộp số tiền 11.310.000.000 đồng thuế cho Cục Thuế Hà Nội để nộp vào ngân sách Nhà nước”.

"Số tiền 133.823.311 đồng của Vũ Hưng Bình nộp trong vụ án khác, tạm giữ để giải quyết sau”.

"Số tiền còn lại trong tài khoản là 1.835.400.000đồng sung công quỹ Nhà nước”

"Bị cáo Mai Quý Cường phải chịu 38.310.000 đồng án  phí bồi thường dân sự”.

II-Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Mai Quý Cường, Nguyễn Thanh Hải, Vũ Hưng Bình đã lợi dụng chính sách ân giảm thuế của Nhà nước, cùng nhau móc nối, bàn bạc việc nhập khẩu xe ô tô đã qua sử dụng từ Hàn Quốc về Việt Nam, không nộp thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân gây thiệt hại cho Nhà nước là 13.110.076.734 đồng. Theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật quản lý thuế thì "…tờ khai hải quan được sử dụng làm tờ khai thuế đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu”; tại điểm b khoản 1 Điều 44 Luật quản lý thuế quy định địa điểm nộp thuế tại cơ quan quản lý thuế nơi tiếp nhận hồ sơ khai thuế…”.  Như vậy, trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền thu thuế nhập khẩu là Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa- Vũng Tầu và Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh. Vì thế các cơ quan này là nguyên đơn dân sự trong vụ án.Việc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội  xác định Cục Thuế Hà Nội là nguyên đơn dân sự và quyết định buộc bị cáo Mai Quý Cường truy nộp số tiền trốn thuế cho Cục thuế Hà Nội với số tiền    11.310.000.000đồng, trong khi đó tại phiên tòa nguyên đơn dân sự Cục thuế Hà Nội không có mặt  là không đúng, vi phạm Điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự về xác định nguyên đơn dân sự.

 Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn có các sai lầm như sau:

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:Vũ Hưng Bình, Mai Quý Cường, Nguyễn Thanh Hải và Nguyễn Phát Đạt đã có sự bàn bạc, thỏa thuận, phân công nhau cùng thực hiện tội phạm, chia nhau lợi nhuận từ việc trốn thuế. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc các bị cáo liên đới bồi thường nộp lại số tiền đã trốn thuế là không đúng.

Về số tiền 133.823.322 đồng: Đây là số tiền Vũ Hưng Bình nộp khắc phục hậu quả liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật khác, không liên quan đến các hành vi của Vũ Hưng Bình bị xét xử trong vụ án này nhưng Tòa án  nhân dân thành phố Hà Nội quyết định " tạm giữ để giải quyết sau” đối với số tiền này là không đúng thẩm quyền.

Về số tiền 1.835.400.000đồng: Đây là số tiền các bị cáo và những người có nghĩa vụ liên quan chiếm hưởng từ hành vi trốn thuế nộp để khắc phục hậu quả (cụ thể: Vũ Hưng Bình nộp 1.200.000.000đồng; Nguyễn Thanh Hải nộp 35.000.000 đồng; Nguyễn Phát Đạt nộp 594.100.000đồng, chị Vũ Thị Thanh Loan nộp 5.000.000đồng,anh Nguyễn Văn Liêm nộp 1.300.000đồng). Số tiền này lẽ ra  phải được hoàn trả cho cơ quan thuế là nguyên đơn dân sự trong vụ án và được khấu trừ vào số thuế mà buộc các bị cáo liên đới nộp lại số tiền đã trốn thuế.

 Những sai lầm thiếu sót như đã phân tích ở phần trên, trách nhiệm trước hết thuộc về Hội đồng xét xử song có phần trách nhiệm của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và Kiểm sát xét xử vụ án này đã không  phát hiện được những thiếu sót của Hội đồng xét xử ngay từ khi bắt đầu phiên tòa như xác định nguyên đơn dân sự (trong vụ án này Cục thuế Hà Nội được xác định là nguyên đơn dân sự cũng không có mặt tại phiên tòa (thể hiện trong biên bản phiên tòa) và tiếp đó là những thiếu sót trong phần buộc các bị cáo liên đới bồi thường số tiền trốn thuế, việc xử lý các khoản tiền trong vụ án.Việc kiểm sát bản án cũng chưa được thực hiện nên chưa phát hiện được những vi phạm. Chỉ sau này khi có kiến nghị của Tổng Cục Hải quan, Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới phát hiện vi phạm để kháng nghị giám đốc thẩm.

Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, xin thông báo để viện kiểm sát địa phương nghiên cứu, trao đổi, khi gặp những trường hợp tương tự, trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự./.

4. Thông báo rút kinh nghiệm về vụ án "Vi phạm các qui định về sử dụng đất đai” đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm

 

I. Nội dung và quá trình giải quyết vụ án:

Năm 1983, bà Lâm Thị Miên sang nhượng 10 công đất (với diện tích trên giấy tờ là 12.552m2, số đất thực tế là 15.497m2) ở ấp Tám Xáng, xã Đông Hòa, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang cho ông Nguyễn Văn Nhung lấy 250 gịa lúa. Ngày 6/10/1994, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện An Minh đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 6711/QĐ38 – QĐUB với diện tích là 15.497m2 cho ông Nguyễn Văn Nhung. Năm 1996, bà Lâm Thị Miên với lý do số đất trên bà mới cầm cố cho ông Nhung chứ không phải sang nhượng, nên bà Miên kiện đòi lại ông Nhung số đất trên.

Ngày 9/3/2000, Ủy ban nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định số 16/QĐ - UB cho rằng việc sang nhượng đất của bà Lâm Thị Miên và ông Nguyễn Văn Nhung năm 1983 là trái pháp luật, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử đất cho ông Nguyễn Văn Nhung là không đúng, nên buộc ông Nhung phải trả số đất trên cho bà Miên, còn bà Miên trả cho ông Nhung 250 giạ lúa; thu hồi và hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn Nhung. Ông Nhung không thực hiện quyết định trên, nên bà Miên tiếp tục khiếu kiện.

Ngày 27/7/2000, Chánh Thanh tra Nhà nước tỉnh Kiên Giang ra Quyết định số 120/QĐ - TTr công nhận Quyết định số 16/QĐ - UB Ngày 9/3/2000 của Ủy ban nhân dân huyện An Minh là đúng. Yêu cầu ông Nguyễn Văn Nhung phải chấp hành việc trả đất cho bà Lâm Thị Miên. Ông Nhung không chấp hành.

Ngày 29/10/2001, Ủy ban nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang ra quyết định xử phạt hành chính ông Nguyễn Văn Nhung và vợ là bà Huỳnh Thị Mỹ mỗi người phải nộp 6.000.000 đồng về hành vi lấn chiếm đất. Ông Nhung và bà Mỹ không chấp hành; ngày 26/12/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện An Minh lại tiếp tục ra Quyết định số 337/2002/QĐ-CT xử phạt hành chính ông Nguyễn Văn Nhung và bà Huỳnh Thị Mỹ mỗi người 6.000.000 đồng về hành vi lấn chiếm đất. Ông Nhung và bà Mỹ vẫn không chấp hành.

Năm 2006, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang trả lời rằng việc khiếu nại của ông Nguyễn Văn Nhung không đúng. Vì vậy, Ủy ban nhân dân huyện An Minh tổ chức thực hiện việc giao diện tích đất cho bà Lâm Thị Miên theo Quyết định số 120/QĐ – TTr của Chánh Thanh tra tỉnh Kiên Giang. Ông Nguyễn Văn Nhung vẫn không chấp hành và tiếp tục khiếu kiện. Ngày 21/5/2006, Ủy ban nhân dân huyện An Minh ra Quyết định số 11/QĐ – VPHC xử phạt hành chính ông Nguyễn Văn Nhung 15.000.000 đồng về hành vi lấn chiếm đất; ông Nguyễn Văn Nhung vẫn không chấp hành. Ngày 21/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện An Minh tiếp tục ra Quyết định số 1539/QĐ – VPHC xử phạt Nguyễn Văn Nhung 15.000.000 đồng về hành vi lấn chiếm đất, Nguyễn Văn Nhung không chấp hành mà tiếp tục chiếm giữ đất để sử dụng.

Ngày 20/10/2009, Công an huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Nhung về tội "Vi phạm các qui định về sử dụng đất đai”.

Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2010/HSST ngày 21/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện An Minh áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Nhung 01 năm tù, buộc bị cáo Nhung phải giao lại đất cho bà Miên.

Ngày 28/9/2010, Nguyễn Văn Nhung kháng cáo kêu oan

Ngày 4/10/2010, bà Lâm Thị Miên kháng cáo đề nghị ông Nhung trả lại đất, bồi thường cho bà 500 giạ lúa.

Bản án hình sự phúc thẩm số 77/2011/HSPT ngày 29/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Nhung 01 năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 21 tháng 14 ngày, buộc Nguyễn Văn Nhung giao lại đất cho bà Lâm Thị Miên theo Quyết định số 16/QĐ - UB Ngày 9/3/2000 của Ủy ban nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

Ngày 23/5/2011, ông Nhung gửi đơn lên Viện kiểm sát nhân dân tối cao kêu oan đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm.

Tại kh¸ng nghÞ giám đốc thẩm số 33/QĐ- VKSTC- V3 ngày 28/11/2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Toµ h×nh sù Toµ ¸n nh©n d©n tèi cao xÐt xö gi¸m ®èc thÈm huû bản án hình sự phóc thÈm sè 77/2011/HSPT ngày 29/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang để xem xét lại phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Nhung.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 10/2013/HS – GĐT ngày 16/4/2013, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để điều tra lại theo đúng qui định của pháp luật.

II. Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Quá trình điều tra cơ quan tố tụng chưa làm rõ các nội dung cụ thể của việc tranh chấp, khiếu nại, cũng như trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, do đó chưa đủ cơ sở để xác định về thẩm quyền và phạm vi giải quyết của các cơ quan hành chính tỉnh Kiên Giang dẫn đến việc ban hành nhiều Quyết định xử phạt hành chính không đúng thẩm quyền, làm cho vụ án khiếu kiện kéo dài, thể hiện:

Năm 1983, bà Lâm Thị Miên đã sang nhượng 10 công đất (với diện tích giấy tờ là 12.552m2, còn thực tế đo được 15.497m2) ở ấp Tám Xáng, xã Đông Hòa, huyện An Minh cho ông Nguyễn Văn Nhung lấy 250 giạ lúa. Ông Nguyễn Văn Nhung đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 6711/QĐ38- QĐUB ngày 6/10/1994 do Chủ tịch huyện An Minh là ông Đặng Tiến Đông ký. Như vậy ông Nguyễn Văn Nhung được quyền quản lý và sử dụng lô đất này. Sau 13 năm đến năm 1996, bà Miên lấy lý do mới chỉ là đất bà cầm cố cho ông Nhung nên đòi lại số đất đã sang nhượng.

Thực tế việc tranh chấp diện tích đất trên giữa bà Lâm Thị Miên và ông Nguyễn Văn Nhung là tranh chấp dân sự chưa được giải quyết. Nhưng ngày 9/3/2000, ông Lê Hoàng Hưởng, Phó Chủ tịch huyện An Minh ra Quyết định số 16/QĐ- UB không công nhận việc sang nhượng đất giữa bà Lâm Thị Miên và Nguyễn Văn Nhung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận sử dụng đất số 6711/QĐ38- QĐUB ngày 6/10/1994 của Ủy ban nhân dân huyện An Minh đã cấp cho ông Nguyễn Văn Nhung; Sau đó ngày 27/7/2000, Chánh Thanh tra Nhà nước tỉnh Kiên Giang lại ban hành Quyết định số 120/QĐ- TTr, công nhận Quyết định số 16/QĐ- UB của Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện An Minh như vậy là không đúng thẩm quyền, bởi vì:

Căn cứ khoản 3 Điều 38 Luật đất đai năm 1993 sửa đổi bổ sung năm 1998 cũng như Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết và xử lý tranh chấp đất đai thì tranh chấp đất đai giữa bà Lâm Thị Miên và ông Nguyễn Văn Nhung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.Các cơ quan hành chính huyện An Minh tỉnh Kiên Giang lại giải quyết tranh chấp này là không đúng thẩm quyền, các quyết định xử phạt hành chính của cơ quan hành chính nêu trên đối với ông Nguyễn Văn Nhung chưa đúng, dẫn đến ông Nguyễn Văn Nhung không chấp hành. Các tài liệu chứng cứ để làm cơ sở xem xét, đánh giá việc cấp và thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn Nhung cũng không được thu thập đẩy đủ, chặt chẽ. Vì vậy, các quyết định giải quyết tranh chấp và các quyết định xử phạt hành chính của Ủy ban nhân dân huyện An Minh đối với ông Nguyễn Văn Nhung về hành vi lấn chiếm đất đai cần được xem xét lại một cách cụ thể, toàn diện. Việc Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm cho rằng ông Nguyễn Văn Nhung đã chiếm giữ, sử dụng trái phép diện tích đất trên của bà Lâm Thị Miên, ông Nguyễn Văn Nhung "đã bị xử phạt hành chính nhiều lần về hành vi này mà còn vi phạm” để kết ông Nguyễn Văn Nhung phạm tội "Vi phạm các qui định về sử dụng đất đai” và buộc ông Nhung trả lại đất cho bà Miên là chưa có cơ sở vững chắc, cần phải điều tra giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu rút kinh nghiệm, nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi