Thông báo rút kinh nghiệm các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại của VKSND cấp tỉnh

Qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính và kinh doanh thương mại trong quý III/2012, Phòng Kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Phòng 12) xin thông báo rút kinh nghiệm đối với các vụ, việc đã được Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm hủy án và sửa án sơ thẩm, cụ thể như sau:

l.Vụ khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, giữa:

-Người khởi kiện: Ông Nguyễn Bình Đông, sinh năm 1944 và bà Dương Kim Phụng, sinh năm 1948. Địa chỉ: Tổ 2, ấp Cây Gòn, xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

- Người bị kiện: Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

* Nội dung vụ kiện: Do ông Nguyễn Bình Đông có hành vi tranh chiếm sử dụng trái phép 10.114m2 đất nông nghiệp tọa lạc tại ấp Cây Gòn, xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn (thuộc quỹ đất công UBND xã quản lý và đang cho ông Nguyễn Lợi Đức thuê), nên ngày 17/2/2005 UBND xã Lương An Trà đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Bình Đông. Ngày 10/3/2005 Chủ tịch UBND huyện Tri Tôn ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 224/QĐ.UBND.XP đối với ông Nguyễn Bình Đông bằng hình thức phạt tiền 15.000.000 đồng và hình thức xử phạt bổ sung thu hồi diện tích 10.114m2 đất nông nghiệp bị ông Đông bao chiếm, giao cho UBND xã Lương An Trà quản lý. Ông Đông khiếu nại quyết định xử phạt trên và ngày 11/7/2006 Chủ tịch UBND huyện Tri Tôn ra Quyết định số 1791/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại: Giữ nguyên nội dung Quyết định số 224/QĐ.UBNĐ.XP.

Ngày 03/8/2011, ông Đông cùng vợ là Dương Kim Phụng đứng đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu Tòa án xét xử hủy các quyết định hành chính nói trên, vì cho rằng nguồn gốc đất tranh chiếm là của cha mẹ vợ ông Đông khai hoang từ trước năm 1975, sau đó đã cho vợ chồng ông canh tác đến năm 1978 xảy ra chiến tranh biên gii Tây Nam nên phải di tản. Năm 1983 gia đình ông quay về canh tác lại đất này thì xảy ra tranh chấp, dẫn đến vic ông chiếm lai đất và bị xử phạt như trên.

Tại Bản án hành chính sơ thm s: 03/2012/HC-ST ngày 19/6/2012 của TAND huyện Tri Tôn xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bình Đông và bà Dương Kim Phụng về việc khởi kiện Quyết định số 224/QĐ.UBND.XP ngày 10/3/2005 và Quyết định số 1791/QĐ-UBND ngày 11/7/2006 của Chủ tịch UBND huyện Tri Tôn; ông Nguyễn Bình Đông và bà Dương Kim Phụng phải chịu 200.000đ án phí hành chính sơ thẩm.

Ngày 25/06/2012, ông Nguyễn Bình Đông và bà Dương Kim Phụng kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử lại toàn bộ bản án theo trình tự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm số 13/2012/HCPT ngày 05/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định sửa án sơ thẩm:

+ Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Dương Kim Phụng đối với các Quyết định số 224/QĐ.UBND.XP ngày 10/3/2005 và số 1791/QĐ-UBND ngày 11/7/2006 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn.

+ Bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đông đối với các Quyết đnh số 224/QĐ.UBND.XP ngày 10/3/2005 và số 1791/QĐ-UBND ngày 11/7/2006 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn.

+ Ông Đông phải chịu 200.000đ án phí hành chính sơ thm.

* Lý do sửa án và những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Bà Dương Kim Phụng đứng đơn khởi kiện cùng với ông Nguyễn Bình Đông đối với Quyết định số 224/QĐ.UBNĐ.XP ngày 10/3/2005 và Quyết định số 1791/QĐ-UBND ngày 11/7/2006 của Chủ tịch UBND huyện Tri Tôn, là Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại đối với cá nhân ông Đông. Các Quyết định hành chính này không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của cá nhân bà Phụng, nên bà Phụng không có quyền khởi kiện. Lẽ ra, qua công tác kiệm sát thụ lý giải quyết vụ án hành chính nói trên, Kiểm sát viên cần kiến nghị Tòa án ra Quyết định đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phụng theo đúng quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 120 Luật Tố tụng hành chính. Việc Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xác định bà Phụng là người khởi kiện và tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Phụng, buộc bà Phụng phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm là vi phạm về thủ tục tố tụng và không đúng pháp luật.

2.Vụ khiếu kiện quyết định hành chính, giữa:

- Người khởi kiện: Ông Trần Văn Nguyên, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp Cây Me, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

-Người bị kiện: Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn.

*Nội dung vụ kiện Năm 1994 ông Trần Văn Chinh (là anh ruột của ông Nguyên) khiếu nại tranh chấp diện tích 20.500m2 đt nông nghiệp tọa lạc tại xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn. Vụ việc được y ban nhân dân huyện Tri Tôn giải quyết bằng Quyết định số 452/QĐ.UB ngày 15/7/1996 bác đơn khiếu nại của ông Chinh về tranh chấp đất nông nghiệp nêu trên, ông Chinh tiếp tục khiếu nại đến y ban nhân dân tỉnh An Giang, ngày 19/4/1999 Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại s 715/QĐ.UB.KN giữ nguyên nội dung Quyết định số 452/QĐ.ƯB ngày 15/7/1996 của y ban nhân dân huyện Tri Tôn. Sau khi ông Chinh chết, ông Nguyên tiếp tục khiếu nại tranh chấp phần đất nói trên đối với ông Nguyễn Văn Thao và ông Dương Thanh Liêm. Ngày 06/4/2009, y ban nhân dân tỉnh An Giang có Công văn số 11/UBND-TD trả lời việc khiếu nại của ông Nguyên không có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ việc đã được giải quyết tại Quyết định số 715/QĐ.UB.KN; yêu cu ông Nguyên nghiêm chỉnh chp hành. Nhưng ông Nguyên vn tiếp tục có hành vi xạ lúa đ tranh chiếm diện tích đt đã được cp cho ông Dương Thanh Liêm. Ngày 06/02/2012, y ban nhân dân xã Châu Lăng đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với ông Nguyên. Ngày 09/02/2012, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn ban hành Quyết định số 554/QĐ-UBND về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn Nguyên, bằng hình thức phạt tiền 30.000.000 đồng và buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất như trước khi vi phạm.

 

Ngày 22/02/2012, ông Trần Văn Nguyên khởi kiện án hành chính yêu cầu Toà án xét xử hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 554/QĐ-UBND nói trên.

Bản án hành chính sơ thẩm số: 04/2012/HC-ST ngày 25/7/2012 của TAND huvện Tri Tôn đã xét xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Nguyên đòi hủy Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 9/02/2012 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn.

Ngày 26/7/2012, ông Trần Văn Nguyên kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử lại toàn bộ bản án theo trình tự phúc thẩm.

Quá trình Tòa án nhân dân tỉnh An Giang thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, ngày 31/8/2012 Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện tri Tôn đã có Quyết định số 5511/QĐ-UBND thu hồi và bãi bỏ Quyết định số 554/QĐ- UBND ngày 09/02/2012 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn Nguyên (do xác định việc xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp nói trên là không đúng thẩm quyền) và người khởi kiện cũng có đơn rút lại yêu cầu khởi kiện. Tại Quyết định số: 14/2012/QĐ-PT ngày 10/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định: Hủy bản án hành chính sơ thẩm số: 04/2012/HC- ST ngày 25/7/2012 của TAND huyện Tri Tôn và đình chỉ giải quyết vụ án.

* Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 9/02/2012, Chủ tịch ủy ban-nhân dân huyện Tri Tôn đã áp dụng Điểm d Khoản 1 Điều 9 Nghị định số: 105/2009/NĐ- CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, để áp dụng mức phạt tiền 30.000.000 đồng đối với ông Trần Văn Nguyên là chưa phù hp về nguyển tắc xử phạt quy định tại Khoản 6 Điều 6 và thẩm quyền xử phạt quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP, bởi vì: Giá trị quyền sử dụng đt nông nghiệp mà ông Nguyên tranh chiếm trái phép được xác định là 230.000.000 đồng, do đó theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 9 Nghị Định số 105/2009/NĐ-CP có khung tiền phạt từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (mức phạt trung bình khung là 65.000.000 đồng). Nhưng theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện chỉ có quyền phạt tiền đến 30.000.000 đồng (tại Điểm a Khoản 3 Điều 13 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003: Thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định cho mỗi hành vi vi phạm hành chính). Do đó, việc án sơ thẩm đã tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Nguyên đối với Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 09/02/2012 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn nói trên là chưa xem xét đúng các căn cứ pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hiện hành. Công tác kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm chưa phát hiện được nội dung vi phạm trên để kiến nghị, kháng nghị theo thẩm quyền là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

3. Vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng, giữa:

-Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Châu Đốc, tỉnh An Giang. Địa chỉ: số 55 - Lê Lợi, phường Châu Phú B, thỉ xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

-Bị đơn: Ông Thái Ngọc Tính, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp Tân Lợi, xã Tân Tiến, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ba, sinh năm 1957 và ông Thái Ngọc Dũng, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Ấp Tân Lợi, xã Tân Tiến, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

*Nội dung vụ kiện: Vào ngày 20/01/2009, Phòng giao dịch Tnh Biên thuộc Chi nhánh Châu Đốc - NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam có ký hợp đồng số 29/2009/PGD.TB-TL cho ông Thái Ngọc Tính vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn cho vay 06 tháng, lãi suất 0,96%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% so với lãi suất trong hạn. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay bằng Hp đồng thế chấp QSDĐ số 14/TC3-QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009, theo đó bên thứ ba là bà Nguyễn Thị Ba và chồng là ông Thái Ngọc Dũng đồng ý thế chấp tài sản quyền sử dụng 28.687m2 đất 2L theo giấy chứng nhận QSDĐ số 02112 QSDĐ/cL do UBND huyện Tri Tôn ký cấp ngày 20/9/1999 và diện tích 4.956m2 đất 2L theo giấy chứng nhận QSDĐ số 02261 QSDĐ/cI do UBND huyện Tri Tôn ký cấp ngày 01/3/2002 (đều do bà Nguyễn Thị Ba đứng tên giấy CNQSDĐ).

Kết quả thực hiện, đến tháng 7/2009 Hợp đồng vay số 29/2009/PGD.TB- TL nói trên đã được thanh lý xong. Ông Thái Ngọc Tính và Phòng giao dịch Tịnh Biên tiếp tục ký kết thực hiện các Hợp đồng vay số 158/2009/PGD.TB- HM ngày 16/7/2009 (số tiền vay là 1.200.000.OOOđ, thời hạn vay 06 tháng, lãi suất 0,875%/tháng); Hợp đồng vay số 21/2010/PGD.TB.TL ngày 22/01/2010 (số tiền vay 400.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng) và Hợp đồng vay số 16/2011/PGD.TB-HM ngày 21/01/2011 (số tiền vay là 158.000.000 đng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất vay do bên cho vay công bố tại thời điêm nhận nợ). Ông Tính và bên cho vay vẫn tiếp tục sử dụng Hp đồng thế chấp QSDĐ số 14/TC3-QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009 (đã được vợ chồng bà Ba, ông Dũng ký kết ngày 22/01/2009) để bảo đảm nghĩa vụ thực hiện các Hợp đồng vay số 158/2009/PGD.TB-HM; số 21/2010/PGD.mTL và s 16/2011/PGD.TB-HM nêu trên, nhưng không được ông Dũng và bà Ba đồng ý.

Do ông Thái Ngọc Tính vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền vốn và lãi vay, nên ngày 25/8/2011 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Châu Đốc làm đơn khởi kiện, yêu cầu xét xử buộc ông Thái Ngọc Tính và vợ là Lê Thị Nhi cùng bên thế chấp tài sản là bà Nguyễn Thị Ba và ông Thái Ngọc Dũng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ 158.000.000 vốn gốc và tiền lãi phát sinh.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2012/KDTM-ST ngày 03/5/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn đã quyết định xử: Buộc vợ chồng ông Thái Ngọc Tính, bà Lê Thị Nhi và vợ chồng ông Thái Ngọc Dũng, bà Nguyễn Thị Ba liên đới trách nhiệm thanh toán nợ vay ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Châu Đốc - Phòng giao dịch Tịnh Biên, với số tiền nợ cộng chung vốn và lãi là 195.779.116 đồng; như vậy, anh Tính, chị Nhi, ông Dũng và bà Ba mỗi người phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng là 48.944.779 đồng; Khi án có hiệu lực pháp luật anh Tính, chị Nhi, ông Dũng và bà Ba còn phải chịu lãi suất đối với phần vốn gốc.(158.000.000đ) theo mức lãi suất hai bên đã ký kết hợp đồng tín dụng, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời đim thanh toán, về án phí: Anh Tính, chị Nhi, ông Dũng và bà Ba mỗi người phải nộp là 2.447.239Đ tiền án phí KDTM-ST.

Ngày 21/5/2012, ông Thái Ngọc Dũng kháng cáo cho rằng: Án sơ thẩm đã xử buộc vợ chồng ông phải liên đới trả nợ vốn, lãi phát sinh cho Ngân hàng là không đúng pháp luật. Do Hợp đồng thế chấp tài sản số 14/TC3- QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009 đã được chấm dứt ngay tại thời điểm Thái Ngọc Tính hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng số 29/2009/PGD.TB- TL ngày 20/01/2009. Sau đó ông Dũng không đồng ý bảo đảm cho các hợp đồng vay khác của ông Tính, nhưng phía Ngân hàng vẫn cho ông Tính vay là ngoài phạm vi bảo đảm của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nói trên (tuy nhiên, kháng cáo của ông Tính quá hạn luật định và không có lý do chính đáng nên đã không được cấp phúc thẩm chấp nhận).

Ngày 05/6/2012, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn ban hành Quyết định kháng nghị số 136/QĐ/KNPT yêu cầu xét xử phúc thẩm sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2012/KDTM-ST ngày 03/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn: về phần trách nhiệm liên đới thanh toán nợ, án phí và nghĩa vụ trả tiền lãi chậm thi hành án.

Đến ngày 24/7/2012, Ngân hàng TMCP Ngoại thương - Chi nhánh Châu Đốc có văn bản xác nhận bị đơn đã thanh toán xong số tiền 158.000.000 đồng nợ vn và chỉ còn nợ lãi 38.517.766 đồng, nên chỉ tiếp tục yếu cầu ông Thái Ngọc Tính, bà Lê Thị Nhi và bà Nguyễn Thị Ba, ông Thái Ngọc Dũng phải liên đới trách nhiệm trả số tiên nợ lãi còn lại nói trên.

Tại bản án phúc thẩm số 16/2012/KDTM-PT ngày 15/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã phúc xử. Chấp nhận Kháng nghị số 136/QĐ/KNPT ngày 05/6/2012 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn:

+ Buộc Thái Ngọc Tính và Lê Thị Nhi có nghĩa vụ trả Ngân hàng thương mại c phn Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Châu Đốc - Phòng giao dịch Tịnh Biên số tiền 38.518.766 đồng.

+ Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Châu Đốc - Phòng giao dịch Tịnh Biên trả lại ông Thái Ngọc Dũng, bà Nguyễn Thị Ba Giấy chúng nhận QSDĐ số 02112 QSDĐ/cI ngay 20/9/1999 và Giấy chng nhận QSDĐ số 02261 QSDĐ/cI ngày 01/3/2002.

+ về án phí: Thái Ngọc Tính và Lê Thị Nhi phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

+ K từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thanh toán số tiền trên thì bên phải thi hành án còn phải chịu thêm lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian thi hành án.

* Lý do sửa ánnhững vấn đề cần rút kinh nghiệm.

Trong vụ kiện này: ông Thái Ngọc Dũng và bà Nguyễn Thị Ba tham gia tố tụng vi tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan (bên thế chấp tài sản bảo đảm nợ vay), nhưng án sơ thẩm lại xử buộc ông Dũng và bà Ba phải chịu trách nhiệm liên đi trả nợ như trên là chưa bảo đảm căn cứ chính xác, vì: Nghĩa vụ trả nợ trước tiên phải là trách nhiệm của ông Tính (người vay tiền), nếu tới thời hạn mà ông Tính không trả được nợ và các bên không có thỏa thuận nào khác thì phải xử lý tài sản thế chấp để thanh toán nợ. Như vậy, tại thời điểm Hợp đồng số 29/2009/PGD.TB-TL ngày 20/01/2009 được thanh lý xong và khi chưa phát sinh nghĩa vụ mới, thì đương nhiên hợp đồng thế chấp tài sản số 14/TC3-QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009 đã hết thời hạn và chấm dứt theo quy định tại Điều 344, Điều 357 Bộ luật dân sự. Do đó số nợ 158.000.000 đồng phát sinh theo Hợp đồng vay số: 16/2011/PGD.TB-HM ngày 21/01/2011 hoàn toàn nằm ngoài phạm vi bảo đảm của hp đồng thế chấp QSDĐ số 14/TC3- QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009.

Về án phí sơ thẩm: ông Thái Ngọc Dũng và bà Nguyễn Thị Ba tham gia vụ kiện với tư cách là người có quyn và nghĩa vụ liên quan và họ không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Nhưng án sơ thẩm đã xử buộc mỗi người phải nộp 2.447.239 đồng tiền án phí KDTM-ST là không đúng với quy định tại Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về biện pháp bảo vệ quyền lợi cho bên được thi hành án: Án sơ thẩm đã quyết định: "Khi án có hiệu lực các đương sự Thái Ngọc Tính, Lê Thị Nhi, Thái Ngọc Dũng và Nguyễn Thị Ba phải chịu lãi suất đối với phần vốn gốc là 158.000.000 đồng theo mức lãi suất hai bên đã kỷ hợp đồng tín dụng, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán ” là chưa đúng với quy đinh tại các Điều 7, Điều 30 và Điều 31 Luật thi hành án dân sự và Điều 305 Bộ luật Dân sự. Theo Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản tại Khoản 3 Mục I có quy định: "Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, trong mọi trường hợp Tòa án đều không phải quy đối các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi, kế từ ngày khi giao dịch cho đến khi thỉ hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định

Do Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã làm tốt công tác kiểm sát bản án và kịp thời ban hành kháng nghị, kết quả xét xử phúc thẩm đã được chấp nhận kháng nghị và sửa án sơ thẩm như nêu trên.

Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hành chính và kinh doanh thương mại nói trên, Phòng 12, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang xin thông báo đến các Viện Kiểm sát nhân dân huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh nghiên cứu rút kinh nghiệm chung nhằm thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính và án kinh doanh thương mại trong thời gian tới./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi