Thông báo rút kinh nghiệm vụ "Xin ly hôn và chia tài sản sau khi ly hôn" bị cấp phúc thẩm xử hủy án
Ngày 24/3/2013, Viện phúc thẩm 3 có thông báo số 41/2013/TB-VKSTC-VPT3 rút kinh nghiệm về vụ án dân sự - hôn nhân và gia đình bị cấp phúc thẩm hủy án để Viện kiểm sát các cấp rút nghiên cứu và rút kinh nghiệm, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác.

I. NỘI DUNG VỤ KIỆN QUÁ TRÌNH GII QUYẾT VỤ ÁN:

1. Nội dung vụ kiện : "Xin ly hôn và chia tài sản sau khi ly hôn", giữa:

Nguyên đơn: Lý Kim Chi, sinh năm 1972.

Bị đơn: Trần Văn Quý, sinh năm 1971.

Chị Lý Kim Chi và anh Trần Văn Quý kết hôn năm 1992, có 02 con chung, Trần Lý Nhân sinh năm 1992 hiện đang du học tại Mỹ, Trần Lý Mỹ Uyên sinh năm 2000 và anh chị tạo được khối tài sản chung qua thẩm định giá trên 58 tỷ đồng. Năm 2012 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân nên chị Chi làm đơn xin ly hôn.

2. Quá trình giải quyết vụ án:

- Cấp sơ thẩm:

Tại bản án sơ thẩm số 08/2013/DSST ngày 29/5/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh ... quyết định:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lý Kim Chi với anh Trần Văn Quý.

Về con chung: Giao cho chị Chi được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Uyên.

Về tài sản chung: Chị Chi và anh Quý mỗi người được nhận tài sản chung trị giá 29.109.292.476 đồng, sau khi khấu trừ các khoản nợ.

Ngoàira án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thanh toán, án phí, quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo quy định.

Ngày 11/6/2013 Tòa án tỉnh… ban hành thông báo sửa chữa b sung bản án.

Cùng ngày 11/6/2013 tiếp tục ban hành Thông báo báo sửa chữa b sung bản án ln 2. Ngoài ra còn biên bản hội ý ln 3 đ Thông báo sửa chữa bổ sung bản án.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 01/6/2013 ch Lý Kim Chi làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 05/8/2013 chị Chi tiếp tục làm đơn kháng cáo b sung cho rằng:

Cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng về kê biên tài sản, không cho tiếp tục kinh doanh.

Vi phạm Điều 125 Bộ luật TTDS về việc tống đạt quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không cho chị thời gian khiếu nại.

Vi phạm trong việc tuyên án và phát hành bản án có sự khác nhau: Tuyên án tại tòa thì buộc anh Quý phải giao lại cho chị Chi 468.950.473 đồng. Khi phát hành bản án thì buộc chị Chi hoàn lại cho anh Qúy là 2.760.938.995 đồng.

-Cấp phúc thẩm ngày 13/9/2013:

Viện phúc thẩm 3 phát biểu quan đim đề nghị: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại TPHCM chấp nhận đề nghị của Viện phúc thẩm 3: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

II. NHŨNG THIU SÓT CN RÚT KINH NGHIỆM:

1. Vi phm về thủ tc tố tụng:

- Vi phạm khoản 2 và khoản 4 Điều 236 về Nghị án:

Tại khoản 2 Điều 236 quy định "...Khi nghị án, các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biu quyết trước. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án".

Tại khoản 4 Điều 236 quy định: "Khi nghị án phải có biên bản ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các thành viên Hội đồng xét xử ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án”.

Tuy nhiên, qua kiểm sát hồ sơ vụ án thấy rằng: Biên bản nghị án ngày 29/5/2013 không có chữ ký của Hội thẩm nhân dân là bà Phạm Bích Hoàn (tại bút lục số 679) có ghi ý kiến Chủ tọa thống nhất với ý kiến hội thẩm nhân dân Lê Thanh Tâm.

Kết quả biểu quyết: 2/3 ý kiến thống nhất về quan hệ hôn nhân, con chung, chia tài sản chung. 1/3 ý kiến hội thẩm bà Phạm Bích Hoàn bảo lưu quan điểm giao căn nhà số 17B cho chị Chi để chị Chi tiếp tục kinh doanh vàng để nuôi 02 con chung.

Nhưng trong cùng bút lục này ở phần cuối lại có mục kết quả biểu quyết 3/3 ý kiến thng nhất.

Việc hội thẩm bà Phạm Bích Hoàn không ký tên vào biên bản nghị án trước khi tuyên án không ghi rõ lý do vào biên bản nghị án, nhưng vẫn tuyên án và phát hành bản án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại khoản 2 Điều 236 Bộ luật TTDS.

- Vi phạm khoản 5 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự:

Bản án phát hành không đúng với bản án gốc và nội dung đã nghị án cụ thể biên bản nghị án ghi anh Quý phải hoàn lại cho chị Chi 468.950.473 đồng, không có nội dung buộc chị Chi phải có trách nhiệm hoàn lại cho anh Quý 2.760.938.995 đồng, nhưng khi phát hành bản án lại có nội dung này.

- Vi phạm Điều 240 về Sửa chữa, bổ sung bản án:

Ngày 30/5/2013, có lập biên bản hội ý về việc sửa chữa, bổ sung bản án nhưng không có mặt Hội thẩm nhân dân bà Phạm Bích Hoàn, biên bản hội ý có nội dung chị Chi phải hoàn lại cho anh Quý 2.760.938.995 đồng, biên bản nghị án ngày 29/5/2013 không có nội dung này. Cuối biên bản hội ý ghi kết quả biểu quyết 3/3 của Hội đồng xét x thống nhất sửa chữa bổ sung bản án để phát hành như trên. Thông báo sửa chữa b sung bản án số 06/TB-TA ngày 11/6/2013 bổ sung chị Chi đang quản lý 540.000.000 đồng, có trách nhiệm giao lại cho anh Quý. Nhưng biên bản nghị án không thể hiện nội dung buộc chi Chi giao lại tiền cho anh Quý, mà biên bản nghị án có nội dung buộc anh Quý phải hoàn lại cho chị Chi 468.950.473 đồng. Nên thông báo sửa chữa bổ sung bản án trái với biên bản nghị án và bản án đã phát hành.

Ngày 10/6/2013 Hội đồng xét xử tiếp tục lập biên bản hội ý lần 2 (Bút lục số 702) cũng không có mặt Hội thm nhân dân là bà Phạm Bích Hoàn. Biên bản hội ý có nội dung tại dòng 19, 20 từ trên xuống trang 17 của bn án sơ thẩm nêu trên ghi chị Chi phải hoàn lại cho anh Quý 4.074.479.026 đồng. Nay được bổ sung chị Chi phải hoàn tiền chênh lệnh tài sản sau khi chia tài sản chung cho anh Quý là 4.614.479.026 đồng.

Tại dòng 23, 24 từ trên xuống trang 17 của bản án sơ thẩm nêu trên ghi chị Chi phải có trách nhiệm hoàn lại cho anh Quý số tiền2.760.938.995 đồng. Nay được sửa lại Chi phải có trách nhiệm hoàn lại cho anh Quý số tiền 3.300.938.995 đồng, nhưng trong thông báo sửa chữa bsung bản án (lần 2) số 07/TB-TA ngày 11/6/2013 chỉ thể hiện nội dung là giao 01 căn kiot (còn trống chưa sử dụng).

Cùng ngày 10/6/2013, Hội đồng xét xử tiếp tục lập biên bản hội ý lần 3 (Bút lục số 704) cũng không có mặt Hội thẩm nhân dân là bà Phạm Bích Hoàn. Nội dung thảo luận sửa chữa bổ sung và điều chỉnh về căn kiot giao cho Chi.

Một bản án đã tuyên trong thời gian ngắn đã có 03 lần hội ý để ra thông báo sửa chữa b sung bản án, các nội dung b sung thêm đu không được bàn bạc biểu quyết đã ghi trong khi nghị án.

- Vi phạm khoản 6 Điều 2 thông tư số 04/2012/VKSNDTC- TANDTC ngày 01/8/2012 về đánh số thứ tự và bản kê danh mục các tài liệu trong h sơ:

Tại khoản 6 Điều 2 thông tư 04/2012 ngày 01/8/2012 quy định "…Tất cả tài liệu có trong hồ sơ vụ việc dân sự (bao gồm tài liệu cũ và tài liệu mới b sung, nếu có) đu phải được đánh s thứ tự và có bản kê danh mục các tài liệu".

Trong vụ án này các tài liệu về thẩm định giá để làm căn cứ phân chia tài sản không được đánh số thứ tự và không có trong bản kê danh mục. Ngoài ra còn một tập tài liệu kèm theo hồ sơ nhưng không được đánh số thứ tự và đưa vào bản kê danh mục gồm:

Biên bản nghị án đề ngày 29/5/2013 Hội thẩm nhân dân bà Phạm Bích Hoàn đã ghi với nội dung: Biên bản nghị án này lệch so với nghị án ngày 29/5/2013 và tuyên án (ký ngày 10/7/2013).

Bản án gốc 18 trang có chữ ký của Hội thẩm nhân dân bà Phạm Bích Hoàn với nội dung "Như ý kiến tôi đã ghi trong biên bản nghị án đề ngày 29/5/2013, bản án này không phải là bản án đã tuyên " ký ngày 10/7/2013.

Biên bản hội ý đề ngày 10/6/2013 thì ý kiến của Hội thẩm nhân dân bà Phạm Bích Hoàn ghi "Tôi không có được tham dự hội ý ngày 10/6/2013. Tôi đồng ý phn bổ sung số tiền 540.000.000 đồng. Còn những ý kiến khác như tôi đã ghi trong biên bản nghị án đề ngày 29/5/2013 (ký ngày 10/7/2013).

2. Vi phạm về thu thp và đánh giá chng cứ:

- Vi phạm khoản 4 Điều 83, Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.

Số tiền 4.500.000.000 đồng là Trần Lý Nhân (là con của anh chị) hiện người đang quản lý chứ không phải do chị Chi quản lý. Án sơ thẩm tuyên chị Chi đang quản lý là mâu thuẫn với biên bản làm việc ngày 15/10/2012 (BL số 299) Trần Lý Nhân xác định số tiền 4.500.000.000 đồng do mẹ chuyển cho từ tháng 5/2012 đến tháng 9/2012.

Việc kê biên 2/3 tài sản là vàng trị giá 23.698.144.174 đồng (trên 23 tỷ đồng) mà không có văn bản yêu cầu anh Quý phải có nghĩa vụ đóng tiền ký quỹ bảo đảm tài sản theo quy định tại Điều 120 Bộ luật tố tụng dân sự là vi phạm.

- Vi phạm khoản 1 điều 92 BLTTDS:

Việc Ký hợp đồng thẩm định giá Tòa án chưa lập biên bản thỏa thuận về việc xác định tài sản; lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Hồ sơ thể hiện ngày 12/11/2012 Trần Văn Quý có đơn yêu cầu thẩm định giá (BL số 401) thì ngày 13/11/2012 Thẩm phán trực tiếp ký kết hợp đồng thẩm định giá và đo đạc (BL số 413). Kết quả thẩm định giá cụ thể tại trang 5.3 ca chứng thư thẩm định giá: Tài sản mua đã sử dụng thời gian dài khi định giá không khấu hao %giá trị đã sử dụng, quy giá mua bằng giá hiện tại để tính là vi phạm về việc xác định trị giá tài sản.

III/ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Từ các nội dung trên nhận thy: Viện kim sát tỉnh... chưa chú trọng đến công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực án Dân sự- Hôn nhân và gia đình. Chưa thực hiện tốt chức năng kiểm sát từ khi nhận thông báo thụ lý vụ án và trực tiếp kiểm sát xét xử tại phiên tòa là thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, nên không phát hiện các vi phạm của thẩm phán.

Sau phiên tòa thực hiện chức năng kiểm sát bản án. Nhưng bản án tuyên tại tòa về số liệu khác với bản án phát hành, tiếp theo là 02 bản thông báo sửa chữa bổ sung bản án về số liệu cũng khác với bản án phát hành. Kiểm sát viên cũng không phát hiện bản án và các thông báo sửa chữa bổ sung bản án đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng tại Điều 236, 238, 240 Bộ luật tố tụng dân sự.

Những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng nêu trên của Tòa án Viện kiểm sát tỉnhkhông phát hiện để kiến nghị yêu cầu tòa án cấp sơ thẩm khắc phục vi phạm và kháng nghị phúc thẩm kịp thời theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, hoặc báo cáo đề nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị theo thẩm quyền dẫn đến cấp phúc thm phải tuyên hủy án sơ thẩm để giải quyết lại vụ kiện.

Thông qua vụ án Dân sự -Hôn nhân và gia đình đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục ttụng bị hủy án. Viện phúc thm 3 xin thông báo đến các Viện kiểm sát tỉnh, thành phố trong khu vực để nghiên cứu và rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện tốt Chỉ thị số 04/CT- VKSTC- VPT1 ngày 17/5/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi