Thông báo rút kinh nghiệm vụ án "Tranh chấp quyền sử dụng đất"

Ngày 11/7/2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G ra Thông báo số 241/TB-P5 rút kinh nghiệm vụ án "tranh chấp về quyền sử dụng đất” có vi phạm về thủ tục tố tụng, đã bị VKSND tỉnh kháng nghị phúc thẩm.

I. NỘI DUNG VỤ ÁN, BẢN ÁN SƠ THẨM, BẢN ÁN PHÚC THẨM.

1.Nội dung vụ án:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Nguyệt, sinh năm 1967, ông Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1960

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Xã, sinh năm 1962, bà Đặng Thị Tuyết Nhung, sinh năm 1967

* Nguyên đơn trình bày:

Năm 2002 bà Nguyệt, ông Hùng mua đất của ông Sơn diện tích: 275 m2 (5m x 55m) tại Tổ 4, phường Chi Lăng, P, tỉnh G. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 598916 ngày 07/3/2002. Hiện trạng đất lúc bà Nguyệt, ông Hùng mua là phía trước rộng 05 mét và phía sau rộng 05 mét, chiều dài 55 mét, có hàng rào thép gai và cột mốc cụ thể. Khi mua đất đều có các hộ lân cận chứng kiến và ký xác nhận không tranh chấp, trong đó có hộ gia đình ông Huỳnh Văn Xã, bà Đặng Thị Tuyết Nhung có ký lân cận và không tranh chấp. Sau khi mua, bà Nguyệt, ông Hùng không ở tại lô đất này nên lô đất bỏ hoang.

Ngày 25/4/2011, bà Nguyệt, ông Hùng có nhu cầu chuyển nhượng lô đất trên thì phát hiện ông Xã, bà Nhung đã tự phá chặt hàng rào, phá cột ranh giới và đã lấn chiếm đất như sau: Ông Xã, bà Nhung đã tự cắm các cột mốc lấn sang đất của bà Nguyệt, ông Hùng tại phía Đông lô đất là 1,24 mét và tính từ đầu đường Nguyễn Chí Thanh đến điểm này đã lấn chiếm diện tích đất là 34,1 m2. Vụ việc tranh chấp bà Nguyệt, ông Hùng đã nhờ chính quyền địa phương tiến hành hòa giải nhưng không thành. Nay bà Nguyệt, ông Hùng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Văn Xã, bà Đặng Thị Tuyết Nhung trả lại diện tích đất lấn chiếm là 34,1 m2.

* Bị đơn trình bày:

Ông Xã, bà Nhung không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cuối năm 2010 ông Xã, bà Nhung có tháo dỡ hàng rào cúc quỳ là ranh giới giữa lô đất của ông Xã, bà Nhung với đất của bà Nguyệt, ông Hùng. Ông Xã, bà Nhung đã tự đóng cột mốc bằng xi măng để làm ranh giới của hai lô đất. Việc ông Xã, bà Nhung cắm mốc như trên thì không có thông báo với bà Nguyệt, ông Hùng. Hiện vụ việc ông Xã, bà Nhung cắm mốc như trên UBND phường Chi Láng đã tiến hành hòa giải 02 lần nhưng không thành. Căn cứ để ông Xã, bà Nhung xác định ranh giới trên là căn cứ vào cột điện tại đường Nguyễn Chí Thanh là mặt trước của lô đất, phía sau căn cứ vào cây Gòng trồng năm 1989 được trồng làm cột mốc xác định ranh giới đất ông Xã, bà Nhung với gia đình của ông Nguyễn Thọ trước đây. Trên cơ sở đó ông Xã, bà Nhung đã kéo dây từ hai điểm kể trên để xác định ranh giới đất của ông Xã, bà Nhung với đất của các hộ lân cận. Theo ông Xã, bà Nhung thì việc xác định ranh giới như trên là hoàn toàn chính xác. Vì vậy, ông Xã, bà Nhung không có lấn đất của bà Nguyệt, ông Hùng. Việc đất của bà Nguyệt, ông Hùng phía sau bị thiếu là do ông Thọ cắt đất bán cho người khác không chính xác. Diện tích đất hiện tại của ông Xã, bà Nhung đang sử dụng là 1332,11 m2, trong đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1222 m2 và 110,11 m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

2. Bản án sơ thẩm.

Bản án sơ thẩm số 07/2013/DS-ST ngày 30/01/2013 của Toà án nhân dân thành phố P, tỉnh G đã quyết định:

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phan Thị Nguyệt và ông Nguyễn Văn Hùng.

Buộc ông Huỳnh Văn Xã, bà Đặng Thị Tuyết Nhung phải trả cho bà Phan Thị Nguyệt, ông Nguyễn Văn Hùng diện tích đất đã lấn chiếm là 34,1 m2; đất hình tam giác có giới cận như sau: Phía Nam giáp đất bị đơn dài 55 m, phía Bắc giáp phần đất còn lại của nguyên đơn dài 55,014 m; phía Đông giáp đất ông Thành dài 1,24 m.

3. Kháng cáo của đương sự.

Ngày 30/01/2013, bị đơn ông Huỳnh Văn Xã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên. Sau đó, ông Xã kháng cáo bổ sung ngày 25/4/2013, nội dung đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, yêu cầu Toà án buộc vợ chồng ông Hùng, bà Nguyệt phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng số tiền 15.654.000 đồng.

4. Kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G ban hành kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ/KNPT-P5, ngày 25/02/2013, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm số 07/2013/DS-ST ngày 30/01/2013 của Toà án nhân dân thành phố P, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm đưa vụ án ra xét xử theo hướng huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án. Lý do: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng như: Thụ lý, giải quyết vụ án khi đương sự chưa có đủ điều kiện khởi kiện; không tiến hành các thủ tục thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không yêu cầu nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí đối với phần yêu cầu bổ sung, nhưng tiến hành thụ lý, giải quyết theo yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn; buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn diện tích đất 34,1 m2, là giải quyết không đúng, vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ.

5.Bản án phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh G.

Bản án phúc thẩm số 57/2013/DS-PT ngày 20/6/2013 của Toà án nhân dân tỉnh G đã quyết định:

-Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G:

-Huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 07/2013/DS-ST ngày 30/01/2013 của Toà án nhân dân thành phố P để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Lý do huỷ án sơ thẩm: Như kháng nghị đã nêu.

II. VI PHẠM CỦA TOÀ ÁN CẤP SƠ THẨM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN RÚT KINH NGHIỆM.

Quá trình giải quyết vụ án nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm về thủ tục tố tụng, cần rút kinh nghiệm như sau:

Tại đơn khởi kiện, vợ chồng bà Nguyệt, ông Hùng yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Xã, bà Nhung phải trả lại phần đất đã lấn chiếm ở phía sau (phía Đông) giáp với đất ông Xã là 15 m (dài) x 0,9 m (rộng) =13,5 m2. Tại các biên bản hòa giải vào các ngày 10/01/2012 và 16/3/2012, phía nguyên đơn bà Nguyệt, ông Hùng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, đến ngày 01/6/2012 và ngày 25/01/2013, bà Phan Thị Nguyệt bổ sung yêu cầu khởi kiện; theo đó bà Nguyệt yêu cầu Tòa án buộc ông Xã, bà Nhung phải trả lại cho bà phần đất mà ông Xã đã lấn chiếm trái phép có tổng diện tích là 39,8 m2. Việc bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu tại đơn khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành các thủ tục thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không yêu cầu nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí đối với phần yêu cầu bổ sung, nhưng đã tiến hành thụ lý, giải quyết theo yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại các Điều 171, 174 BLTTDS. Từ đó, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn diện tích đất 34,1 m2, là giải quyết không đúng, vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại khoản 1 Điều 5 BLTTDS.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản vào ngày 28/3/2012 và xác định được phần diện tích đất tranh chấp là 34,1 m2. Đến ngày 06/11/2012, Tòa án lại tiếp tục xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, đồng thời xác định phần diện tích đất tranh chấp là 56,1 m2. Hai lần Tòa án thu thập chứng cứ bằng biện pháp xem xét thẩm định tại chỗ như đã nêu trên cho hai kết quả khác nhau về phần diện tích đất mà các bên đương sự tranh chấp với nhau và khác với yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, khi xem xét, đánh giá chứng cứ, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ vì sao lại có sự khác nhau này, kết quả nào là chính xác, để khẳng định giá trị pháp lý của từng chứng cứ nhưng đã kết luận ông Xã, bà Nhung lấn chiếm của bà Nguyệt, ông Hùng phần đất có diện tích 34,1 m2, là không khách quan, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc đánh giá chứng cứ được quy định tại Điều 96 BLTTDS.

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/11/2012 thể hiện: Việc tiến hành đo đạc, thẩm định diện tích đất do đơn vị đo đạc Công ty TNHH tư vấn tài nguyên và môi trường Quang Minh tiến hành. Như vậy, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án không trực tiếp tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại khoản 1 Điều 89 BLTTDS.

Phần đất mà các bên đương sự tranh chấp với nhau có sự khác biệt về số liệu sau hai lần xem xét thẩm định tại chỗ và chênh lệch lớn với yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm mới chỉ tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự về việc tranh chấp phần đất có diện tích 13,5 m2 mà không tiến hành hòa giải về phần đất có diện tích 34,1 m2 hay 56,1 m2, đã đưa vụ án ra xét xử, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 180 BLTTDS.

Quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng bà Nguyệt, ông Hùng là nguyên đơn khởi kiện, phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, bà Nguyệt, ông Hùng chỉ cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T598916 mang tên Phan Thị Nguyệt, thửa đất số 408a, tờ bản đồ số 08, diện tích 275 m2, có trích lục kèm theo (5 m X 55 m). Tuy nhiên, hiện tại, không tìm thấy hồ sơ gốc về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T598916 cho bà Nguyệt tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P nên bà Nguyệt có viết giấy cam đoan về sự việc này đề ngày 21/8/2012 gửi cho Tòa án. Như vậy, nguyên đơn chưa cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nguồn gốc sử dụng đất và hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ý kiến của cơ quan chuyên môn về tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng số T598916 cũng không được Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ nên chưa có đủ cơ sở vững chắc để xác định bị đơn có lấn chiếm đất của nguyên đơn.

Mặt khác, ông Huỳnh Văn Xã đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1991, có vẽ trích lục kèm theo, diện tích đất 1222 m2 (dài 79,35 m x rộng 15,4 m), đến năm 2006 ủy ban nhân dân thành phố P cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Xã, bà Nhung, có vẽ trích lục đất kèm theo với diện tích, tứ cận như đã cấp năm 1991. Như vậy, các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Nhà nước đã cấp cho vợ chồng ông Xã, bà Nhung, vợ chồng bà Nguyệt, ông Hùng đều được vẽ trích lục đất kèm theo và vợ chồng ông Xã, bà Nhung được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước vợ chồng bà Nguyệt, ông Hùng. Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân thành phố P - nơi đã cấp hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên về nguồn gốc sử dụng đất, tính hợp pháp của việc sử dụng đất, giá trị pháp lý của các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp và trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Xã, vợ chồng bà Nguyệt có đúng quy định của pháp luật về đất đai hay không? Khi các cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Xã, bà Nhung và cho vợ chồng bà Nguyệt, ông Hùng có tiến hành đo vẽ, cấp trích lục và giao đất trên thực địa hay không, để xác định ranh giới đất trên thực tế giữa hai bên khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? vấn đề này cũng không được Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ.

Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà nguyên đơn cung cấp đã kết luận việc chuyển nhượng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyệt, ông Hùng là hoàn toàn hợp pháp và đúng quy định của pháp luật về đất đai, đồng thời kết luận ông Xã, bà Nhung lấn chiếm đất của bà Nguyệt, ông Hùng là không đủ căn cứ vững chắc, không khách quan trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 96 BLTTDS.

Ngoài ra, khi tiến hành nghị án, các thành viên Hội đồng xét xử không tiến hành biểu quyết theo đa số về từng vấn đề cần giải quyết trong vụ án mà lại tiến hành biểu quyết một lần về tất cả các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về nghị án được quy định tại khoản 2 Điều 236 BLTTDS.

Xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng như kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G đã nêu ở trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định chấp nhận kháng nghị, huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G thông báo để Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh cùng nghiên cứu, rút kinh nghiệm chung, bảo đảm thực hiện tốt công tác kiểm sát giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất.
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi