Về kiểm sát điều tra, truy tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ Lý Búp phạm tội “Mua bán người”

 

Thông qua công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án Lý Búp P phạm tội “Mua bán người” bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử: Hủy một phần Bản án sơ thấm đế điểu tra xét xử lại đổi với phân tội danh và hình phạt của bị cáo Lê Văn Táng.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, trao đổi và rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát điều tra, truy tố và kiểm sát xét xử sơ thấm đối với vụ án này nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo Chỉ thị công tác của Viện trưởng Viện kiểm nhân dân tối cao.

I/Về nội dung vụ án:

Lý Búp P, Sơn Thị Lan, Nguyễn Văn Phục, Lê Văn Táng và Lê Tấn Phong đã dùng thủ đoạn hứa hẹn, dụ dỗ nhiều phụ nữ, trẻ em sinh sống ở các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng sang Trung Quốc láy chồng sẽ có cuộc sống giàu sang, hoặc sang Trung Quốc đi làm lương cao có tiền phụ giúp gia đình. Từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 02 năm 2016, các bị cáo đã đưa 07 người phụ nữ sang Trung Quốc, trong đó có 04 người dưới 16 tuổi, thu lợi số tiền 400.000.000đ. Ngoài hành vi trên, Lý Búp P và Sơn Thị Lan dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần buộc chị Nguyễn Thị Đào đưa tiền chuộc đế đưa con chị Đào là Nguyễn Ánh Tuyết về nước nhằm chiếm đoạt 30.000.000đ. Hành vi phạm tội của từng bị cáo cụ thể như sau:

- Lý Búp P với cai trò chủ mưu đã dụ dỗ, nhận đưa 06 người phụ nữ, trong đó có 03 người dưới 16 tuổi sang Trung Quốc bán cho người khác làm vợ, được nhận số tiền 200.000.000đ, trừ chi phí còn lại thu lợi 135.000.000 đồng và dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần buộc chị Nguyễn Thị Đào giao tiền để đưa Nguỵễn Thị Ánh Tuyết về Việt Nam nhằm chiếm đoạt số tiền 30.000.000đ.

- Sơn Thị Lan đã dụ dỗ 05 người phụ nữ, trong đó có 03 người dưới có tuổi, giao cho Lý Búp P đưa sang Trung Quốc bán cho người khác thu lợi số tiền 105.000.000đ; dụ dỗ 01 người phụ nữ dưới 16 tuổi giao cho người tên Thuỷ (chưa rõ lai lịch) đưa sang Trung Quốc và giúp sức cho P dùng thủ đoan uy hiếp tinh thần đối với chị Nguyễn Thị Đào nhằm chiếm đoạt sồ tiền 30.000.000đ.

- Nguyễn Văn Phục đã dụ dỗ đưa 04 người phụ nữ, trong đó có 02 người chưa đủ 16 tuổi, giao cho Sơn Thị Lan và Lý Búp P đưa qua Trung Quốc bán cho người khác, thu lợi số tiền 65.000.000đ.

- Lê Tấn Phong đã giới thiệu tạo điều kiện thuận lợi cho Nguyễn Văn Phục dụ dỗ đưa 02 người phụ nữ, trong đó có 01 người chưa đủ 16 tuối, giao cho Sơn Thị Lan và Lý Búp P đưa sang Trung Quốc bán cho người khác, thu lợi số tiền là 10.000.000đ.

- Lê Văn Táng làm giả 05 giấy chứng minh nhân dân và giới thiệu 02 người phụ nữ dưới 16 tuổi cho Nguyễn Văn Phục và Sơn Thị Lan để đưa sang Trung Quốc bán cho người khác, thu lợi số tiền 20.Q00.000đ. Trong số các nạn nhân có 01 người đã thành niên là chị Lê Thị Cẩm Lý (sinh năm 1986). Táng lấy giấy chứng minh của Châu Thị Bảo Trân (người sống chung như vợ chồng với Táng) gắn hình chị Lý vào rồi đưa cho đồng phạm đưa trót lọt chị Lý sang Trung Quốc.

II/ Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

  1.      Về công tác kiểm sát điền tra và truy tố:

Đây là vụ án phạm tội có tổ chức, nhưng quá trình kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên được phân công chưa đánh giá đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, từ đó không xác định được đúng tính chất hành vi phạm tội của Lê Văn Táng chính là một “mắt xích” quan trọng trong đường dây mua bán trẻ em từ Việt Nam sang Trung Quốc. Cụ thể: Lê Văn Táng vừa là người môi giới vừa là người trực tiếp làm giả 5 giấy Chứng minh nhân dân để các nạn nhân đủ điều kiện xuất cảnh theo yêu cầu của đồng bọn dẫn đến bỏ lọt tội “Mua bán người” đối với Lê Văn Táng.

Để đảm bảo việc truy tố không bỏ lọt tội phạm, quá trình kiểm sát điều tra cần nghiên cứu xây dựng chi tiết các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình xác minh xử lý tin báo tội phạm đế “Đề ra yêu cầu điều tra” theo đúng quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, nay tương ứng là Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về “Thu thập Chứng cứ” trên cơ sở đảm bảo đúng “Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự” được quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 tương ứng Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Khi thấy cần thiết thì “trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra” nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố (Khoản 3 Điều 236 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015) để làm rõ hành vi phạm tội của từng bị can cũng như các vấn đề liên quan trong vụ án.

2. Về Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong họat động xét xử của Tòa án:

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án chuẩn bị xét xử cần phải, “nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết vụ án”; cần xác định và đánh giá mọi chứng cứ. Cần phải phân tích vai trò, hành vi cụ thể của từng bị cáo trong vụ án đồng phạm để đảm bảo mọi hành vi phạm tội và người phạm tội được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật

Trong vụ án Lý Búp P cùng đồng phạm, cấp sơ thẩm chưa đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ các chứng cứ dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Cụ thể là bỏ lọt hành vi phạm tội “Mua bán người” của bị cáo Lê Văn Táng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên chưa chủ động phối hợp với Hội đồng xét xử làm rõ những chứng cứ liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Trong trường hợp phát sinh những vấn đề mới hoặc phức tạp mà không bổ sung được, thì Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Trên đây là một số tồn tại về công tác kiểm sát điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm. Qua vụ án Lý Búp P cùng đồng phạm phạm tội “Mua bán người” Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trao đổi để các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành trong khu vực tham khảo và rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyến công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực giải quyết án hình sự.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi