Vụ án kinh doanh thương mại bị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm

 

Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B (Phòng 9) thông báo rút kinh nghiệm chung.

  1.      Nội dung vụ án:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (viết tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đồng Văn Hưng trả toàn bộ số tiền nợ gốc: 4.700.000.000 đồng, nợ lãi: 1.016.880.556 đồng và lãi quá hạn: 446.086.111 đồng. Trường hợp ông Hưng không thanh toán được cho Ngân hàng, Ngân hàng đề nghị Tòa án tuyên phát mại tài sản thế chấp.

- Đại diện Ngân hàng trình bày: Giữa Ngân hàng và ông Hưng có ký 03 hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số 03/2012/HĐ ngày 11/12/2012 với số tiền

3.000.000.000đ, thời hạn vay 11 tháng; Hợp đồng tín dụng số 01/2013/HĐ ngày 17/7/2013 với số tiền 1.500.000.000đ, thời hạn vay 06 tháng; Hợp đồng tín dụng số 02/2013/HĐ ngày 30/12/2013 với số tiền 500.000.000đ, thời hạn vay 06 tháng. Ông Hưng đã trả được 300.000.000đ nợ gốc cho Ngân hàng.

Biện pháp bảo đảm cho các khoản vay:

Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 giữa Ngân hàng với ông Đồng Văn Hưng, bà Nguyễn Thị Thủy, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên thửa đất số 124 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 234943 do UBND thị xã B cấp ngày 30/01/2008 và thửa đất số 125 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 234910 do UBND thị xã B

cấp ngày 11/12/2007. Cả hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Đồng Văn Hưng và bà Nguyễn Thị Thủy.

Hợp đồng thế chấp tài sản số 04/2011/HĐ ngày 18/7/2011 giữa Chi nhánh Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh tỉnh B với ông Đồng Văn Hưng là xe ô tô BKS 29A-280.37.

- Ông Đồng Văn Hưng trình bày: Ông Hưng xác nhận có vay của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo 03 hợp đồng tín dụng, nhưng ông chỉ vay hộ cho ông Nguyễn Văn Dĩnh trú tại tổ 9, phường Phùng Chí Kiên, thành phố B, tỉnh B. Toàn bộ quy trình hồ sơ do cán bộ Ngân hàng tự lập, vợ chồng ông chỉ ký và hợp thức hóa hồ sơ. Ông Hưng đề nghị Ngân hàng cho ông được trả dần các khoản tiền còn nợ, ông không nhất trí phương án phát mại tài sản.

- Anh Đồng Thiện Phúc (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày: Anh không nhất trí phát mại ngôi nhà vì căn nhà làm liền khối giữa 03 thửa đất số 124, 125 và 128 trong đó thửa đất số 128 thuộc quyền sử dụng của anh Phúc, mua của ông Nguyễn Ngọc Báu từ ngày 22/10/2009. Anh xác nhận thửa đất số 124, 125 và ngôi nhà 02 tầng là tài sản của ông Hưng và bà Thủy.

  1.      Quá trình giải quyết của Tòa án

2.1. Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 17/7/2017, quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh B.

Buộc ông Đồng Văn Hưng - sinh năm 1966, trú tại tổ 11A, phường Đức Xuân, thành phố B, tỉnh B phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh tỉnh B tổng số tiền là 6.654.595.827 đồng ...

2. Bác yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh B về việc đề nghị phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thửa đất số 124,125 và xe ô tô BKS 29A-280.37...

Tuyên bố hai hợp đồng gồm: Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 giữa Chi nhánh Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển B với ông Đồng Văn Hưng, bà Nguyễn Thị Thủy và Hợp đồng thế chấp tài sản số 04/2011/HĐTC ngày 18/7/2011 giữa Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh tỉnh B với ông Đồng Văn Hưng là hợp đồng vô hiệu.

Buộc Ngân hàng, trả lại cho ông Đồng văn Hung và bà Nguyễn Thị Thủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và một giấy đăng ký xe ô tô BKS 29A-280.37…

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo của đưong sự theo quy định.

2.2. Ngày 28/7/2017 Ngân hàng Thưomg mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam có đơn kháng cáo, kháng cáo trong thời hạn luật định. Nội dung kháng cáo:

Yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh B với ông Đồng Văn Hung và bà Nguyễn Thị Thủy và hợp đồng thế chấp tài sản số 04/2011/2011/HĐ ngày 18/7/2011 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh B với ông Đồng Văn Hưng là có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp ông Hưng không trả nợ ngân hàng, đề nghị Phát mại tài sản bảo đảm hợp pháp cho các khoản vay của ông Đồng Văn Hưng tại ngân hàng và các tài sản các nhân của ông Đồng Văn Hưng để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo đúng quy định pháp luật.

- Ngày 17/8/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐKNPT-VKS-KDTM đối với Bản án số 01/2017/KDTM-ST ngày 17/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm vụ án, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm theo hướng:

- Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam về phần phát mại tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012.

- Hủy phần tuyên bố 02 hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 và số 04/2011/HĐTC ngày 18/7/2011 là vô hiệu.

2.3. Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 01/2018/DS-PT ngày 14/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh B.

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng; nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B và chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn Ngận hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

  1.      Vấn đề cần rút kinh nghiệm

3.1. Về việc Tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đồng Văn Hưng trả toàn bộ số tiền nợ gốc: 4.700.000.000 đồng, nợ lãi: 1.016.880.556 đồng và lãi quá hạn: 446.086.111 đồng. Trường hợp ông Hưng không thanh toán được cho Ngân hàng, Ngân hàng đề nghị Tòa án tuyên phát mại tài sản bảo đảm đối với Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 và số 04/2011/HĐTC ngày 18/7/2011. Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng không yêu cầu Tòa án tuyên bố hai hợp đồng thế chấp trên là vô hiệu.

Bị đơn ông Đồng Văn Hưng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thủy trong suuốt quá trình giải quyết vụ án đến trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải không có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập đề nghị tuyên bố các hợp đồng thế chấp tài sản trên là vô hiệu.

Như vậy, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án tuyên bố các hợp đồng thế chấp tài sản là vô hiệu, bị đơn ông Hưng không có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lâp yêu cầu tuyên bố hai hợp đồng thế chấp tài sản là vô hiệu. Việc Tòa án sơ thẩm giải quyết và tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 giữa Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh tỉnh B với ông Đồng Văn Hưng, bà Nguyễn Thị Thủy và Hợp đồng thế chấp tài sản số 04/2011/HĐTC ngày 18/7/2011 giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh tỉnh B là hợp đồng vô hiệu là Tòa án giải quyết vượt quá phạm vi đon khởi kiện của đưong sự, vi phạm quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

3.2. Về việc đánh giá chừng cứ:

- Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 giữa ông Đồng Văn Hưng, bà Nguyễn Thị Thủy và Ngân hàng, tài sản thế chấp gồm: quyền sử dụng thửa đất số 124 và 125, cả hai thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đều cấp cho hộ ông Đồng Văn Hưng và bà Nguyễn Thị Thủy. Tài sản trên đất là nhà xây cấp II (2 tầng) xây dựng trên 02 thửa đất 124, 125; tổng diện tích sử dụng 500m2; kết cấu nhà: nhà khung, nhà đang trong quá trình xây dựng tầng 2. Hợp đồng thế chấp được Ngân hàng thẩm định ngày 28/5/2012.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sơ thẩm tiến hanh thẩm định tại chỗ xác định tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất được xây dựng liền khối trên 03 thửa đất số 124, 125 và 128 (Thửa đất 128 nằm giữa thửa đất 124 và 125 mang tên ông Nguyễn Ngọc Báu, ông Báu xác nhận đã chuyển giao thửa đất này cho anh Đồng Thiện Phúc). Từ việc thẩm định này Tòa án sơ thẩm nhận định đối với tài sản thế chấp gắn liền với quyền sử dụng đất, Ngân hàng có sự nhầm lẫn trong việc thẩm định tài sản thế chấp ngày 28/5/2012 (thời điểm thẩm định tài sản thế chấp), do đó xác định hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 là vô hiệu. Về nghĩa vụ bảo đảm, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định không biết Hợp đồng thế chấp số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 bảo đảm cho khoản vay nào.

Ngày 10/10/2017, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành thẩm định, xác định: tài sản thế chấp tại thời điểm thẩm định, định giá ngày 28/5/2012 so với thời điểm hiện nay về các thửa đất không đổi, tài sản trên đất tổng thể khung nhà không thay đổi, thời điểm thế chấp tài sản nhà đang trong quá trình xây dựng đã hình thành khung nhà, đến thời điểm Tòa án thẩm định chỉ phát sinh thêm 01 tum trên cùng và nhà đã được hoàn thiện. Biên bản thẩm định ngày 28/5/2012 thông tin mô tả về đất đúng hiện trạng, về tài sản trên đất đúng theo hiện trạng thực tế, tuy nhiên nhà nằm trên thửa đất 124, 128 và một phần diện tích đất thửa số 125.

Đối với hai tầng nằm trên thửa đất 124, 128 và một phần đất 125. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đồng Thiện Phúc xác định thửa đất số 128 thuộc quyền sử dụng của anh Phúc, trước khi xây dụng ngôi nhà bố mẹ có hỏi ý kiến và anh Phúc đồng ý cho bố mẹ xây dựng ngôi nhà trên thửa đất 128, căn cứ quy định tại Điều 267, 268 BLDS năm 2015 có cơ sở xác định ngôi nhà cấp II 2 tầng là tài sản thuộc sở hữu của ông Hưng và bà Thủy.

Như vậy việc thẩm định tài sản thế chấp ngày 28/5/2012 để kv kết Hợp đồng thế chấp số Q1/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 giữa ỏng Đồng Văn Hưng và bà Nguyễn Thị Thủy với Ngân hàng CPTM Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tài sản thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất không có sự nhầm lẫn như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm.

Về nghĩa vụ bảo đảm: Ngay trong nội dung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 giữa Ngân hàng và ông Đồng Văn Hưng và bà Nguyễn Thị Thủy quy định tại Điều 1 đã xác định tài sản bảo đảm là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với toàn bộ các hợp đồng tín dụng, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm nhận định không biết Hợp đồng thế chấp số 01/2012/HĐTC ngày 28/5/2012 bảo đảm cho khoản vay nào là không chính xác.

- Đối với Hợp đồng thế chấp số 04/2011 ngày 18/7/2011 giữa ông Đồng Văn Hưng và Ngân hàng BIVD. Tài sản thế chấp là xe ô tô BKS 29A-280.37.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Thủy cho rằng ô tô là tài sản chung của vợ chồng, hợp đồng thế chấp tài sản không có chữ ký của bà, hợp đồng không có hiêu lực nên bà không nhất trí phát mại tài sản.

Ông Hưng và bà Thủy trình bày xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng, bà Thủy không nhất trí phát mại xe ô tô vì khi thế chấp tài sản bà không đồng ý và không ký tên trong hợp đồng. Xét thấy xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng nhưng khi ký kết hợp đồng bảo đảm, Ngân hàng không xem xét nguồn gốc tài sản và không có ý kiến của bà Thủy về việc thế chấp ô tô là không đúng quy định. Như vậy, hợp đồng thế chấp số 04/2011 ngày 18/7/2011 giữa ông Hưng và Ngân hàng không đảm bảo các quy định về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên xét thấy cần thiết giữ lại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp để đảm bảo quyền yêu cầu thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ xác định tài sản thế chấp gắn liền với quyền sử dụng đất trên 03 thửa đất có 02 ngôi nhà: Có 01 nhà xây cấp III hai tầng trên thửa đất 124, 128 và một phần nằm trên diện tích thửa đất 125 (l,9m chiều ngang), phần còn lại của thửa đất 125 có 01 nhà xây cấp 4 diện tích 57m2.

Do ngôi nhà cấp 4 xây dựng trên một phần diện tích thửa đất số 125, không phải là tài sản thế chấp trong hợp đồng (kể cả trường hợp tài sản hình thành trong tương lai), các đương sự trình bày ngôi nhà được xây dựng cùng thời điểm xây dựng ngôi nhà 2 tầng. Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành thẩm định mới phát sinh, do vậy chưa được giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm, liên quan đến ngôi nhà này cần phải xác định hiện nay ai là người sở hữu, quản lý ngôi nhà để đưa vào tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Đồng thời căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án, thửa đất số 128 ông Nguyễn Ngọc Báu chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Đồng Thiện Phúc đến nay chưa hoàn thiện về trình tự thủ tục theo quy định pháp luật nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Báu vào tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vi phạm quy định Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.

Các nội dung trên liên quan đến nội dung kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát tỉnh B, tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Xét thấy cần hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Quá trình kiểm sát giải quyết vụ án, Viện kiểm sát cấp sơ thẩm chưa phân tích, đánh giá chính xác các chúng cứ trong hồ sơ vụ án, do vậy sau phiên tòa không kịp thời phát hiện vi phạm để thực hiện quyền kháng nghị theo quy định dẫn đến việc vụ án bị cấp phúc thẩm tuyên xử hủy bản án sơ thẩm.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố nghiên cứu, tham khảo và vận dụng trong công tác kiểm sát việc giải quyết vụ vụ, việc dân sự.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi