Rút kinh nghiệm công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án: “Ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng”

THÔNG BÁO

Rút kinh nghiệm công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án: “Ly hôn, chia tài sản chung v chồng”

 

Thông qua công tác kiểm sát theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án: “Ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng” giữa nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu Thảo, sinh năm 1963. Bị đơn: Ông Huỳnh Phú Đông, sinh năm 1962. Cùng địa chỉ:Tổ 31, khu Cầu Xéo, thị trấn Long Thành, Long Thành, Đồng Nai. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận thấy bản án sơ thẩm có nhiều sai sót, nhận định về đường lối giải quyết vụ án không đảm bảo tính khách quan của chứng cứ thể hiện tại hồ sơ, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Viện kiểm sát cùng cấp thực hiện tốt chức năng kiểm sát phát hiện vi phạm, đã ban hành Quyết định kháng nghị kịp thời được Tòa cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, cần rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiếm sát hoạt động tư pháp.

1. Tóm tắt nội dung vụ án:

-V quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Thu Thảo và ông Huỳnh Phú Đông tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 1982. Quá trình chung sống hạnh phúc có với nhau được 04 người con chung hiện nay các cháu đều trưởng thành, sau đó vợ, chng phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, đã sống ly thân hơn 05 năm nay. Bà Thảo yêu cầu xin ly hôn, ông Đông cũng đồng ý.

-V tài sản chung:

Theo bà Thảo khai quá trình chung sống, vợ chồng ông bà có rất nhiều tài sản chung gồm 72 thửa đất tổng diện tích 113.429, 3 m2 tọa lạc tại xã Long Phước, huyện Long Thành và trong thời kỳ chung sống với ông Huỳnh Phú Đông, bà với ông Đông có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Bùi Thanh Nam và bà Trần Thị Huyền ở Bà Rịa - Vũng Tàu diện tích đất khoảng 06 ha với giá chuyển nhượng là 550.000đ/m2, tổng giá trị chuyển nhượng là 21.940.050.000đ, ông Đông có đưa cho bà 3.200.000.000đ, sổ tiền còn lại ông Đông quản lý và sử dụng. Bà Thảo xác định tất cả các tài sản này là tài sản chung vợ chồng và đề nghị Tòa án chia cho bà một nửa khối tài sản kể cả số tiền bán đất cho ông Bùi Thanh Nam, bà Trần Thị Huyền còn lại sau khi trừ 3.200.000.000đ ông Đông đã đưa cho bà.

Phía ông Đông xác định tất cả các tài sản trên là di sản của cha mẹ ông đ lại nên thuộc tài sản riêng của ông, không phải tài sản chung vợ chồng nên bà Thảo yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là không đúng và ông không đồng ý. Đối với việc bà Thảo đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do quy định của nhà nước chứ ông không làm bất cứ văn bản nào sát nhập các tài sản này vào tài sản chung vợ chồng.

Đối với số tiền bán đất cho ông Bùi Thanh Nam và bà Trần Thị Huyền, lúc đó ông bán giá là 21.940.050.000đ, ông có đưa cho bà 3.200.000.000đ, số tiền còn lại ông quản lý và sử dụng, ông không chia tiền cho bà Thảo mà lúc đó ông cho bà Thảo 3.200.000.000đ. Bà Thảo yêu cầu chia số tiền bán đất này ông không đồng ý vì đây là số tiền bán tài sản riêng của ông.

-V nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

         2. Kết quả giải quyết của Tòa án:

-Bản án sơ thẩm số 129/2017/HNGĐ-ST ngày 25/9/2017 của TAND huyện Long Thành đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thảo: về quan hệ hôn nhân giải quyết cho bà Thảo được ly hôn với ông Đông. Đồng thời, nhận định toàn bộ tài sản đang tranh chấp nêu trên là tài sản chung của vợ, chồng ông Đông, bà Thảo chia đôi khối tài sản. Gồm:

Tổng diện tích đất bà Thảo được chia là 56.143,3m2 có giá trị là 32.610.791.000đ

Tổng diện tích đất ông Đông được chia là 57.286m2 có giá trị là 34.114.560.000 đ. Đồng thời, buộc ông Đông phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Thảo số tiền 7.770.025.000đ là một nửa số tiền đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Bùi Thanh Nam và bà Trần Thị Huyền.

*Vụ án được Viện trưởng VKSND huyện Long Thành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Ngày 05/02/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xét xử phúc thẩm: Hủy một phần bản án sơ thẩm về giải quyết tranh chấp chia tài sản chung giữa bà Thảo và ông Đông. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành do Tòa cấp sơ thẩm bỏ sót tư cách tham gia tố tụng của đương sự.

3. Vấn đề rút kinh nghiệm:

-V tư cách đương sự

Ông Đỏng khai và bà Thảo thừa nhận, quyền sử dụng đất bà Thảo yêu cầu chia có nguồn gốc là di sản của cha, mẹ ông Đông để lại. Theo di chúc do cha và mẹ ông Đông lập, cùng với việc hưởng di sản là nhà ở và quyền sử dụng đất, ông Đông phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc chị gái là bà Thu cho đến hết đời và ông Đông có nghĩa vụ chăm lo mồ mã, cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Như vậy, việc giải quyết tranh chấp tài sản này có liên quan đến quyền lợi của bà Thu, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Thu vào tham gia tố tụng là bỏ sót tư cách đương sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích họp pháp của bà Thu;

-Về quyền sử dụng đất tranh chấp:

Sau khi thừa kế quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp, ông Đông kê khai và năm 2002 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD do một mình ông Đông đứng tên. Năm 2006, thực hiện chủ trương chung của Nhà nước, ông Đông làm thủ tục xin cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất mới. Năm 2007, Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD mới cho ông Đông, bà Thảo đứng tên.

Ông Đông cho rằng, việc ông đồng ý ghi tên bà Thảo vào giấy chứng nhận QSD đất mới là do cán bộ làm thủ tục yêu cầu, bản thân ông không có ý định đưa QSD đất này thành tài sản chung của ông và bà Thảo. Hồ sơ xin cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất có 01 đơn xin bổ sung tên bà Thảo nhưng không đề ngày, tháng, không ghi rõ các thửa đất xin cấp đổi nhưng Tòa cấp sơ thẩm chưa làm rõ có đúng là khi xin cấp đổi, ông Đông tự nguyện đề nghị ghi tên bà Thảo vào giấy chứng nhận QSD đất và đưa QSD đất vào làm tài sản chung của vợ, chồng hay không? Trường hợp ông Đông tự nguyện đưa QSD đất vào làm tài sản chung của ông với bà Thảo thì có ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thu hay không?

Ngoài việc xem xét quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thu, về nguồn gốc tài sản và nghĩa vụ do thừa hưởng tài sản mà ông Đông phải thực hiện với gia đình và chị gái của mình, lẽ ra Tòa cấp sơ thẩm cần cân nhắc phân chia tài sản cho ông Đông được hưởng phần nhiều hơn (trong trường hợp ông Đông tự nguyện nhập vào tài sản chung) mới hợp tình, lý nhưng Tòa cấp sơ thẩm xác định QSD đất tranh chấp nêu trên là tài sản chung để giải quyết chia đôi tài sản là chưa khách quan, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đông.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kháng nghị phúc thấm các vụ, việc dân sự, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ra thông báo để các đồng chí nghiên cứu, cùng học tập rút kinh nghiệm chung./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi