Thông báo rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất”

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM

Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, đã phát hiện các vi phạm về nội dung và thủ tục tố tụng của cấp sơ thẩm. Viện KSND tỉnh Đồng Tháp (Phòng 9) nhận thấy cần thông báo đến Viện KSND huyện, thị, thành phố nghiên cứu rút kinh nghiệm, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát xét xử án dân sự. Vụ “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất” giữa:                                 

-   Nguyên đơn: Võ Thị Bé, sinh năm 1934;

Địa chỉ: số 53, đường Nguyễn Đình Chiểu, Khóm 2, Phường 2, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền: ông Vũ Tuấn Anh, sinh năm 1970. Địa chỉ: số 103, đường Chi Lăng, Phường 3, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

-   Bị đơn: Trần Hữu Phong, sinh năm 1959;

Địa chỉ: số 27, Tổ 01, ấp Đông Bình, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền: bà Võ Thị Nhung, sinh năm 1957. Địa chỉ: số 159, đường Thiên Hộ Dương, Khóm 2, Phường 4, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

  •  Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/Trần Thị Thu Hồng, sinh năm 1980;

2/ Lê Thị Hiền, sinh năm 1959;

3/ Trần Hữu Vinh, sinh năm 1984;

Cùng địa chỉ: số 27, Tổ 01, ấp Đông Bình, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

4/ Trương Lộc, sinh năm 1968;

5/ Trương Tuyết Hồng, sinh năm 1974;

Cùng địa chỉ: Tổ 01, ấp Đông Bình, xã Hòa An, thành phố Cao lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

6. y ban nhân dân thành phố Cao Lãnh;

Nội dung vụ án:

* Nguyên đơn bà Võ Thị Bé trình bày: bà Bé sử dụng thửa đất số 69, tờ bản đồ số 13, diện tích 2.141,6 m2, đất tọa lạc tại ấp Đông Bình, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) do UBND thành phố Cao Lãnh cấp ngày 22/8/2003 cho hộ Võ Thị . Kế bên là thừa đất số 70, 5 và 109 do ông Trần Hữu Phong làm chủ sử dụng.

Vào tháng 11/2013, ông Phong tiến hành xây dựng nhà. Trong quá trình xây dựng, ông Phong đã xây lấn qua phần đất của bà Bé khoảng 12 m2. Bà Bé yêu cu ông Phong tạm dừng việc xây dựng và có đơn trình báo sự việc với trưởng ấp Đông Bình và UBND xã Hòa An. Ngày 08/11/2013, UBND xã Hòa An đã có văn bản số 810/CV-UBND đề nghị ông Phong tạm ngưng việc xây dựng để chờ sự giải quyết việc tranh chấp ranh đất của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Ngày 19/3/2014, UBND xã Hòa An tiến hành hòa giải việc tranh chấp ranh đất giữa bà Bé và ông Phong nhưng không thành. Ông Phong vẫn tiếp tục xây dựng trên phần đất đang tranh chấp.

Nay bà Bé yêu cầu hộ ông Phong gồm: bà Hiền, ông Phong, anh Vinh, chị Hồng có trách nhiệm trả lại diện tích đất 211,2 m2, thuộc thửa số 69, tờ bản đồ s 13 và di dời tài sản, vật kiến trúc trên phần đất mà ông Phong đã lấn chiếm. Yêu cầu hủy một phn GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Trần Hữu Phong tại thửa số 70, 5 và 109 cùng tờ bản đồ số 13.

Địa chỉ: số 03, đường 30/4, Phường 1, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.

* Bị đơn ông Trần Hữu Phong trình bày: Nguồn gốc đất là của ông Trần Văn Tư (chết 18/7/2014) có tổng diện tích 1.973,1 m2 do UBND thị xã Cao Lãnh cấp năm 1996. Năm 2000 ông Tư cho lại ông Phong là con ông Tư với tổng diện tích 2.950 m2. Đến năm 2006 thì ông Phong đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp gồm 03 tha: thửa số 70, với diện tích 240 m2; thửa số 109, với diện tích 725 m2; thửa số 5, với diện tích 1.008,1 m2; diện tích cấp lại bị giảm nhưng ông Phong không có khiếu nại.

Ông Phong không đồng ý theo yêu cầu của bà Bé. Căn cứ để xác định ranh giữa hộ ông Phong và hộ bà Bé thể hiện qua các cây trồng trên đất trong đó có một số cây đã chết, hiện nay chỉ còn lại cây dừa, xoài do ông Tư trồng và hiện nay bên ông Phong hưởng lợi từ cây dừa này.

Ông Phong yêu cầu xác định lại ranh đất theo sơ đồ đo đạc ngày 18/6/2014 và 21/4/2015 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Cao Lãnh và yêu cầu hủy một phần GCNQSDĐ cấp cho hộ bà Bé tại thừa số 69, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại ấp Dông Bình, xã Hòa An, thành phố cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 50/20ỉ 7/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Toà án nhản dân thành phố Cao Lãnh tuyên xử: Chấp nhận yêu cu của bà Võ Thị bé. Buộc hộ ông Trần Hữu Phong trả cho bà Bé diện tích 211,2 m2 thuộc thửa đất s 69, tờ bản đồ số 13 đất tọa lạc tại ấp Đông Bình, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và buộc hộ ông Phong tháo dỡ di dời tài sản trên đất... (kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 18/6/2014 và 21/4/2015 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Cao Lãnh). Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, thời hạn, quyền kháng cáo của các đưong sự theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Trần Hữu Phong, chị Trần Thị Thu Hồng, bà Lê Thị Hiền, anh Trần Hữu Vinh kháng cáo toàn bản án sơ thẩm.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án có sai sót sau đây:

-      Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào công văn số 752/UBND-TN ngày 16/5/2017 của UBND thành phố Cao Lãnh xác định “Diện tích đất đang tranh chấp thuộc một phần thửa 69 tờ bản đồ s 13 theo sơ đ đo đạc ngày 18/6/2014 và 21/4/2015 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành ph Cao Lãnh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị Bẻ” để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Bé là chưa đủ cơ sở, bởi:

+ Chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ: bà Bé và hộ ông Phong phát sinh tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất. Về nguồn gốc đất của hai bên là rõ ràng, không có tranh chấp. Trong khi đó, đất cũng được cấp GCNQSDĐ từ lâu, đất hộ ông Phong đã được cấp cho ông Trần Văn Tư (là cha ông Phong) từ năm 1996, bà Bé được cấp GCNQSDĐ năm 2003. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét quá trình cấp GCNQSDĐ của hai bên. Thực tế, so với GCNQSDĐ ban đầu thì diện tích đo đạc thực tế đều thiếu so với diện tích được cấp. Về thực trạng sử dụng đất, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập tài liệu chứng cứ để làm rõ quá trình và thực trạng sử dụng đất. Theo lời trình bày của các bên đương sự thì trên diện tích đang tranh chấp hiện nay còn có các cây trồng, hiện trạng mương, nền nhà cũ của hộ ông Phong nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không lập biên bản xác minh hiện trạng sử dụng để làm căn cứ giải quyết án.

+ Chưa giải quyết triệt để vụ án dẫn đến không thể thi hành án: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc hộ ông Phong trả cho bà Bé diện tích 211,2 m2, trong đó có một phần căn nhà cấp 4 hiện nay hộ ông Phong đang ở, diện tích 13,1 m2, chiều ngang phía trước 0,44 m; chiều ngang phía sau 1,26 m. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giá trị căn nhà để bồi thường, di dời hoặc trả giá trị đất nếu có đủ cơ sở xác định đất của bà Bé là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của hộ ông Phong. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thẩm định đầy đủ và chính xác diện tích đất của bà Bé để làm căn cứ giải quyết án.

                 - Từ những phân tích trên trên, do cấp sơ thẩm chưa xem xét toàn diện vụ án, chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để có đủ căn cứ giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật nội dung và tố tụng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, ngày 11/01/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp ban hành Bản án dân sự phúc thẩm số: 11/2018/DS-PT tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Vậy Viện KSND tỉnh Đồng Tháp (Phòng 9) thông báo để các Viện KSND huyện, thị, thành phố nghiên cứu rút kinh nghiệm, phát hiện kịp thời những vi phạm, thiếu sót của Tòa án cùng cấp đế có những kiến nghị, kháng nghị nhằm khăc phục vi phạm và thiếu sót như đã nêu trên./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi