Thông báo rút kinh nghiệmqua vụ án: “Kiện đòi tài sản” bị cấp phúc thẩm xử hủy án

THÔNG BÁO

Rút kinh nghiệm qua vụ án: “Kiện đòi tài sản”

bị cấp phúc thẩm xử hủy án

Ngày 21/3/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lk mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án: “Kiện đòi tài sản ”, giữa:

-   Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy.

Địa chỉ: 36 D3, Khu dân cư Phú Hòa 1, thị xã Thủ Dầu 1, tỉnh Bình Dương.

-   Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Hưng.

Địa chỉ: 194/29 Nguyễn Lương Bằng, xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

-   Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

  1.     Ông Lê Đức Trung. Địa chỉ: 84/28 Mai Hắc Đế, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
  2.   Ông Nguyễn Đình Phúc; Địa chỉ: 84/28 Mai Hắc Đế, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

l. Nội dung vụ án:

Ông Hưng và bà Thúy có quan hệ tình cảm và sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1999, không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Đến năm 2004 ông bà phát sinh mâu thuẫn, ông Hưng làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận ông bà là vợ chồng, xin chia tài sản chung và con chung. Vụ án đã được Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết tại Bản án sơ thẩm số 01/LHST ngày 14/12/2004. Ngày 24/12/2004 ông Hưng kháng cáo về phân chia tài sản chung và con chung.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình số 13/2005/LHPT ngày 08/6/2005 của TAND tỉnh Đắk Lắk đã tuyên xử: Bà Trần Thị Thúy được quyền sở hữu: Căn nhà xây cấp 4 có phòng ngủ phía trưc rộng 4,2m, dài 0,9m + 3,7m = 4,6m cả tủ tường, phòng ngủ phía sau dài 4,9m, chiều rộng 3,3m và nhà vệ sinh thứ 2 rộng l,9m, dài 2,6m, có diện tích 40,43m2 = 29.314.903đ. Nằm trên 220,77m2 lô đất tại Liên gia 8, t dân phố 12, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, trong đó đất th cư: 60m2 = 36.000.000đ đất nông nghiệp 160,177m2 = l.543.392đ (nếu kèm tứ cận thửa đất).

Tổng giá trị tài sản bà Thúy được hưởng là 66.858.294đ. Bà Thúy phải thanh toán tài sản cho ông Hưng 15.000.000đ.

Ngoài ra còn tuyên xử về phần tài sản chia cho ông Hưng.

Nhà và đất chia cho bà Thúy nói trên là mội phn tài sản nầm trong khối tài sản gm nhà và đt tại địa chỉ: số 84/28 Mai Hắc Đế, phường Tân Thành, thành ph Buôn Ma Thuột của bà Thúy và ông Hưng.

Sau khi ly hôn, bà Thúy vẫn sống tại căn nhà trên, ông Hưng đi làm ăn xa sau đó lấy vợ và chuyn đến sinh sống tại 194/29 Nguyễn Lương Bằng, Thôn 2, xã Hòa Thng, thành ph Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Một thời gian, bà Thúy cũng; chuyn đến sinh sống tại 36 D3, Khu dân cư Phú Hòa 1, thị xã Th Dầu, tỉnh Bình Dương. Sau đó, bà Thúy phát hiện căn nhà đã có người thuê sử dụng nên đã nhiu ln yêu cu ông Hưng trả lại tài sản trên cho bà Thúy để tiến hành làm thủ tục tách thửa cp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gn lin trên đt đi với phn tài sản và đt của bà Thúy được chia nhưng ông Hưng không hợp tác, đã xâm phạm đến quyn và lợi ích hợp pháp của bà Thúy. Tuy nhiên, từ khi Bản án số 13/2005/LHPT ngày 08/6/2005 của TAND tỉnh Đắk Lk có hiệu lực pháp luật đến nay bà Thúy ông Hưng không ai làm đơn yêu cầu thi hành án đối với bản án trên nên thời hiệu thi hành án đã hết.

Ngày 18/8/2016, bà Thúy làm đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông Hưng phải trả cho bà Thúy phần nhà đất mà hiện tại ông Hưng đang chiếm hữu; đồng thời buộc ông Hưng phải giao nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn lin trên đất của nhà đất tại địa chỉ số 84/28 Mai Hc Đỗ, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột để bà Thúy thực hiện các quyền của chủ sở hữu hợp pháp đối với phần nhà đất của bà theo pháp luật.

  1.    Qua trình giải quyết vụ án:

Tại Bán án dân sự thm số 61/2017/DSST ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Áp dụng khoản 2 Điu 26; Điu 35, 39 Bộ luật lố tụng dân s; Điu 256 Bộ luật dân sự năm 2005; Áp dụng Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Tuvên xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thúy.

Buộc ông Nguyên Minh Hưng phải trả lại cho bà Trân Thị Thúy 01 căn nhà ở phía Tây có diện tích là (4,8m X 9,7m) = 46,56m2.'Trong đó có phòng ngủ phía trước rộng 4,2m, 4,6m cả tủ tường. Phòng ngủ phía sau dài 4,8m, chiêu rộng

3,3m; 01 nhà tắm + vệ sinh + nhà bếp có diện tích 8,16m2) nằm trên diện tích thửa đất 213.15m2. Trong đó đất thổ cư 60m2, đất nông nghiệp 153,15m (nêu kèm tứ cận thửa đất.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tô tụng và án phí, về quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xét xử thm, ngày 14/10/2017 ông Hưng làm đơn kháng cáo quá thời hạn với nội dung: ông không chiếm đoạt nhà và đất của bà Thúy vì bô ông là Nguyễn Minh Hoàng thấy nhà đất không ai sử dụng nên đã cho thuê nhưng chỉ cho thuê phn nhà đất của ông Hưng; ông không nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Bản án sơ thẩm nên không biết Tòa án đã xét xử, chỉ khi Cơ quan thi hành án dân sự đến làm việc thì ông mới biết nên kháng cáo quá hạn. Ông Hưng đề nghị Tòa phúc thẩm xử hủy án sơ thẩm.

Tại Quyết định số 47/2017/QĐ-KCQH ngày 17/11/2017 của TAND tỉnh Đăk Lk đã chp nhận đơn kháng cáo quá hạn của ông Hưng.

Ngày 21/3/2018 TAND tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án.

Tại Bản án dân sự phúc thm số 53/2018/DS-PT ngày 21/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Minh Hưng.

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2017/DS-ST ngày 31/7/2017 của TAND thành phố Buôn Ma Thuột và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp

luật.

  1.    Những vấn đề cần rút kinh nghiệm trong vụ án này là:

-     Về việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án chưa hợp lệ: Ngày 04/8/2017 TAND thành phố Buôn Ma Thuột có niêm yết Bản án DSST số 61/2017/DS-ST ngày 31/7/2017 tại UBND xã Hòa Thắng và tại nhà ông Nguyễn Minh Hưng ở địa chỉ số 194/29 Nguyễn Lương Bằng, thôn 3, xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, có sự chứng kiến của Thôn trưởng Thôn 3. Tuy nhiên tại Biên bản xác minh ngày 15/11/2017 của TAND tỉnh Đắk Lắk xác định nhà ông Hưng ở Thôn 2 xã Hòa Thắng không phải thuộc Thôn 3. Do vậy, việc niêm yết bản án sơ thẩm nêu trên là không đúng quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: niêm yết không có sự chứng kiến của chính quyền địa phương, cụ thể là Ban tự quản Thôn 2 xã Hòa Thắng. Mặt khác, Tòa sơ thẩm không thực hiện việc lập biên bản trong trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt là không đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, dẫn đến việc ông Hưng không nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án.

-    Về thụ lý đơn phản tố: Ngày 29/3/2017 ông Hưng làm đơn phản tố, ngày 05/4/2017 Tòa sơ thẩm ra thông báo yêu cầu sửa đi, bổ sung đơn yêu cầu phản tố và trong hồ sơ vụ thể hiện người nhận giấy báo phát của Bưu điện Việt Nam gửi cho ông Hưng vào ngày 07/4/2017 không thể hiện nội dung gửi mà chỉ thể hiện tên người nhận là bà Quách Thùy Nhan (vợ thứ hai của ông Hưng) nhưng Tòa sơ thẩm không xác minh mà trả lại đơn phản tố của ông Hưng là thiếu sót.

-     Về người tham gia tố tụng: Nhà đất của ông Hưng bà Thúy đã được giải quyết phân chia tại Bản án số 13/2005/LHPT ngày 08/6/2005 của TAND tỉnh Đắk Lắk; sau đó bà Thúy và ông Hưng không ai sử dụng nên ông Nguyễn Minh Hoàng (bố của ông Hưng) đã cho ông Trung thuê (phía trước) và ông Phúc mượn để ở (phía sau) nhưng khi giải quyết vụ án Tòa sơ thẩm không đưa ông Hoàng vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan là vi phạm khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

-     Nhng thiếu sót trên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.

Đây là vụ án khởi kiện sau khi hết thời hiệu thi hành án của 01 bản án trước có liên quan, chính vì vậy đương sự đã thay đi địa chỉ, người quản lý tài sản có sự thay đi (Tòa án thụ lý ngày 04/10/2016, hơn 11 năm sau khi Bản án số 13/2005/LHPT ngày 08/6/2005 của TAND tỉnh Đắk Lắk có hiệu lực pháp luật). Kiếm sát viên được phân công kiểm sát giải quyết vụ án ở cấp sơ thm đã không chú ý nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án và quy định của pháp luật nên không phát hiện được vi phạm đ kịp thời đề xuất lãnh đạo Viện thực hiện quyền hạn của Viện kiểm sát.

Vậy, Phòng 9 VKSND tỉnh Đắk Lắk thông báo để các VKSND huyện, thị xã, thành phố rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát, nhm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi