Thông báo rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất"

THÔNG BÁO

Rút kinh nghiệm về kiểm sát giải quyết vụ án Dân sự bị cấp phúc thẩm sửa án.

Thông qua công tác kiểm sát giải quyết theo thủ tục phúc thẩm vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn ông Lê Văn Định và bà Trần Thị Tam với bị đơn ông Trần Đức Mạnh, địa chỉ: Thôn Long Sơn, xã Đức Long, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thấy quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ, dẫn đến nội dung giải quyết vụ án không chính xác, bị cấp phúc thẩm sửa án, cụ thể:

1. Nội dung vụ án và quyết định của bản ánthẩm:

Thửa đất số 1038, bản đồ năm 2011, diện tích 910,2m2 của hộ gia đình ông Lê Văn Định, bà Trần Thị Tam được UBND huyện Đức Thọ cấp giấy CNQSD đất ngày 25/11/2014. Nguồn gốc thửa đất, bao gồm diện tích đất của gia đình ông, bà được giao sử dụng và mua lại của ông Trần Điềm bà Đinh Thị Phan. Trên thửa đất đó có 01 giếng nước. Năm 2016, gia đình ông Trần Đức Mạnh đã tự ý xây bao khu giếng và lấy đất vườn của gia đình ông. Nay, ông Lê Văn Định khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình ông Trần Đức Mạnh phải trả lại giếng, đất giếng, đất vườn với diện tích là 28,7m2 cho gia đình ông.

Bị đơn ông Trần Đức Mạnh, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Thiu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng: Thửa đất ông, bà đang sử dụng có nguồn gốc của ông, cha để lại, được ƯBND huyện Đức Thọ cấp giấy CNQSD ngày 15/5/2001 có diện tích 675m2, cấp đổi ngày 30/5/2014 có diện tích 609,2m2. Trong đó có diện tích một giếng nước do ông Trần Xuân sắc (cha ông Mạnh) mua lại của ông Trần Điềm, bà Đinh Thị Phan, gia đình ông đã sử dụng từ năm 1960 lại nay nên không có việc ông lấn chiếm giếng, đất giếng, đất vườn như nguyên đơn trình bày.

Bản án sơ thẩm số 03/2017/DS-ST ngày 20/9/2017 của Toà án nhân dân huyện Đức Thọ, quyết định: Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015; khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 Điều 265, 266 Bộ luật dân sự 2005, xử :

Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lê Văn Định, xử, buộc gia đình ông Trần Đức Mạnh bà Phan Thị Thiu phải tháo dỡ toàn bộ vật, kiến trúc xây dựng trái phép trên diện tích đất của gia định ông Lê Văn Định, trả lại giếng nước, diện tích đất giếng nước và đất vườn của gia đình ông Lê Văn Định , ba Trần Thị Tam. Các môc ranh giới giữa thửa đât của gia đình ông Lê Văn Định với thửa đất của gia đình ông Trân Văn Mạnh là các đim [1], [2] được xác định như trong “Bản mô tả ví trí hai điếm giáp ranh giữa hộ gia đình ông Lê Văn Định và ông Trn Đức Mạnh theo bản đồ đo đạc năm 2011” do phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đức Thọ đo đạc xác định ngày 19/5/2017.

Vụ án đã được Viện KSND tỉnh kháng nghị; bị đơn ông Trần Đức Mạnh kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Ngày 6/2/2017, Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện KSND tỉnh đê nghị và Hội đông xét xử châp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Đức Mạnh sửa bản án sơ thẩm số 03/2017/DSST ngày 20/9/2017 của TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

2. Nhng vấn đề cần rút kinh nghiệm trong việc đánh giá chứng cứ:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã 03 lần tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất đang tranh chấp và kết quả các lần thẩm định đều có số liệu khác nhau, cụ thể: Biên bản thẩm định ngày 19/5/2017 xác định diện tích đất giếng đang tranh chấp là 15,1m2. Ngày 28/7/2017, xác định hiện trạng sử dụng đất thực tế của hộ gia đình ông Lê Văn Định là 912,5m2 và của hộ ông Trần Đức Mạnh là 609,2m2. Biên bản thẩm định ngày 06/9/2017 xác định: diện tích đất giếng tranh chấp là 17m2 và diện tích đất vườn tranh chấp là 36m2. Mặc dù có số liệu chênh lệch như trên nhưng Tòa án sơ thẩm chưa làm rõ vì sao có kết quả khác nhau, kết quả nào là chính xác để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Mặt khác, bản án sơ thẩm lại nhận định: “Theo biên bản thẩm định tại chỗ tài sản ngày 28/7/2017, xác định: Diện tích đất thực tế hộ gia đình ông Lê Văn Định, đang sử dụng là 912,5m2 và dỉện tích đất thực tế của hộ gia đình ông Trần Đức Mạnh là 609,2 m2. Như vậy, quá trình sử dụng đất thực tế của gia đình ông Mạnh vẫn giữ nguyên…”. Căn cứ vào biên bản thẩm định và nhận định trên thì diện tích đất thực tế hộ gia đình ông Lê Văn Định và ông Trần Đức Mạnh không thiếu và phù hợp với diện tích đất đã được nhà nước công nhận. Nên chưa có cơ sở xác định bị đơn lấn chiếm đất của nguyên đơn. Nhưng bản án sơ thẩm lại căn cứ kết quả thẩm định ngày 19/5/2017 (biên bản này chỉ mới xác định diện tích đất giếng nước) để buộc gia đình ông Trần Đức Mạnh, bà Phan Thị Thiu phải tháo dỡ toàn bộ vật, kiến trúc xây dựng trái phép trên diện tích đất của gia đình ông Lê Văn Định, trả lại giếng nước, diện tích đất giếng nước vả đất vườn của gia đình ông Lê Văn Định, bà Trần Thị Tam là không có căn cứ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên xử, buộc hộ gia đình bị đơn ông Trần Đức Mạnh phải trả tháo dỡ toàn bộ vật, kiến trúc xây dựng trái phép trên diện tích đất của hộ ông Lê Văn Định, nhưng không tuyên cụ thể diện tích, gây khó khăn cho công tác thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Từ vụ án trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (Phòng 9) thông báo đến Viện kiểm sát các huyện, thị xã, thành phố biết, rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự tương tự xảy ra trên địa bàn./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi