Thông báo rút kinh nghiệm vụ án "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM

Trong công tác kiếm sát việc giải quyết các vụ án dân sự

Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình theo thủ tục phúc thẩm, Phòng 9 - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng thông báo rút kinh nghiệm về những sai sót, vi phạm trong quá trình giải quyết án của Tòa án cấp sơ thẩm, như sau:

  1.    Vụ án “Tranh chấp hợp đng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Lê Thị Ti vói bị đơn bà Nguyễn Thị Xứng.

*  Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án:

*  Nguyên đơn bà Lê Thị Tới trình bày:

Bà Tới có tham gia một dây hụi do bà Huỳnh Thị Huyền Trân làm chủ hụi. Khi bà hốt dây hụi này của bà Trân được 30.000.000 đồng thì bà Xứng có hỏi mượn số tiền hụi này của bà và bà đồng ý. Dây hụi này còn 15 lần nữa mới mãn. Lúc giao số tiền hụi này cho bà Xứng mượn thì bà, bà Xứng và bà Trân cùng có mặt ở quán bà Ngọc. Bà Trân trực tiếp đưa số tiền hụi 30.000.000 đồng này cho bà Xứng, không có làm biên nhận nhận tiền. Tại quán này có bà Lê Thanh Thúy (ở gần cầu Chùa Mới) chứng kiến. Khi nhận số tiền hụi này về bà Xứng có đến trả cho bà Trịnh Thị Hồng Châu (gần nhà bà Xứng) 10.000.000 đồng và có nói với bà Châu mượn tiền hụi của bà Tới để trả cho bà Châu. Sau khi cho bà Xứng mượn tiền hụi, bà Tới còn đóng thêm 15 lần hụi chết, mỗi lần đóng hụi chết thì hụi viên kêu giá bao nhiêu thì bà Xứng đóng, số còn lại bà đóng. Bà Tới trực tiếp gom tiền hụi của bà Xứng chứ bà Xứng không có đóng trực tiếp cho bà Trân. Bà Xứng đóng hụi đầy đủ cho đến lần khui cuối thì toàn bộ bà Tới đóng. Bà Xứng hứa đến khi mãn hụi ngày 15/7/2016 âl, sẽ trả tiền lại tiền hụi, nhưng đến nay bà Xứng không trả. Nay bà Tới yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị Xứng trả cho bà số tiền hụi là 30.000.000 đồng nêu trên. Bà chỉ cho bà Xứng mượn số tiền hụi 30.000.000 đồng này, ngoài ra không có cho bà Xứng vay khoản tiền nào khác.

*  Bị đơn bà Nguyên Thị Xứng trình bày:

Từ trước tới nay bà không có mượn tiền hốt hụi của bà Tới. Bà Huỳnh Thị Huyền Trân cũng không có giao số tiền hụi nào của bà Tới cho bà. Bà Xứng chỉ có vay của bà Tới 5.000.000 đồng vào ngày 02- 03/01/2015 âl, tại quán bà Ngọc, không có làm giấy tờ, có nhiều người hiểu biết nhưng nay họ đã bỏ địa phương đi. Bà có đóng lời hàng ngày cho bà Tới là 50.000 đồng, đóng được 20 tháng thì bà không đóng nữa do không có khả năng. Do đó, hiện bà chỉ còn nợ bà Tới là 5.000.000 đồng tiền vốn vay và lãi vay cho đến nay. Nay bà Tới khai không có cho bà vay tiền thì bà không đồng ý trả số tiền vay này cho bà Tới như bà đã thừa nhận.Trước đây bà có mượn của bà Tới 1.000.000 đông và bà đã trả xong. Ngoài ra bà không có giao dịch với bà Tới khoản tiền nào khác. Còn việc bà Tới khai bà có mượn tiền hốt hụi của bà Tới 30.000.000 đông là không đúng, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Tới.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số số 69/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 đã quyết định, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tới về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Xứng trả số tiền hụi là 30.000.000 đồng. Buộc bà Nguyễn Thị Xứng có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Tới tiền hụi 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04 tháng 10 năm 2017, bị đơn bà Nguyễn Thị Xứng kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng triệu tập đầy đủ người làm chứng, cho phép đối chất trước Tòa để làm sáng tỏ vấn đề và yêu cầu bác đơn khởi kiện của bà Lê Thị Tới.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số số 09/2018/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2018 đã quyết định, tuyên xử:

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Xứng, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 69/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách như sau:

Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Tới về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Xứng trả số tiền vay. Buộc bà Nguyễn Thị Xứng trả cho bà Lê Thị Tới tổng số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

*  Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bà Tới không có chứng cứ nào chứng minh cho việc bà cho bà Xứng mượn số tiền 30.000.000 đồng, cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của các nhân chứng là bà Trân, bà Thúy nhưng những lời khai của những người này cũng không xác định được bà Tới hốt hụi vào lần thứ mấy, nhận được tổng số tiền hụi là bao nhiêu, nhưng trên thực tế chính bà Tới và các nhân chứng đều thừa nhận dây hụi này chỉ có 29 phần hụi, nếu hốt vào lần cuối cùng kể cả phần hụi của người cuối cùng phải đóng vào mới được 29.000.000 đồng, nhưng phải trừ tiền huê hồng cho chủ hụi 400.000 đồng nên cũng không được nhận đủ 29.000.000 đồng; tại phiên tòa bà Tới thừa nhận ngoài số tiền hụi bà Trân giao, bà không đưa thêm số tiền nào cho bà Xứng nữa.

Như vậy cấp sơ thẩm chỉ căn c vào li khai của các nhân chứng (không có chứng cứ khác và bị đơn không thừa nhận) mà buộc bị đơn là bà Xứng phải trả cho bà Tới số tiền hụi 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) là chưa đủ cơ sở.

  1.                   Vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Huynh (cùng 05 anh chị em) với bị đơn bà Nguyễn Thị Xê; cùng 14 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

*  Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án:

*  Các nguyên đơn khởi kiện có người đại diện hợp pháp trình bày:

Cha mẹ của các nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Quyền (chết năm 2010) và mẹ là bà Võ Thị Hoa (chết năm 2013). Lúc sinh thời cha mẹ các nguyên đơn có phần đất trồng lúa diện tích 11.661 m2 thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng được Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 19/10/1992 do ông Nguyễn Văn Quyền đứng tên.

Vào khoảng tháng 6/1993 cha, mẹ các nguyên đơn cầm cố toàn bộ thửa đất số 255 cho ông Nguyễn Văn Quan và bà Nguyễn Thị Xê giá 03 chỉ vàng 24 ka, hợp đồng cầm cố chỉ thỏa thuận bằng miệng không có làm giấy tờ, khi nào cần sử dụng đất thì trả đủ 03 chỉ vàng cho ông Quan, bà Xê. Hiện ông Quan đã chết, phần đất thửa 255 do bà Xê và con là Nguyễn Văn Quân đang quản lý sử dụng. Khi các nguyên đơn có yêu cầu chuộc lại đất thì bà Xê và ông Quân chỉ đồng ý cho chuộc với giá 70.000.000 đồng trên một công (1.300m2). Không chấp nhận với yêu cầu của bà Xê và ông Quân, các nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố hợp đồng cầm cố vô hiệu, nhưng không được Tòa án hai cấp tỉnh Sóc Trăng chấp nhận, với lý do là đất đã chuyển nhượng chứ không phải là cầm cố. Hiện hai bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Nay các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/7/1993 đối với thửa 255 là vô hiệu theo quy định tại tiểu tiết A tiết 2.2 khoản 2 mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời, đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn Nguyễn Thị Xê và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Đàng, Nguyễn Văn Kết, Nguyễn Thị Hồng Hoa, Nguyễn Thị Hồng Thắm, Nguyễn Thị Hồng Cẩm, Lê Thị Cẩm Hường, Nguyễn Văn Quân, Dương Tấn Pháp (Phát), Trương Quốc Khánh và Trương Quốc Hòa trả lại cho các nguyên đơn phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích là 11.661 m2 (đo đạc thực tế 10.804m2) thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 01, tọa lạc Ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

*  Bị đơn bà Nguyễn Thị Xê có đơn phản tố trình bày:

Ngày 20/7/1993 ông Nguyễn Văn Quyền và bà Võ Thị Hoa có chuyển nhượng cho vợ chồng bà toàn bộ diện tích đất thuộc thửa số 255, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng với giá 08 chỉ vàng 24 ka, khi chuyển nhượng có làm giấy tay có ông Trần Thanh Liếp (là Trưởng ban nhân dân ấp) xác nhận nhưng không có đo đạc thực tế, sau khi chuyển nhượng ông Quyền giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà giữ. Vợ chồng bị đơn đã sử dụng ổn định phần đất này đến nay là hơn 20 năm, nên không đồng ý theo yêu cầu của các nguyên đơn, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Đồng thời, phản tố yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/7/1993 giữa ông Nguyễn Văn Quyền, bà Võ Thị Hoa với vợ chồng bị đơn, theo diện tích đo đạc thực tế vào ngày 17/10/2014 là 8.645m2 thuộc thửa đất số 255, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

*   Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan các ông bà Nguyn Thị Đàng, Nguyễn Văn Kết, Nguyễn Thị Hồng Hoa, Nguyễn Thị Hồng Thm, Nguyễn Thị Hồng Cẩm, Lê Thị Cẩm Hường, Dương Tấn Pháp (Phát), Trương Quốc Khánh và Trương Quốc Hòa thống nhất theo trình bày và yêu cu phản t của bị đơn bà Nguyễn Thị Xê.

*   Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Quân trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Xê, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/7/1993 theo diện tích đo đạc thực tế là 8.645m2 thửa 255, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 33/2017/DS-ST ngày 7-9-2017 đã quyết định, tuyên xử:

1/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Nguyễn Hoàng Huvnh, Nguyễn Thị Thế; Nguyễn Thị Sương; Nguyễn Thị My; Nguyên Thị Sa Lam và Nguyễn Thị Vệ về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/7/1993 giữa ông Nguyên Văn Quyền và bà Võ Thị Hoa với ông Nguyễn Văn Quan và bà Nguyên Thị Xê là vô hiệu và yêu cầu bị đơn Nguyên Thị Xê cùng các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đàng; Nguyễn Văn Kết, Nguyễn Thị Hồng Hoa; Nguyễn Thị Hồng Thắm; Nguyễn Thị Hồng Cẩm; Lê Thị Cẩm Hường; Nguyễn Văn Quân; Dương Tấn Pháp; Trương Quốc Khánh và Trương Ouốc Hòa trả 10.804m2 đất thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 01 tọa lạc Ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

2/. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Quyền và bà Võ Thị Hoa với ông Nguyễn Văn Quân và bà Nguyễn Thị Xê ngày 20/7/1993 với diện tích là 8.645m2 thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 01 tọa lạc Ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng (Có tuyên tứ cận kèm theo).

Bị đơn Nguyên Thị Xê có trách nhiệm liên hệ các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 20-9-2017, người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn là ông Trần Việt Hưng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, hủy phần giải quyết chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, do Tòa án cấp sơ thẩm có sự sai lầm trong áp dụng pháp luật và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2018 đã quyết định, tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Nguyễn Hoàng Huynh, Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Thị Sương, Nguyễn Thị My, Nguyễn Thị Sa Lam và Nguyễn Thị Vệ về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/7/1993 giữa ông Nguyễn Văn Quyền, bà Võ Thị Hoa với ông Nguyễn Văn Quan và bà Nguyễn Thị Xê đối với thửa đất số 255, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng là vô hiệu.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Xê cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông bà Nguyễn Thị Đàng, Nguyễn Văn Kết, Nguyễn Thị Hồng Hoa, Nguyễn Thị Hồng Thắm, Nguyễn Thị Hồng Cẩm, Lê Thị Cẩm Hưòng, Nguyễn Văn Quân, Dương Tấn Pháp (Phát), Trương Quốc Khánh và Trương Quốc Hòa trả cho các nguyên đơn thửa đất số 255 (qua đo đạc thực tế diện tích 8.645m2) tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, đất có tứ cận như sau:

-  Hướng Đông giáp đất Nguyễn Văn Quân có số đo 65,5m;

-   Hướng Tây giáp đất ông Châu Minh Hùng có số đo 45m;

-   Hướng Nam giáp đất ông Phạm Văn Bắc và ông Nguyễn Văn Quân có số đo 154,5m;

-   Hướng Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn Xinh, ông Phạm Văn Bắc và ông Nguyễn Văn Quân có số đo 159,5m.

Buộc các nguyên đơn Nguyễn Hoàng Huynh, Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Thị Sương, Nguyễn Thị My, Nguyễn Thị Sa Lam và Nguyễn Thị Vệ cùng có nghĩa vụ trả cho bị đơn bà Nguyễn Thị Xê và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông bà Nguyễn Thị Đàng, Nguyễn Văn Kết, Nguyễn Thị Hồng Hoa, Nguyễn Thị Hồng Thắm, Nguyễn Thị Hồng Cẩm, Lê Thị Cẩm Hường, Nguyễn Văn Quân, Dương Tấn Pháp, Trương Quốc Khánh và Trương Quốc Hòa số tiền là 28.560.000đ và số tiền bồi thường thiệt hại là 263.004.000đ, tổng cộng là 291.564.000đ (hai trăm chín mươi mốt triệu, năm trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, k từ ngày bị đơn bà Nguyn Thị Xê cùng những người có quyền li, nghĩa vụ liên quan Nguyn Thị Đàng, Nguyn Văn Kết, Nguyễn Thị Hồng Hoa, Nguyễn Thị Hồng Thắm, Nguyễn Thị Hồng Cm, Lê Thị Cẩm Hường, Nguyn Văn Quân, Dương Tấn Pháp, Trương Quốc Khánh và Trương Quc Hòa có đơn yêu cu thi hành án thì hàng tháng các nguyên đơn Nguyễn Hoàng Huynh, Nguyễn Thị Thế, Nguyn Thị Sương, Nguyễn Thị My, Nguyễn Thị Sa Lam và Nguyn Thị Vệ còn phải trả lãi cho phía bị đơn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đi với s tiền và thi gian chậm thi hành án.

2/. Đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Xê về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Quyền, bà Võ Thị Hoa với ông Nguyễn Văn Quan, bà Nguyễn Thị Xê ngày 20/7/1993 với diện tích là 8.645m2 thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp 17, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

*  Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Tại thời điểm các bên xác lập việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20-7-1993 nêu trên thì, theo quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 1987 có hiệu lực nghiêm cấm việc mua, bán phát canh thu tô chuyển nhượng đất đai dưới mọi hình thức. Do đó, về nguyên tắc chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 20-7-1993 là hợp đồng trái pháp luật.

Theo hướng dẫn tại điểm a, b Tiểu mục 2.2 Mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HDTP ngày 10/08/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì nếu có tranh chấp mà hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được thực hiện thì Tòa án hủy hợp đồng vì hợp đồng bị vô hiệu. Nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được thực hiện như bên nhận chuyển nhượng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền, Ủy ban nhân dân đã cho phép việc chuyển nhượng, hay bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh không vi phạm quy định về quy hoạch và bên chuyển nhượng cũng không phản đối khi bên nhận chuyển quyền sử dụng đất xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh trên đất đó thì Toà án công nhận hợp đồng.

Xét thấy, trên thực tế khi xác lập hợp đồng chuyển nhượng ngày 20-7-1993 đối với thửa đất số 255 trên thì ông Quyền (cha các nguyên đơn) đã được Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Trị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19-10-1992, từ khi nhận chuyển nhượng đến nay bị đơn Xê sử dụng đất để trồng lúa, tuy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được thực hiện, nhưng bên nhận chuyển nhượng (bị đơn Xê) không thực hiện thủ tục chuyển quyền và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng chưa hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền; bà Xê cũng không xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh trên đất. Do đó, đối với diện tích đất tranh chấp nêu trên việc xác lập hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng bị đơn và ông Quyền (cha các nguyên đơn) ngày 20-7-1993 là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật được quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 1987, điểm a khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự và theo hướng dẫn tại Điểm a, b Tiểu mục 2.2 Mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tòa án cấp sơ thẩm đã vận dụng và áp dụng khoản 1 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức để không tuyên bố hợp đồng vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không chính xác và không đúng pháp luật. Do theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực (ngày 01-01-2017) mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật Dân năm 2005 để giải quyết. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm phải vận dụng và áp dụng Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005 về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 giải quyết tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 20/7/1993 giữa ông Quyền và vợ chồng bà Xê là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật mới đúng quy định pháp luật. Đồng thời, căn cứ Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không đúng.

Bên cạnh đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn bà Xê ngày 14-7-2017 sau khi Tòa án đã mở phiên họp hòa giải và kiểm tra chứng cứ ngày 03-4-2017 là vi phạm khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn và xử lý trả lại tiền tạm ứng án phí cho bị đơn theo quy định của pháp luật

3. Vụ án “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn” giữa nguyên đơn ông Trương Văn Tho với bị đơn ông Nguyễn Tuấn Kiệt; cùng 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

*  Nội dung vụ án và kết quả giải quyết của Tòa án.

-  Nguyên đơn ông Trương Văn Tho trình bày:

Năm 1985, ông Trương Văn Tho có nhận chuyển nhượng của ông Mã Vĩnh An diện tích đất 1.683m2 thuộc thửa 36, tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi chuyển nhượng ông Tho cất nhà ở đến năm 1995 thì chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Hiệp diện tích 560m2. Phần diện tích còn lại ông Tho cho ông Hiệp mượn để sử dụng, khi nào cần sẽ lấy lại và ông Tho có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hiệp để sang tên phần diện tích đất đã chuyển nhượng là 560m2. Nhưng ông Hiệp không làm thủ tục sang tên mà giao hết diện tích đất này cho con là ông Nguyễn Tuấn Kiệt sử dụng.

Đến năm 2015, ông Tho có nhu cầu sử dụng đất, ông có đến gặp ông Kiệt để đòi lại phần đất mà ông đã cho ông Hiệp mượn trước đây nhưng ông Kiệt không đồng ý trả.

Nay ông Trương Văn Tho yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Tuấn Kiệt và ông Nguyễn Văn Hiệp trả lại diện tích đất 716m2 thuộc thửa 36, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

-   Bị đơn ông Nguyễn Tuấn Kiệt trình bày:

Năm 1995, cha ông là ông Nguyễn Văn Hiệp nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp của ông Trương Văn Tho với giá 06 chỉ vàng 24k, đất tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Khi chuyển nhượng không có đo đạc cụ thể chỉ xác định ranh tứ cạnh (mua mão), hai bên có làm giấy tay, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Sau khi chuyển nhượng ông Tho đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hiệp nhưng trong quá trình cất giữ ông Hiệp đã làm thất lạc giấy này.

Cũng trong năm 1995, ông Hiệp đã cho ông phần đất này và ông sử dụng từ đó cho đến nay. Phần đất trước đây là cây tạp, đất lá và lung, biền, trong quá trình sử dụng ông đã bồi lấp và lấn ra phía sông theo hướng đông và hướng tây. Phần đất này hiện tại ông đã cất nhà ổn định, đóng cây nước, trồng cây lâu năm. Tổng diện tích đất mà ông đang sử dụng là 1.683m2. Vào năm 2016, ông đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì ông Tho phát hiện phần đất thừa so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên phát sinh tranh chấp và ông Tho đòi ông trả lại diện tích đất thừa là 716m2.

Nay ông Nguyễn Tuấn Kiệt không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của ông Tho, đồng thời yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 1.683m2 thuộc thửa 36, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2017/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2017 đã quyết, tuyên xử:

-     Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tho đòi ông Kiệt trả lại phần đất diện tích 716m2 tại thửa 36, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

-    Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Kiệt. Công nhận diện tích 1.607m2 (theo số liệu đo đạc thực tế) loại đất ONT -1- CLN, tại thửa 36, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng (do ông Tho đứng tên quyền sử dụng đất) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Kiệt, bà Nương (có tuyên số đo tứ cận kèm theo).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Kiệt, bà Nương có trách nhiệm làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật về đất đai.

-   Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

*   Ngày 18/9/2017, ông Trương Văn Tho và bà Nguyễn Thị Bo kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên, yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết buộc gia đình ông Nguyễn Tuấn Kiệt giao trả cho ông, bà toàn bộ diện tích đất thừa theo đo đạc thực tế (trừ diện tích 560m2 đã giao dịch năm 1995), tại thửa 36, tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng để ông, bà đăng ký quyền sử dụng đất.

*    Ngày 06/10/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định số 11/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị bản án sơ thẩm nêu trên, đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần bản án sơ thẩm với lý do: Phần đất ông Tho đòi ông Kiệt trả (diện tích 716m2) thuộc đất bãi bồi ven sông. Theo quy định pháp luật ông Tho hoặc ông Kiệt nếu có nhu cầu sử dụng thì phải làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết, chứ Tòa án không có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp nêu trên là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Kiệt và bà Nương.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số: 191/2017/DS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2017 đã quyết, tuyên xử

1.Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Văn Tho và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bo.

2. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

3. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2017/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng như sau:

3.1.    Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn Tho đòi bị đơn ông Nguyễn Tuấn Kiệt trả lại phần đất có diện tích 716m2 tại thửa 36, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

3.2.     Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Tuấn Kiệt. Công nhận phần đất có diện tích 560m2 tại thửa 36, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng (do ông Trương Văn Tho đứng tên quyền sử dụng đất) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Tuấn Kiệt và bà Nguyễn Thị Kiều Nương. Phần đất công nhận có số đo, tứ cận như sau:

-   Hướng đông giáp phần đất bãi bồi ven sông, có số đo 14m,

-   Hướng tây giáp đất ông Thạch Chưng (thửa 37), có số đo 14m;

-   Hướng nam giáp phần đất bãi bồi ven sông, có số đo 45,5m;

-   Hướng bắc giáp đất ông Sơn Ken (thửa 35), có số đo 39m.

(có sơ đồ đo vẽ kèm theo)

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Tuấn Kiệt và bà Nguyễn Thị Kiều Nương có trách nhiệm làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đối với diện tích đất nêu trên theo quy định của pháp luật về đất đai.

3.3.     Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Tuấn Kiệt về việc yêu cầu công nhận phần đất bãi bồi ven sông có diện tích 1.047m2, tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Tuấn Kiệt và bà Nguyễn Thị Kiều Nương. Phần đất không công nhận có hình chữ “L” và có số đo, tứ cận như sau:

-   Hướng đông giáp sông Chàng Ghé, có số đo 7,2m + 23m;

-   Hướng tây giáp đất ông Thạch Chưng (thửa 37), có số đo 8,4m + 10,6m;

-   Hướng nam giáp kinh Tà Niền, có số đo 55,5m;

-   Hướng bắc giáp đất ông Sơn Ken (thửa 35) và phần đất 560m2 công nhận cho ông Kiệt, bà Nương (thừa 36) nêu trên, có số đo 8m + 14m + 45,5m;

(có sơ đồ đo vẽ kèm theo)

*  Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Trong quá trình giải quyết vụ án, UBND huyện Thạnh Trị xác nhận: Thừa đất số 36, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, có diện tích là 560m2 do ông Tho là người đứng tên trong sổ mục kê ruộng đất; thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tho là cấp theo hình thức đại trà căn cứ vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và sổ mục kê ruộng đất, chứ không có kiểm tra đo đạc trên thực tế. Phần diện tích đất chênh lệch nằm ngoài 560m2 (theo ông Tho là 716m2, theo đo đạc thực tế là 1.047m2) là đất bãi bồi ven sông thì không nằm trong thửa đất số 36, UBND huyện chưa có quyết định giao đất cho hộ sử dụng, nếu hộ có nhu cẩu sử dụng thì hộ làm đơn gửi UBND xã xem xét, nếu phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt thì UBND xã lập đề nghị trình UBND huyện xem xét.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 và khoản 4 Điều 6 của Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì “Đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển chưa sử dụng được Ủy ban nhân dân cấp có thm quyền giao, cho thuê...” và “tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển, đất có mặt nước ven biển do tự khai hoang mà chưa được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì phải làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét cho thuê đất”. Trường hợp của gia đình ông Kiệt là người đang quản lý, sử dụng 1.047m2 đất bãi bồi ven sông nhưng chưa được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì phải làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ở đây là UBND cấp có thẩm quyền) xem xét, giải quyết giao đất hoặc cho thuê đất.

Như vậy, việc cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Kiệt, giải quyết công nhận 1.047m2 đất bãi bồi ven sông nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông Kiệt và bà Nương là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc đề nghị cấp phúc thẩm sửa án đối với nội dung này là có căn cứ chấp nhận.

Trên đây là những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc giải quyết các vụ án dân sự, Phòng 9 thông báo đến các Viện kiếm sát nhân dân cấp huyện tham khảo, rút kinh nghiệm và vận dụng trong những trường hợp tương tự để nâng cao hơn nữa chất lượng trong công tác kiềm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi