Thông báo rút kinh nghiệm vụ án "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"

 

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM

Vụ án hình sự bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

hủy án để xét xử sơ thẩm lại

 

Ngày 27/02/2017, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án Đỗ Ngọc Tuynh về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" ở thành phố Hà Nội. Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 7) trao đổi với các Viện kiểm sát địa phương một số vấn đề cần rút kinh nghiệm về vụ án này như sau:

I. Nội dung vụ án và quá trình tố tụng

Ngày 16/11/2010, anh Nguyễn Minh Tùng, Giám đốc Công ty Sao Mai có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội tố cáo Đỗ Ngọc Tuynh, Giám đốc Công ty Hồng Thắng ký hợp đồng san lấp cảng quốc tế Sao Mai Bến Đình, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để Công ty Sao Mai được vận chuyển, cung cấp cát san lấp cho dự án theo Hợp đồng số 01 ngày 19/5/2010 và nhận 5.000.000.000 đồng tiền đặt cọc của Công ty Sao Mai.

Tại Cơ quan điều tra cũng như phiên tòa sơ thẩm, Đỗ Ngọc Tuynh khai: qua người quen, Tuynh gặp anh Ngô Quang Thắng và được biết anh Nguyễn Văn Hùng là người ký được hợp đồng với nhà thầu Trung Quốc trong việc thực hiện cung cấp cát cho dự án cảng Sao Mai Bến Đình. Anh Thắng đã trao đổi và được anh Hùng đồng ý ký hợp đồng cung cấp cát cho dự án với khối lượng là 10.000.000 m³ trị giá 750.000.000.000 đồng. Do anh Thắng không đủ năng lực để thực hiện nên đã mời Công ty Hồng Thắng liên danh thực hiện. Theo thỏa thuận với Tuynh, anh Thắng ký hợp đồng cung cấp cát với anh Nguyễn Văn Hùng, Tuynh phải chuyển cho anh Thắng số tiền 2.000.000.000 đồng để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng, anh Thắng sẽ kí ủy quyền cho Tuynh thực hiện. Ngày 28/4 và 08/5/2010, Tuynh đã chuyển cho anh Thắng số tiền 1.000.000.000 đồng để thực hiện hợp đồng cung cấp cát cho dự án xây dựng cảng quốc tế Sao Mai Bến Đình, sau đó Đỗ Ngọc Tuynh ký hợp đồng kinh tế số 01 mua cát của Công ty Sao Mai.

Theo yêu cầu của anh Nguyễn Minh Tùng, việc thực hiện hợp đồng phải có bảo lãnh của Ngân hàng nên Tuynh đã đến Ngân hàng BIDV, chi nhánh Tây Hồ nói với Đoàn Ngọc Đoan (nhân viên phòng quan hệ khách hàng) về yêu cầu của anh Tùng. Đoan đã tư vấn về việc làm hồ sơ bảo lãnh và soạn thảo Hợp đồng kinh tế số 01 để Tuynh và anh Tùng ký; Hợp đồng này được Ngân hàng BIDV, chi nhánh Tây Hồ bảo lãnh, giá trị hợp đồng 305.000.000.000 đồng. Sau khi hai bên ký hợp đồng, Tuynh gọi điện cho anh Tùng yêu cầu chuyển 5.000.000.000 đồng để đặt cọc. Anh Tùng yêu cầu Ngân hàng BIDV, chi nhánh Tây Hồ phải phát hành “Thư cam kết bảo lãnh” thì mới chuyển tiền đặt cọc. Tuynh nói với Đoan về yêu cầu của anh Tùng. Đoan đưa cho Tuynh 01 bản mẫu “Thư cam kết” chưa có chữ ký của lãnh đạo Ngân hàng BIDV, chi nhánh Tây Hồ, kèm theo một mẫu chữ ký của anh Võ Thọ Hùng, giám đốc chi nhánh có đóng dấu ngân hàng và Đoan bảo Tuynh ghép 02 mẫu đó phôtô thành 01 bản và fax cho anh Tùng. Đoan nói với Tuynh là anh Hùng đang đi công tác chưa xin được chữ ký, khi nào anh Hùng kí bản chính sẽ chuyển cho anh Tùng sau. Tuynh đã làm theo hướng dẫn của Đoan và đến bưu điện Cầu Giấy fax cho anh Tùng. Tuynh gọi điện cho anh Tùng nói bản chính Tuynh đang giữ, sẽ đưa cho anh Tùng khi anh ra Hà Nội. Tin là có thư bảo lãnh của Ngân hàng, ngày 27/5/2010, Công ty Sao Mai đã chuyển cho công ty Hồng Thắng (do Tuynh làm giám đốc và đại diện theo pháp luật) số tiền 5 tỷ đồng để đặt cọc. Ngay sau khi tiền về tài khoản tiền gửi của Công ty Hồng Thắng, ngày 28/5/2010, Đoan gọi Tuynh đến Ngân hàng và hướng dẫn Tuynh làm thủ tục chuyển số tiền 4.688.535.416 đồng từ tài khoản tiền gửi sang tài khoản tiền vay. Vì hiểu việc chuyển tiền vào tài khoản này để phong tỏa nên Tuynh đã làm thủ tục viết giấy và kí ủy nhiệm chi số 25. Việc thu nợ là do Ngân hàng BIDV, chi nhánh Tây Hồ tự ý thu nợ. Khi ngân hàng làm thủ tục giải chấp tài sản, Tuynh đề nghị Ngân hàng cho vay lại số tiền 1.600.000.000 đồng bằng chính tài sản thế chấp tại Hợp đồng tín dụng số 01/2008/2564316/HĐ ngày 24/11/2008, nhưng Ngân hàng không cho Công ty Hồng Thắng vay tiền. Do Ngân hàng BIDV, chi nhánh Tây Hồ thu nợ và không cho vay lại dẫn đến việc Tuynh không có tiền trả lại cho anh Tùng nên bỏ trốn.

Ngày 31/5/2010, do không biết anh Nguyễn Văn Hùng đã yêu cầu anh Ngô Quang Thắng kí thanh lý Hợp đồng liên danh số 166 ngày 28/3/2015, nên Tuynh vẫn rút tiếp số tiền 700.000.000 đồng chuyển cho anh Ngô Quang Thắng. Quá trình điều tra, anh Ngô Quang Thắng đã tự nguyện nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 380.000.000 đồng và số tiền này đã được trả lại cho Công ty Sao Mai. Số tiền còn lại 4.620.000.000 đồng hiện nằm trong khoản tiền 4.688.535.416 đồng bị thu nợ, nay do Ngân hàng BIDV, chi nhánh Tây Hồ quản lý.

Tại Bản án sơ thẩm số 107/2014/HSST ngày 19/3/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, áp dụng điểm a khoản 4 Điều 140; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Ngọc Tuynh 20 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự, áp dụng điều 42 Bộ luật hình sự, Điều 608 Bộ luật dân sự, buộc Đỗ Ngọc Tuynh trả cho Công ty TNHH Hàng Hải Sao Mai số tiền 5.000.000.000 đồng, xác nhận Công ty TNHH Sao Mai đã nhận 380.000.000 đồng do Cơ quan điều tra trao trả, còn nhận được tiếp số tiền 4.620.000.000 đồng, hiện do Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Tây Hồ đang giữ.

Ghi nhận Đỗ Ngọc Tuynh đã tự nguyện dùng số tiền 68.535.416 đồng và số tiền còn lại trong tài khoản tiền gửi số 21210000002754 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Tây Hồ để thanh toán tiền vay theo Hợp đồng tín dụng 01/2008/2564316/HĐ ngày 24/11/2008. Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Tây Hồ có quyền hạch toán đối trừ các khoản theo Hợp đồng tín dụng số 01/2008/2564316/HĐ ngày 24/11/2008. Số tiền còn lại Ngân hàng có quyền yêu cầu bên vay có nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, không thuộc phạm vi giải quyết vụ án này.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 4/4/2014, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam có đơn kháng cáo, đề nghị sửa bản án hình sự sơ thẩm về dân sự, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giao cho Ngân hàng quản lý, sử dụng đối với khoản tiền 4.620.000.000 đồng với lý do số tiền này không phải là vật chứng; trong khi Công ty Hồng Thắng đang nợ tiền vay của Ngân hàng tại Hợp đồng tín dụng số 01/2008/2564316/HĐ ngày 24/11/2008;

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 585/2014/HSPT ngày 23/12/2014, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam; áp dụng Điều 41, 42 Bộ luật hình sự; Điều 608 Bộ luật dân sự, buộc Đỗ Ngọc Tuynh phải trả cho Công ty Sao Mai số tiền 5 tỷ đồng. Xác nhận Công ty Sao Mai đã nhận 380 triệu đồng do Cơ quan điều tra trao trả, còn được nhận tiếp 4 tỷ 620 triệu đồng hiện do Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Tây Hồ đang giữ.

Tại kháng nghị số 07/2016/KN-HS ngày 30/6/2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 585/2014/HSPT ngày 23/12/2014 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2014/HSST ngày 19/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm và phần trách nhiệm dân sự của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/HS-GĐT ngày 27/02/2017, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quyết định hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 585/2014/HSPT ngày 23/12/2014 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và phần trách nhiệm dân sự của Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2014/HSST ngày 19/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm lại.

II. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

- Về xác định tội danh

Lợi dụng việc ký kết Hợp đồng số 01/HĐKT ngày 19/5/2010 với Công ty Sao Mai về mua bán cát, san lấp cho dự án cảng Sao Mai Bến Đình, Đỗ Ngọc Tuynh là giám đốc Công ty Hồng Thắng đã làm giả "thư cam kết" để chiếm đoạt số tiền 5 tỷ đồng của Công ty Sao Mai. Kể từ ngày 01/3/2010, Công ty Hồng Thắng đã không đến kê khai thuế theo quy định của Luật quản lý thuế, đội kiểm tra thuế nhiều lần yêu cầu giải trình, nhưng Công ty này đã không đến làm việc. Ngày 2/7/2010, Đội kiểm tra thuế đã phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra, xác nhận Công ty Hồng Thắng không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đã đăng ký với Cơ quan thuế. Do đó, hành vi của Đỗ Ngọc Tuynh có dấu hiệu của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Mặc dù, Tòa án cấp sơ thẩm đã hai lần trả hồ sơ yêu cầu thay đổi tội danh đối với Đỗ Ngọc Tuynh, nhưng Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Kết luận điều tra và Cáo trạng. Do quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử, nên Tòa án cấp sơ thẩm vẫn phải xét xử bị cáo Đỗ Ngọc Tuynh về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên, xét hành vi dùng thư cam kết giả để chiếm đoạt 5.000.000.000 đồng của bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 140 Bộ luật hình sự là chưa chính xác về tội danh, nhưng mức án 20 năm tù là phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà Đỗ Ngọc Tuynh đã thực hiện, nếu xét xử về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Hơn nữa, do trong thời hạn luật định, không có kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại về phần trách nhiệm hình sự theo hướng bất lợi đối với bị cáo, nên để ổn định bản án, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã không xem xét về phần trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Ngọc Tuynh.

- Về xác định trách nhiệm dân sự

Việc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Tây Hồ thu hồi số tiền nợ là 4.688.535.416 đồng từ tài khoản tiền gửi của Công ty Hồng Thắng theo Ủy nhiệm chi của Đỗ Ngọc Tuynh là không đúng pháp luật. Bởi lẽ, khi nhận được Ủy nhiệm chi, Ngân hàng phải xác định số tiền trả nợ trong tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng có nguồn gốc từ đâu; mặc dù, khi Công ty Sao Mai chuyển tiền vào tài khoản của Công ty Hồng Thắng mở tại Ngân hàng này đã ghi rõ mục đích để bảo lãnh thực hiện Hợp đồng số 01/HĐKT ngày 19/5/2010, nhưng Ngân hàng vẫn chuyển sang tài khoản thu hồi nợ là sai, vì khoản tiền 5 tỷ đồng là vật chứng của vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên buộc Đỗ Ngọc Tuynh phải trả lại cho Công ty Sao Mai số tiền 5 tỷ đồng, đối trừ số tiền 380.000.000 đồng Cơ quan điều tra đã trao trả cho Công ty Sao Mai, còn lại 4.620.000.000 đồng hiện do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Tây Hồ đang giữ, là đúng pháp luật.

Tuy nhiên, tại thời điểm Ngân hàng thu hồi nợ theo Hợp đồng tín dụng số 01/2008/2564316/HĐ ngày 24/11/2008, trong tài khoản tiền gửi của Công ty Hồng Thắng có 5.400.987.915 đồng mà Công ty Sao Mai chỉ chuyển 5 tỷ đồng, nên số tiền không phải là vật chứng còn lại trong tài khoản và số tiền đã được Tuynh rút ra đưa cho ông Ngô Quang Thắng (ông Thắng đã nộp cho Cơ quan điều tra 380.000.000 đồng), còn lại 320.000.000 đồng, lẽ ra phải được Tòa án giải quyết với sự tham gia ý kiến của Ngân hàng và ưu tiên quyền lợi của Ngân hàng trong trường hợp này. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định: ghi nhận sự tự nguyện của Đỗ Ngọc Tuynh đã trả cho ông Ngô Quang Thắng số tiền 320.000.000 đồng, khi chưa xác định rõ quan hệ vay nợ hay Hợp đồng kinh tế giữa Tuynh hoặc Công ty Hồng Thắng với ông Ngô Quang Thắng là không chính xác, không đúng pháp luật.

Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm đã không phát hiện ra sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm là đã ghi nhận khoản tiền 380.000.000 đồng, mà Tuynh đưa cho ông Ngô Quang Thắng là sự tự nguyện bồi thường, trong khi chưa xác định được quan hệ giữa Đỗ Ngọc Tuynh và ông Ngô Quang Thắng là quan hệ gì, nên Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã hủy bản án hình sự phúc thẩm và phần trách nhiệm dân sự của bản án hình sự sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Vụ 7 thông báo để các Viện kiểm sát địa phương cùng nghiên cứu, rút kinh nghiệm chung trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự./.

 

 

 

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi