TB RKN của VKSND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh về kiểm sát điều tra, truy tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

Số: 13/TB-VC3-V1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

 

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 9 năm 2015

THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM

Về kiểm sát điều tra, truy tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm

vụ Nguyễn Thị Tuyết Vân phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Thông qua vụ án Nguyễn Thị Tuyết Vân phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử: Hủy án sơ thẩm để điều tra xét xử lại; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, trao đổi và rút kinh nghiệm về kiểm sát điều tra, truy tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm đối với vụ án này nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo Chỉ thị công tác của Viện trưởng Viện kiểm nhân dân tối cao.

                           I.   Về nội dung vụ án, theo cáo trạng và án sơ thẩm, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết Vân, như sau:

Ông Trần Văn Sái (Tan Sai) chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Tuyết Vân từ năm 1995, có 2 con chung nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 1999, ông Sái nhận sang nhượng phần đất của ông Nguyễn Văn Luật có diện tích l5.042m2 tại thửa số 29, tờ bản đồ số 07. Do ông Sái là Việt kiều Campuchia nên để cho b/c Nguyễn Thị Tuyết Vân làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ và được cấp GCNQSDĐ số 00074 QSDĐ/QĐ-ƯB ngày 31/12/2001 do Nguyễn Thị Tuyết Vân đứng tên.

Ngày 11/09/2009, Nguyễn Thị Tuyết Vân tự ý ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ trên cho ông Trần Bửu Lộc nhưng ông Sái không biết. Sau đó bà Vân không thực hiện hợp đồng nên ông Lộc khởi kiện. Bản án số 37/2011/DSST ngày 22/6/2011, TAND huyện Dầu Tiếng xác định hợp đồng giữa bà Vân với ông Lộc vô hiệu do có sự lừa dối ông Sái.

Ngày 19/02/2010, Nguyễn Thị Tuyết Vân vay của bà Nguyễn Thị Hoa 470.000.000 đồng, nhưng đến hạn không trả nên bà Hoa làm đơn khởi kiện. Bản án số 10/2011/DSST ngày 01/3/2011 của TAND huyện Dầu Tiếng tuyên buộc Nguyễn Thị Tuyết Vân có trách nhiệm thanh toán cho bà Hoa số tiền 470.000.000 đồng. Do Nguyễn Thị Tuyết Vân không tự nguyện thi hành nên ngày 16/5/2011, Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng ra quyết định kê biên tài sản của Nguyễn Thị Tuyết Vân để đảm bảo thi hành án, phần đất kê biên trong diện tích đất 15.042m2. Sau đó diện tích đất kê biên được bán đấu giá. Ngày 14/9/2011, Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng ra QĐ số 86/QĐ-CCTHA cưỡng chế giao tài sản bán đấu giá có diện tích 6.912m2 giao cho ông Trần Hữu Ngạn – người trúng đấu giá. Quá trình khởi kiện đến khi thi hành án, Nguyễn Thị Tuyết Vân cố tình vắng mặt, các cơ quan tiến hành tố tụng đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo trình tự, thủ tục được quy định.

Ngày 20/10/2011, Nguyễn Thị Tuyết Vân tiếp tục ký Hợp đồng CNQSDĐ đối với toàn bộ diện tích 15.042m2 cho ông Lê Văn Tuấn với số tiền 600.000.000đ tại Văn phòng công chứng Mỹ Phước, ông Tuấn đã giao đủ tiền và nhận GCNQSĐ. Khi ông Tuấn đi làm thủ tục sang tên thì mới biết rằng diện tích đất 6.912m2/15.042m2 đã bị kê biên bán đấu giá cho ông Ngạn trước khi bà Vân ký hợp đồng chuyển nhượng. Do đó, ông Tuấn làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Vân.

Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2014/HSST ngày 15/12/2014 của TAND tỉnh Bình Dương đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tuyết Vân phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1.     Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm p khoản 1, 2 Điều 46, BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết Vân 13 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/7/2014.
  2.   TNDS: Áp dụng Điều 42 BLHS và Điều 608 BLDS buộc bị cáo Vân có trách nhiệm hoàn trả cho người bị hại Lê Văn Tuấn số tiền 600 triệu.

Ngoài ra bản án còn tuyên về các phận phụ xử khác về quyền kháng cáo, án phí…

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/12/2004 bị cáo Vân kháng cáo cho rằng “bị cáo nhận thấy không đúng lời khai của bị cáo”, xin giảm án, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo kêu oan.

Tại phiên toà phúc thẩm ngày 28/08/2015, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết Vân cho rằng bị cáo không biết việc đấu giá tài sản (đất) để thi hành bản án dân sự sơ thẩm số 10/2011/DSST ngày 01/03/2011 của TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Bà Lê Thị Kim Nga (mẹ bị cáo) khai có một lần nhận được giấy triệu tập của Tòa án huyện Dầu Tiếng nhưng do lớn tuổi, không nhớ khi Tuyết Vân về nhà có đưa lại Tuyết Vân nhưng lúc đó đã quá ngày triệu tập của Tòa án, ngoài ra không nhận thêm giấy tờ nào của Tòa án. Bị cáo Vân khai có biết giấy triệu tập lần 1 của TAND huyện Dầu Tiếng nhưng nghĩ răng sẽ còn triệu tập lân thứ hai, sau đó không biết gì thêm. Ông Trân Văn Sái (sống chung như vợ chồng với bị cáo Vân từ năm 1995 –  có 2 con chung) khai: không nhận được giấy của TAND huyện triệu tập Tuyết Vân; sau khi đấu giá Tuyết Vân về thấy người khác canh tác, đã hỏi ông: sao đất để người khác làm; ông nói đất đã bán cho người khác.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhận thấy:

  1.  Tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân lập ngày 10/9/2011 “Mục đích của việc yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: để làm thủ tục vay vốn ngân hàng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất” có xác nhận của chính quyền địa phương là ấp trưởng Nguyễn Xuân Phương và Phó chủ tịch xã Minh Tâm Bùi Xuân Hiệp cùng ngày 10/9/2011 (BL06). Việc xác nhận này diễn ra sau gần 01 tháng tổ chức bán đấu giá – Biên bản bán đấu giá lập ngày 30/8/2011 (BL70). Và trước đó trong Biên bản kê biên tài sản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng lập ngày 31/5/2011 tại ấp Tân Đức, xã Minh Tân có đại diện chính quyền địa phương (ấp: Ông Nguyễn Xuân Phương; ƯBND Xã có chủ tịch Nguyễn Văn Nam, Dương Thị Thuật (Cán bộ tư pháp), Lý Hồng Huy (địa chính).
  2.     Việc        công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ghi rõ: “Tình trạng hôn nhân: sống chung anh Tan Sai ngụ tại ấp Tân Đức xã Minh Tân, Dầu Tiếng, Bình Dương từ năm 1996, chưa lần nào đăng ký kết hôn tại xã”, nhưng không yêu cầu ông Sái có mặt là đúng hay sai? Cần điều tra làm rõ.
  3.     Theo ông Đậu Văn Linh khai ngày 29/4/2014 tại phiên tòa sơ thẩm ngày 22/06/2011 có bị cáo Vân tham gia vậy đúng hay không chưa được điều tra làm rõ; chưa đối chất giữa Linh và Vân để xác định bị cáo có về địa phương tham dự phiên tòa hay không? Việc ủy quyền bằng hình thức nào? Vì trước đó Cục thi hành án có Quyết định kê biên số 56 ngày 16/05/2011, vậy việc này bị cáo có biết không.
  4.      Tại khoản 2 Điều 28 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 về đấu giá tài sản quy định về “Niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá”. Quá trình thực hiện bán đấu giá tài sàn có thực hiện đúng quy định của khoản 2 Điều 28 của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 hay không. Trong khi chính quyền địa phương (ấp, xã) vẫn xác nhận về nhân thân của bị cáo (tình trạng hôn nhân…). Và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khẳng định không biết việc bán đấu giá.

Tất cả các vấn đề nêu trên và lời khai của bị cáo, của bà Nga, ông Sái đều liên quan đến chứng minh ý thức chủ quan của bị cáo nhưng chưa được cấp sơ thẩm điều tra đầy đủ, toàn diện.

                        II.   Những vấn đề cần rút kinh nghỉệm

  1.    Về công tác kiểm sát điều tra và truy tố:

Quá trình kiểm sát điều tra cấp sơ thẩm có thiếu sót: Chưa thu thập đầy đủ các chứng cứ có ý nghĩa chứng minh tội phạm, chưa đánh giá đầy đủ nội dung của các chứng cứ.

-    Việc đấu giá đã được thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 về đấu giá tài sản hay không. Nguyên nhân không đánh giá được sự thật lời khai của bị cáo, nhân chứng, người liên quan do quá trình điều tra chưa thu thập “hồ sơ đấu giá tài sản” để làm căn cứ chứng minh. Trong khi khoản 2 Điều 28 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 về đấu giá tài sản có quy định rất rõ về “Niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá”. Quá trình thực hiện bán đấu giá tài sản có thực hiện đúng quy định của khoản 2 Điều 28 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 hay không. Trong khi chính quyền địa phương (ấp, xã) vẫn xác nhận về nhân thân của bị cáo (tình trạng hôn nhân…).

-    Tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện có thu thập văn bản xác nhận của chính quyền địa phương “Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân lập ngày 10/9/2011 ghi rõ: “Tình trạng hôn nhân: sống chung anh Tan Sai ngụ tại ấp Tân Đức xã Minh Tân, Dầu Tiếng, Bình Dương từ năm 1996, chưa lần nào đăng ký kết hôn tại xã” nhưng quá trình điều tra không điều tra làm rõ việc xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng hôn nhân của bị cáo Vân tại sao vẫn diễn ra sau gần 01 tháng bán đấu giá. Biên bản bán đấu giá lập ngày 30/8/2011, khi xác nhận chính quyền địa phương có biết việc đấu giá hay không.

Do không đánh giá đầy đủ nội dung Giấy xác nhận nên quá trình điều tra đã không lấy lời khai ấp trưởng Nguyễn Xuân Phương và Phó chủ tịch xã Minh Tâm, Bùi Xuân Hiệp để làm rõ việc ký xác nhận; trong khi tài sản là quyền sử dụng đất đã bị kê biên và bán đấu giá trước khi xác nhận tình trạng hôn nhân một tháng.

-    Xác minh làm rõ việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị cáo Nguyễn Thị Tuyết Vân và ông Lê Văn Tuấn. Làm rõ lý do tại sao không mời ông Trần Văn Sái (Tan Sai).

Cần rút kinh nghiệm:

Quá trình kiểm sát điều tra cần yêu cầu cơ quan điều tra thu thập đầy đủ các chứng cứ theo quy định tại Điều 65 BLTTHS. Trong vụ án này, quá trình điều tra Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra cần “Để ra yêu cầu điều tra” đối với cơ quan điều tra theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 BLTTHS “triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án....; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án”; hoặc căn cứ điểm c khoản 1 Điều 37 BLTTHS “Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng..., người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án”.

  1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án:

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án chuẩn bị xét xử cần phải “nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết vụ án”; cần xác định và đánh giá mọi chứng cứ. Và cần phải xác định các chứng cứ thu thập được đã đảm bảo đủ để giải quyết vụ án hình sự hay chưa.

Cần rút kinh nghiệm:

Trong vụ án Nguyễn Thị Tuyết Vân, cấp sơ thẩm chưa đánh gía một cách toàn diện các chứng cứ dẫn đến không phát hiện những thiếu sót trong quá trình kiểm sát điều tra nên không xác định được còn thiếu chứng cứ quan trọng theo quy định của Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT - VKSNDTC - BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung: điểm d khoản 2 Điều 2 quy định: Chứng cứ để chứng minh “có lỗi hay không có lỗi?”.

Khoản 2 Điều 10 “Tại phiên tòa, Kiểm sát viên chủ động phối hợp với Hội đồng xét xử làm rõ những chứng cứ liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Trong trường hợp phát sinh những vấn đề mới hoặc phức tạp mà không bổ sung được, thì Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung”.

Trên đây là một số vấn đề tồn tại về công tác kiểm sát điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm; chúng tôi trao đổi với các đồng chí để tham khảo và rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi