TB RKN của VKSND tỉnh Vĩnh Long về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”


THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM

Vụ án: “Tranh chấp quyền sử dụng đất

- Nguyên đơn:Nguyễn Hửu xếp – sinh năm 1967.

- Bị đơn : Bùi Văn Hai sinh năm 1945.

Cùng địa chỉ: ấp Mỹ Thới 1, xã Mỹ Hòa ,TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

-  Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Phạm Văn Minh sinh năm 1960.

2/ Phạm Văn Khiết sinh năm 1968.

3/ Nguyễn Thị Hai, sinh năm 1966.

Địa chỉ:Tổ 12, ấp Đông hậu, xã Đông Bình, TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

4/ Nguyễn Văn Bê, sinh năm 1952.

5/Nguyễn Thị Ưởng, sinh năm 1924.

Địa chỉ: p Mỹ Thới 1, xã Mỹ Hòa, TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

6/Nguyễn Thị Mai, sinh năm 1957.

Địa chỉ: Tổ 12, khóm 1, phường Cái Vồn, TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. 7/Nguyễn Thị Mành, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Tổ 1, ấp Thuận nghĩa A, xã Thuận An, TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Mai, bà Hai, ông Bê, bà Mành, bà Ưởng ủy quyền cho ông xếp đại diện.

*  Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Ưng:

- Nguyễn Hữu Xếp, sinh năm 1969.

Địa ch: Tổ 3, ấp Mỹ Thi 1, xã Mỹ Hòa ,TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Nguyễn Thị Mai, sinh năm 1957.

Địa chỉ: 638, tổ 12, khóm 1, phường Cái vồn, TX Bình Minh, tnh Vĩnh Long.

- Nguyễn Văn Bê, sinh năm 1952.

Địa chỉ: Tổ 4, ấp Mỹ Thới 1, xã Mỹ Hòa, TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Nguyễn Thị Mành, sinh năm 1959.

Địa chỉ: tổ 1, ấp Thuận Nghĩa, xã Thuận An, TX Bình Minh, tnh Vĩnh Long.

- Nguyễn Thị Hai, sinh năm 1951.

Địa chỉ: tổ 2, ấp Đông Hậu, xã Đông Bình, TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

*  Người kế thừa quyen và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Hai:

- Lưu Kim Huệ, sinh năm 1983;

- Lưu Kim Hạnh, sinh năm 1985.

Địa chi: tổ 2, ấp Đông Hậu, xã Đông Bình, TX Bình Minh, tnh Vĩnh Long

8/ UBND thị xã Bình Minh .

Bản án số 24/2014/DSST ngày 29/8/2014 của Tòa án nhân dân TX Bình Minh

Áp dụng khoản 1, Điều 100, Điều 166 Luật đất đai năm 2013, Điều 128, 134,137, khoản 2, Điu 305, Điều 688 BLDS năm 2005, Điều 15,16 của Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991, Điều 142 BLTTDS, khoản 2,6, Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án tuyên xử:

-  Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn xếp.

-   Không chp nhận yêu cu phản tố của ông Bùi Văn Hai vviệc yêu cu công nhận cho ông Hai được quyền sử dụng phần đất diện tích 5.488,8m2 thuộc thửa 347, loại đất trồng lúa tọa lạc ấp Mỹ Thới 1, xã Mỹ Hòa, TX Bình Minh, tnh Vĩnh Long và yêu cầu hủy quyết định số 89/QĐ.CTƯB, ngày 9/12/2013 của UBND huyện Bình Minh về việc cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho ông Xếp .

-  Chấp nhận 1 phần yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn Minh.

-  Công nhận cho ông Nguyễn Văn xếp được quyền sử dụng phần đất diện tích 5.488,8m2 (mốc a, b, c, d, đ, e, 1, 2, 3,4, 5, 6, 7, a) thuộc thửa 347 loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp Mỹ Thới 1, xã Mỹ Hòa, TX Bình Minh có tứ cận kèm theo trích đo bản đồ địa chính.

-  Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/12/01991 gia ông Bùi Văn Hai và ông Phạm Văn Minh.

-   Buộc ông Bùi Văn Hai, ông Phạm Văn Minh và bà Hoa trả cho ông Xếp thửa đất 347 diện tích là 2.439,7m2 do ông xếp đứng tên QSDĐ có tứ cận kèm theo.

-  Buộc ông Hai và ông Thử giao trả cho ông xếp phần diện tích 3.049,1m2 thuộc một phần thửa 347 loại đất trồng lúa tọa lạc ấp Mỹ Thới l,xã Mỹ Hòa, TX Binh Minh, tỉnh Vĩnh Long, có trích đo kèm theo.

-  Các bên đương sự có nghĩa vụ kê khai, đăng ký theo qui định của pháp luật đất đai.

-  Buộc ông Hai hoàn trả cho ông Minh, bà Hoa 7,5 chỉ vàng 24k và buộc ông Hai bồi thường cho ông Minh, bà Hoa 36,79 ch vàng 24k.

-  Ghi nhận sự tự nguyện của ông Xếp trả cho ông Minh, bà Hoa s tin 88.560.000đ, giá trị 123 cây chôm chồm loại C.

-  Công nhận cho ông Xếp được sở hữu 123 cây chôm chôm trên phần diện tích 2.439,7m2 thuộc một phn thửa 347.

-  Buộc ông Xếp hoàn trả cho ông Minh, bà Hoa số tiền 6.000.000đ chi phí lên liếp lập vườn.

-  Các bên đương sự được quyền khởi kiện một vụ kiện khác tranh chấp phn đất thửa 348 khi có yêu cầu.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí khảo sát, đo đạc, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 10/9/2014 ông Bùi Văn Hai kháng cáo không đồng ý án sơ thẩm đã tuyên, yêu cầu cấp phúc thm hủy bản án sơ thẩm, với lý do là cấp sơ thẩm giải quyết sai về thẩm quyền tranh chấp và tính án phí không đúng với quy định của pháp luật.

Ngày 12/9/2014 ông Nguyễn Hữu Xếp kháng cáo với nội dung là ông chỉ đồng ý trả cho ông Minh 1/2 số tiền giá trị 123 cây chôm chôm loại C với số tiền là 44.280.000đ.

*  Nhận xét nội dung vụ án : Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Xếp vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, ông Hai chỉ yêu cầu sửa án sơ thẩm, công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 347 diện tích là 5.320 m2 và hy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Xếp.

Theo ông Xếp trình bày: thửa đất số 347 diện tích 5.320 m2là của cha ông là Nguyễn Hửu ng mua của ông Mùi bà Kiệu vào năm 1971, hai bên có làm giấy tờ và có chính quyền cũ chấp thuận, đến năm 1980 ông ng cho ông Sẳn thuê ,nhưng không có làm giấy tờ, ông ng kê khai đăng ký QSDĐ theo chỉ thị 299/TTg của Chính phủ, năm 1988 thì ông Sẳn giao đất lại cho ông Hai canh tác nên phát sinh tranh chấp, ông ng được cơ quan chuyên môn cho đăng ký theo chương trình đất năm 1990 và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ năm 1996, do ông ng già yếu nên năm 2003 làm thủ tục cho lại ông Xếp đứng tên QSDĐ cho đến nay, ông Xếp có tranh chấp yêu cầu ông Hai trả đất nhưng ông Hai không trả cho ông Xếp mà chuyển nhượng QSDĐ cho ông Minh diện tích 2.446,3 m2 chiết thửa 347, ông Minh lên liếp trồng cây ăn trái, phần còn lại ông Hai cho ông Khiết canh tác, nay ông Xếp yêu cầu ông Hai trả lại thửa 347 cho ông, ông Xếp đồng ý bồi thường cây trồng cho ông Minh theo giá nhà nước qui định.

Theo ông Hai trình bày: nguồn gốc thừa 347 điện tích 5.320 m2 vào năm 1958 bà Kiệu cho ông Sẳn thuê, đến năm 1970 bà Kiệu bán truất hữu cho chính quyền Sài Gòn theo luật người cầy có ruộng vào ngày 26/3/1970, từ đó ông Sẳn canh tác đến năm 1988 thì cho đất lại ông, năm 1990 ông kê khai đăng ký QSDĐ và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ vào năm 1991, năm 1995 do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông chuyn nhượng lại cho ông Minh 2.400 m2, đến năm 2007 làm thủ tục sang tên cho ông Minh thì phát hiện nhằm thửa do ông xếp đứng tên thửa 347 diện tích 5.320m còn ông đứng tên thửa 348 diện tích 4.920m2 nay ông yêu cầu Tòa án chấp nhận cho ông sử dụng thửa 347 diện tích 5.320m2.

Xét thấy: Nguồn gốc đất tranh chấp theo tư liệu của y ban thanh tra nhà nước huyện Bình Minh ngày 13/4/1990 thì phần đất tranh chấp là của ông Mùi, bà Kiệu mua của bà Bùi Thị Đượm do văn tự trước bạ ngày 29/7/1943. Ông Mùi, bà Kiệu mua để canh tác và cho mướn thu tô qua nhiều người, sau đó vào năm 1958 ông Bùi Văn sẵn mướn 4,5 công, tầm 2,8m do ông Sáu Đợi cho mướn lại và từ đó ông Sẵn canh tác trên phần đất này. Sau khi ông Mùi qua đời, bà Kiệu cùng các con đúng ra bán phần đất chung gồm 3 sở, trong đó cỏ 2 sở vườn và 1 sở ruộng, trong số ruộng này ông Sn có 1 phần đất diện tích đất mà ông Sẳn đã canh tác trước đây do ông ng mua vào ngày 07/7/1971. Theo sổ bộ cũ hiện còn lưu tại cơ quan chi cục quản lý ruộng đất tnh Cửu Long thì ông Mùi và bà Kiệu có đứng tên s hữu chủ và bán đt cho ngụy quyền Sài Gòn theo luật 03/70-NCCR ngày 26/3/1970 trên những phần đất tọa lạc tại xã Mỹ Hòa, quận Đình Mình như sau:

Thửa 186, diện tích 0H 1280 đất vườn; Thửa 187, diện tích 0H 3840 đất vườn; Thửa 188, diện tích 1H 0720 đất ruộng.

Phần đất truất hữu là thửa 188, diện tích 1H 0720. Như vậy phần diện tích đất mà ông ng đã mua của ông Mùi, bà Kỉệu vào ngày 7/7/1991 chưa được sang tên cho ông ng làm chủ sở hữu, thì vào ngày 14/4/1972 ông Mùi, bà Kiệu đã truất hữu diện tích 1H0720 bán cho chính quyền Sài Gòn.

Như vậy thực tế phần đất tranh chấp ông Sẵn đã canh tác trước khi ông ng mua của ông Mùi, bà Kiệu và sau đó ông Mùi, bà Kiệu đã truất hữu bán cho chính quyền Sài Gòn theo sắc luật 03 và thanh tra huyện Bình Minh đề nghị giữ nguyên cho người hỉện canh tác ổn định là ông Sẵn và sau đó là ông Hai sử dụng.

Tại công văn số 51/UBND-NC ngày 6/2/2009, của UBND huyện Bình Minh về việc trả lời văn bản ngày 18/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện ghi nhận như sau: Thực hiên theo chỉ thị 299/TTg thì thửa đất số 110, diện tích 5.600m2, loại đất 2 lúa do ông Bùỉ Văn Hai kê khai đăng ký chủ s dụng.

Theo tư liệu chương trình đất năm 1991: Thì tha 348, tờ bản đồ số 6, diện tích 4.920m2, loại đất 2 lúa do ông Bùi Văn Hai đứng tên đăng ký trong sổ bộ địa chính, còn thửa 347, tờ bản đồ số 6, diện tích 5.320m2, loại đất 2 lúa do ông Nguyễn Văn ng đăng ký trong sổ bộ địa chính và trong văn bản này UBND huyện Bình Minh đã khng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Văn Hai và ông Nguyễn Hữu Xếp là sai tên chủ sử dụng. Lý do là lộn thửa đất và diện tích đất theo tư liệu đo đạc bản đồ giải thửa năm 1991. Đồng thời UBND huyện sẽ chỉ đạo cơ quan chuyên môn thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng nêu trên và đề nghị Tòa án công nhận quyền sử đụng đất theo hiện trạng thực tế diện tích đất của 2 ông đã sử dụng ổn định lâu dài.

Theo công văn số 796/STNMT, ngày 26/5/2014 của sở Tài nguyên môi trường tỉnh Vĩnh Long đã ghi nhận phần đất sổ địa bộ cũ 252, sổ địa bộ mới 188, số bản đ 139, diện tích 1H0720 loại đất ruộng danh tánh địa chủ là Chính phủ Việt Nam cộng hòa. Như vậy phần đất này đã được truất hữu và cấp phát ngày 26/3/1970 theo luât 003/70 của Chính quyền Sài Gòn.

Từ những viện dẫn phân tích trên xét thấy kháng cáo của ông Hai là có cơ sở chấp nhận. Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông Hai tại thửa 347, diện tích 5.488,8m2. Bi lẽ phần đất tranh chấp này ông Hai đã s dụng ổn định lâu dài, qua các lần đo đạc, kê khai, ông hai đã kê khai, đăng ký vào sổ bộ địa chính nhà nước và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất, chỉ có điều là cấp lộn tên chủ sử dụng và lộn s thửa mà thôi, đồng thời hủy quyết định số 89 ngày 09/12/2003 của UBND huyện Bình Minh đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Xếp. Mặc khác trong thời đỉểm đưa đất vào tập đoàn sản xuất thì ông Hai là người trực tiếp đưa đất vào, và khi ra tập đoàn thì ông Hai được tiếp tục nhận lại đất.

Do chấp nhận kháng cáo của ông Hai, nên kháng cáo của ông Xếp là không có cơ sở chấp nhận vì ông Hai không phải trả đất cho ông Xếp và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hai với ông Minh, bà Hoa được tiếp tục thực hiện vì các bên không tranh chấp.

*      Hội đồng xét xử tuyên án, căn cứ khoản 2, Điều 275 BLTTDS:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hai;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Xếp;

Sửa án sơ thẩm theo đề ngh của Viện kiểm sát.

*  Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ và giải quyết vụ án, kiểm sát viên không đánh giá được chứng cứ một cách khách quan và toàn diện nên không kháng nghị bn án, mặc dù bản án sai cơ bản về nội dung giải quyết. Bởi vì phần đất tranh chấp đã bị chính quyền Sài Gòn cũ truất hữu năm 1970, sau đó ông Hai là người trực tiếp canh tác và quản lý sử dụng, đến khi đưa đất vào tập đoàn sản xuất ông Hai là người đưa đt vào tập đoàn sản xuât, khi rã tập đoàn ông Hai cũng chính là người được nhận lại đt và quản lý canh tác đến nay, đăng ký kê khai quyn sử dụng đt qua các thời kỳ, được cp giấy chứng nhận quyn sử dụng đt, chỉ có điu nhà nước đã cấp lộn tha với ông Xếp mà thôi. Việc này được UBND huyện Bình Minh (nay là Thị xã Bình Minh) thừa nhận, như vậy phải công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông Hai mới đúng quy định của pháp luật về đất đai mà cụ thể là Nghị quyết 02/NQ/ HĐTPTANDTC ngày 10/8/2004 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Ti cao.

Trên đây là những vấn đề cần rút kinh nghiệm đối với các đơn vị huyện, thị xã, thành phố trong công tác nghiên cứu hồ sơ và tham gia xét xử tại phiên tòa đối với vi phạm của vụ án nêu trên./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi