Rút kinh nghiệm đối với vụ án dân sự bị cấp phúc thẩm sửa án

Qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự tháng 12 năm 2015, Phòng 9 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn thông báo rút kinh nghiệm đối với vụ án bị cấp phúc thẩm xét xử sửa án để các đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện cùng tham khảo, cụ thể:

Vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tình Lạng Sơn, giữa:

-    Nguyên đơn: Cao Thị Sáu.

Địa chỉ: Lô C4, C5, số 15, phố Đông Quan, phường Quan Hoa, quận cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

-       Bị đơn: Thị Hoa.

Địa ch: số 03, ngõ 92, phố Cửa Bắc, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (khi thụ lý giải quyết vụ án bà Vũ Thị Hoa đang sinh sng tại thành phố Lạng Sơn).

-       Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Minh Sơn; Bà Ngô Th Tuyết Mai; Ông Nguyễn Đỗ Huyền.

Bản án dân sự sơ thm s 04/2015/DS-ST ngày 23/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, xử:

-      Buộc bà Vũ Thị Hoa phải trả cho bà Cao Thị Sáu tổng số tiền 1.894.332.693 đồng (Đối với khoản vay ngày 02/6/2007: Tiền nợ gốc là 340.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/3/2015 là 372.329.167 đồng; Đối với khoản vay ngày 12/8/2007: Tiền nợ gốc là 700.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/3/2015 là 482.003.472 đồng).

Buộc bà Vũ Thị Hoa và bà Ngô Thị Tuyết Mai phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Cao Thị Sáu tổng số tiền là 10.209.222.930 đồng, trong đó số tiền nợ gốc của năm khoản vay ngày 13/7/2007, 17/7/2007, 23/7/2007, 25/7/2007 và ngày 28/7/2007 là 5.062.320.000 đồng và số tiền lãi tính đến ngày 23/3/2015 là 5.146.902.930 đồng. Phần mỗi người phải trả là 5.104.611.465 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả, án phí, quyền kháng cáo và yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Trong thời hạn luật định nguyên đơn bà Cao Thị Sáu, bị đơn bà Vũ Thị Hoa và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Tuyết Mai kháng cáo yêu cầu: Bà Sáu đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, xác định khoản vay 700.000.000 đồng là khoản vay chung, buộc bà Hoa và bà Mai cùng có trách nhiệm trả; Bà Hoa ch thừa nhận khoản nợ 340.000.000 đồng và cho rằng cấp sơ thẩm xác định bà vay bà Sáu số tiền trên năm tỷ là không chính xác; Bà Mai đề nghị cấp phúc thẩm xác định số tiền 10.209.222.930 đồng không phải là khoản nợ chung của bà và bà Hoa.

Nội dung vụ án

Nguyên đơn bà Cao Thị Sáu trình bày: Ngày 02/6/2007 cho bà Hoa vay số tiền 400.000.000 đồng, có làm giấy tờ viết tay, thời hạn vay là 02 tháng kể từ ngày 02/6/2007 đến ngày 02/8/2007 và thỏa thuận miệng lãi suất là 2,1%/ tháng, ngày 08/9/2007 bà Hoa trả tiền lãi của hai tháng số tiền là 16.800.000đồng, ngày 24/9/2009 bà Hoa trả 60.00.000 đồng nợ gốc, đến nay nợ gốc còn lại 340.000.000 đồng và lãi trên số nợ gốc từ ngày 03/8/2007.

Từ ngày 13/7/2007 đến ngày 12/8/2007 cho bà Hoa và bà Mai vay tiền 06 lần, với tổng số tiền vay chung là 5.762.320.000 đồng, thời hạn vay là 05 tháng, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng, được thể hiện tại các phiếu chi có đóng dấu của Công ty TNHH Sơn Phương, người ký nhận là bà Vũ Thị Hoa, các lần vay cụ thể như sau: Ngày 13/7/2007 số tiền cho vay là 1.557.820.000 đồng; Ngày 17/7/2007 số tiền cho vay là 290.000.000 đồng; Ngày 23/7/2007 số tiền cho vay là 1.073.500.000 đồng; Ngày 25/7/2007 và ngày 28/7/2007: số tiền cho vay mỗi lần là 1.070.500.000 đồng; Ngày 12/8/2007 số tiền cho vay là 700.000.000 đồng.

Để đảm bảo các khoản vay nói trên bà Mai và bà Hoa đã giao cho bà Sáu một số giấy tờ sau, cụ thể:

-    Ngày 25/7/2007 bà Mai giao cho bà Sáu: Giấy chng nhận nhà số 2380, quyển 2, tờ 115 đối vi nhà số 1097, đường Hồng Hà, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội mang tên Ngô Thị Tuyết Mai; Biên lai thuế môn bài năm 2006, 2007 của hộ bà Ngô Thị Tuyết Mai; Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ký hiệu ML/2006, số 0001760 ngày 23/12/2006, người nộp tiền bà Ngô Thị Tuyết Mai.

-    Ngày 12/8/2007 bà Sáu nhận cùa bà Mai 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI496043 mang tên Ngô Thị Tuyết Mai và Nguyễn Đỗ Huyền (Huyền là chồng của bà Mai); 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE889308, thửa số 355, tờ bản đồ 8H-III-41, tại số 3, ngõ 92, phố Cửa Bắc, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, mang tên Vũ Th Hoa.

-       Ngày 20/8/2007 bà Mai đã trả lãi đối với năm khoản vay chung trong tháng 7/2007 với tổng số tiền 124.520.000 đồng, nhưng không đưa tiền mặt; Cùng ngày bà Mai vay tiếp của bà Sáu 200.000.000 đồng, do đó bà Sáu đã viết phiếu chi với tổng số tiền là 324.520.000 đồng (gộp số tiền lãi và tiền cho vay); Khoản vay 700.000.000 đồng ngày 12/8/2007, bà Mai và bà Hoa chưa trả nợ gốc và lãi.

Bà Sáu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Hoa thanh toán khoản nợ riêng với số tiền gốc là 340.000.000đ và nợ lãi từ ngày 03/8/2007; Yêu cầu bà Hoa và bà Mai thanh toán sáu khoản nợ chung với tổng số tiền là 5.762.320.000 đồng và lãi theo quy định.

Bị đơn bà Vũ Th Hoa thừa nhận khoản vay 400.000.000 đồng ngày 02/7/2007 và nhận trách nhiệm thanh toán nợ gốc số liền 340.000.000 đồng, không chấp nhận thanh toán tiền lãi của khoản vay này. Đối với giấy tờ nhà đất số 3/92, phố Cửa Bắc, phường Quán thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội là cho bà Mai mượn và bà Mai đã giao cho bà Sáu, bà yêu cu bà Sáu trả lại; không thừa nhận các khoản vay chung từ ngày 13/7/2007 đến ngày 12/8/2007 với tổng số tiền 5.762.320.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Tuyết Mai cho rằng có vay tiền bà Sáu, nhưng là khoản vay riêng 02 lần với tổng số tiền là 600.000.000 đồng và việc vay nợ này cũng có tranh chấp, đang được Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết. Không thừa nhận đã trả bà Sáu khoản nợ lãi với tổng số tiền 124.520.000 đồng và phiếu chi đề ngày 20/8/2007 là do bà Sáu nhờ ký để hợp thức hóa chúng từ với cơ quan thuế, trên phiếu chi bà Mai ký ở phần thủ quỹ chứ không ký ở phần người nhận tiền. Do đó, bà không chấp nhận trả các khoản nợ theo yêu cầu khởi kiện của bà Sáu.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thu thập, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, dẫn đến việc xác định trách nhiệm liên đới trả nợ; khoản tiền vay và tính lãi suất chưa chính xác, cụ thể như sau:

-    Việc xác định khoản tiền vay chung buộc bà Mai ừách nhiệm liên đới tr

nợ:

Theo Giấy biên nhận ngày 25/7/2007 giữa bà Sáu với bà Mai, có nội dung: “Để cho chị Ngô Thị Tuyết Mai và chị Vũ Thị Hoa vay tiền” và thời gian lập Giấy biên nhận cùng ngày với phiếu chi ngày 25/7/2007. Trước ngày 25/7/2007, đã có các phiếu chi 13/7, 17/7 và 23/7, tuy nhiên tại Giấy biên nhận ngày 25/7/2007 chỉ ghi “Số tiền sẽ thể hiện chi tiết từng lần vay …”.

Tại sáu phiếu chi tiền đề ngày 13/7/2007, 17/7/2007, 23/7/2007, 25/7/2007, 28/7/2007 và ngày 12/8/2007 dưới mục người nhận tiền các phiếu chi ghi chữ “Hoa”, tại Kết luận giám định số 1217/C21 (P6) ngày 18/6/2008 và số 1921/C21 (P6) ngày 21/8/2008, Viện Khoa học hình sự Tổng cục Cảnh sát kết luận chữ ký dưới dạng chữ viết “Hoa” dưới mục “người nhận tiền” với chữ viết của bà Vũ Thị Hoa trên các tài liệu mẫu là do cùng một người viết ra.

Như vậy bản án sơ thẩm nhận định giữa bà Hoa, bà Mai xác lập quan hệ vay tiền chung và buộc bà Ngô Thị Tuyết Mai liên đới trả khoản nợ vay chung số tiền nợ gốc 5.062.320.000 đồng tại các phiếu chi đề ngày 13/7/2007, 17/7/2007, 23/7/2007, 25/7/2007 và ngày 28/7/2007 là chưa đảm bảo căn cứ.

Đồng thời trong sáu phiếu chi nêu trên, có 01 phiếu chi đề ngày 13/7/2007 tại mục “ do chi ghi “Đi 730.000NDT x 2.134 = 1.557.820.000”, không có nội dung thể hiện đây là khoản tiền cho vay. Ngoài phiếu chi ra bà Sáu cũng không có tài liệu nào để chứng minh khoản tiền 1.557.820.000đ là tiền cho vay, bản án sơ thẩm xác định số tiền tại phiếu chi này là khoản nợ chung buộc bà Hoa và bà Mai trả nợ là không có căn cứ.

-   Việc xác định thời hạn vay và lãi: Tại nội dung ghi âm do bà Sáu xuất trình có thể hiện “ ... 05 tháng... ” và “… lãi... ”, tuy nhiên trong các cuộc hội thoại không nói rõ thời hạn vay và lãi suất đối với khoản nào, bản án sơ thẩm tính khoản vay tại các phiếu chi nêu trên bao gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn là không có căn cứ. Do vậy cấp phúc thẩm xác định lại tổng số tiền nợ gốc bà Hoa phải trả cho bà Sáu là 4.204.500.000 đồng và xác định đây là khoản vay không thời hạn và không có lãi.

Về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ và trả lãi trậm trả: Ngày 07/4/2008 Tòa án quận Ba Đình, thành ph Hà Nội thụ lý yêu cầu của bà Sáu đối với bà Hoa theo nội dung đã xác lập tại 05 phiếu chi nêu trên, do đó căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 477 Bộ luật dân sự xác định: Ngày 07/4/2008 là thời điểm bà Hoa có nghĩa vụ trả nợ cho bà Sáu. Tuy nhiên kể từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ, bà Hoa không trả tiền cho bà Sáu nên bà Hoa phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự.

Về thời hạn chậm trả: Từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ ngày 07/4/2008 đến ngày xét xử sơ thẩm 23/3/2015, thời hạn chậm trả là 06 năm 11 tháng 17 ngày.

Về lãi chậm trả: Căn cứ Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi xuất cơ bản là 9%/năm, do vậy số tiền lãi chậm trả của số nợ gốc 4.204.500.000 đồng với thời gian trậm trả 06 năm 11 tháng 17 ngày là 2.634.925.592 đồng.

-      Việc xác định lãi khoản vay 400.000.000 đồng (khoản vay này ngày 24/9/2009 bà Hoa đã trả cho bà Sáu 60.000.000 đồng nợ gốc nên còn nợ 340.000.000 đồng): Đây là khoản vay có thời hạn, có thỏa thuận lãi, nhưng mức lãi suất 2,1%/tháng do các bên thỏa thuận vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm cho vay nên theo quy định bà Hoa chỉ phải trả lãi quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là 9%/năm, kể từ ngày 03/8/2007 đến ngày xét xử sơ thẩm, cụ thể: Từ ngày 03/8/2007 đến ngày 24/9/2009 là 02 năm 01 tháng 21 ngày, nợ gốc là 400.000.000 đồng, do đó lãi quá hạn là 77.071.000 đồng; Từ ngày 25/9/2009 đến ngày xét x sơ thẩm 23/3/2015 là 05 năm 05 tháng 27 ngày, nợ gốc là 340.000.000 đồng, do đó lãi quá hạn là 168.013.000 đồng, tổng số tiền lãi là 245.084.000 đồng. Bản án sơ thẩm xác định lãi quá hạn là 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước và buộc bà Hoa phải trả số tiền lãi 372.329.167 đồng là không đúng quy định tại khoản 5 Điều 474 của Bộ luật dân sự.

Với những vi phạm nêu trên bản án phúc thẩm số 46/2015/DS- PT ngày 27/11/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã xử sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 04/2015/DS-ST ngày 23/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn.

Quá trình kiểm sát giải quyết vụ án, Viện kiểm sát thành ph đã phân công kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ và tham gia phiên tòa, nhưng không phát hiện được vi phạm; Kiểm sát viên cấp tỉnh khi phối hợp kiểm sát bản án không phát hiện được vi pham, Kiểm sát viên Viện kiểm sát hai cấp cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Trên đây là vụ án bị cấp phúc thầm xét xử sa án, Phòng 9 - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn thông báo để các đơn vị cấp huyện, thành phố được biết và cùng rút kinh nghiệm chung trong công tác kiểm sát giải quyết án dân sự./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi