Rút kinh nghiệm về công tác KSĐT và KSXX qua một số vụ án hình sự bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy

Vừa qua Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đã xét xử theo thủ tục phúc thẩm một số vụ án hình sự. VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh thấy công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử của VKSND đối với các vụ án này có thiếu sót, cần thông báo để rút kinh nghiệm chung trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.

  1.    Nội dung các vụ án và quá trình giải quyết
  2.   Vụ án Bùi Thị Mỹ Dung, Trần Văn Đẳngphạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Theo án sơ thẩm, từ năm 2006 đến năm 2011 vợ chồng Bùi Thị Mỹ Dung và Trần Văn Đẳng tổ chức, làm chủ nhiều dây huê và đã kết thúc. Sau khi đã gây dựng được lòng tin, từ tháng 4/2011 đến đầu tháng 3/2012 vợ chồng Dung, Đẳng tiếp tục tổ chức, làm chủ thêm nhiều dây huê nữa. Những người chơi huê thỏa thuận với nhau bằng miệng, không lập danh sách các con huê trong dây huê, chủ huê không công khai nên con huê không biết trong dây gồm những ai và mỗi người chơi bao nhiêu phần. Khi xổ huê, ai bỏ thăm cao nhất là người được hốt huê, chủ huê có trách nhiệm đi thu tiền của con huê giao cho người hốt huê. Lợi dụng việc xổ huê không nhất thiết có mặt tất cả con huê, nếu ai có mặt thì bỏ tên mình và số tiền bthăm vào giấy đưa cho chủ huê (vợ chồng Dung, Đẳng), ai không đến thì gọi điện nhờ chủ huê bỏ giúp, nếu không gọi thì coi như không bỏ huê, nên vợ chồng Dung, Đẳng đã có hành vi gian dối, giả là con huê tự bỏ thăm huê để hốt các phần huê không phải của mình nhằm chiếm đoạt tiền của các con huê. CQĐT và VKSND kết luận số tiền các bị cáo chiếm đoạt bằng thủ đoạn nêu trên của 20 người trong 5 dây huê là 4.198.630.000đ, tại phiên tòa người bị hại bổ sung thêm chứng cứ, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận số tiền chiếm đoạt là 6.478.374.747đ, tăng 2.279.744.747đ.

Bản án hình sự sơ thẩm số áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139, điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53 BLHS, xử phạt các bị cáo Bùi Thị Mỹ Dung 16 năm tù và Trn Văn Đẳng 5 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bùi Thị Mỹ Dung và Trần Văn Đẳng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt (tại phiên tòa các bị cáo kháng cáo kêu oan); 14 bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đổi với 2 bị cáo; VKSND tỉnh kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Văn Đẳng từ 12 đến 14 năm tù.

Tại phiên tòa hình sự phúc thẩm ngày 27/3/2015, Hội đồng xét xử Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đã quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.

  1.    Vụ án Nguyễn Văn Đứcphạm tội "Giao cấu với trẻ em”

Theo án sơ thẩm, Nguyễn Văn Đức, sinh năm 1947 là Việt kiều, có 2 quốc tịch Pháp và Việt Nam, chủ doanh nghiệp Song Nguyễn kinh doanh sinh vật cảnh và trang trại sinh thái. Bà Vũ Ngọc Lan là công nhân, làm việc và ở lại trang trại của Đức nên vào ngày thứ 7 chủ nhật con bà Lan là Tống Vũ Khánh Hằng, sinh ngày 17/5/1998 thường vào chơi, đến tháng 11/2011 thì Hằng vào ở luôn trong trang trại với bà Lan. Theo lời khai của Hằng, từ đầu tháng 9/2013 Đức đã có hành vi quan hệ tình dục với Hằng, sau khi quan hệ với Đức một thời gian thì Hằng có kể cho chị gái cùng cha khác mẹ là Tống Ngọc Mai Uyên biết. Đến tháng 11/2013 thấy có biểu hiện khác thường nên Uyên đưa Hằng đi khám và phát hiện Hằng có thai. Ngày 26/11/2013 ông Tống Văn Hoàng là cha ruột và ĐTV Công an Bảo Lộc đưa Hằng tới Bệnh viện Từ Dũ phá thai và thu giữ mẫu thai nhi bàn giao cho Phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh tiến hành giám định. Kết luận giám định số 2451/C54B ngày 26/11/2013 của Phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh kết luận “Nguyễn Văn Đức là cha đẻ bào thai của Hằng. Sau đó Nguyễn Văn Đức yêu cầu giám định lại, Kết luận giám định số 216/GĐPY ngày 15/10/2014 của Viện Pháp y Quân đội kết luận “chất lng màu nâu đen đựng trong ống ghi 2452/LĐ máu, mô thai có ADN của ít nhất 02 người, không có mẫu thai nhi nên không đủ căn cứ kết luận yêu cầu giám định”. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thm, bị cáo Nguyễn Văn Đức luôn kêu oan, cho rằng không quan hệ tình dục với Tống Vũ Khánh Hằng, với lý do đã lớn tuổi, bị bệnh tiểu đường, liệt dương và mới mổ tim tháng 4/2013, không cổ khả năng quan hệ tình dục.

Bản án hình sự sơ thẩm áp dụng điểm d khoản 2 Điều 115, khoản 2 Điều 46 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đức 5 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em”. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/3/2015 bị cáo Đức kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa hình sự phúc thẩm ngày 26/5/2015, Hội đồng xét xử Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đã quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.

  1.       Những vấn đề cần rút kinh nghiệm
  2.         Đối với vụ án Bùi Thị Mỹ Dung, Trần Văn Đng

-    Về thủ đoạn phạm tội, cấp sơ thẩm kết luận các bị cáo lợi dụng việc xổ huê không nhất thiết có mặt tất cả những người tham gia dây huê, nếu vắng mặt có thể gọi điện nhờ chủ huê bỏ giúp, không gọi thì coi như không bỏ huê, nên đã có hành vi gian dối, giả là con huê tự bỏ thăm huê để hốt các phần huê không phải của mình. Tuy nhiên quá trình điều tra không làm rõ ở kỳ hốt huê nào các bị cáo đã giả danh ai và chiếm đoạt bao nhiêu tiền. Bị cáo không thừa nhận giả danh con huê để hốt huê, cấp sơ thẩm không xác minh làm rõ mà căn cứ vào lời khai của những người chơi huê về số tiền đã đóng huê và hốt huê, từ đó tìm ra số tiền chênh lệch để quy kết các bị cáo chiếm đoạt và kết luận các bị cáo giả danh con huê để hốt huê là có thiếu sót về thu thập chứng cứ.

-     Vsố tiền chiếm đoạt, việc chơi huê chỉ dựa vào lòng tin và thỏa thuận miệng giữa các bên, không có giấy tờ ghi nhận rõ ràng số lần đóng, số tiền đóng, những người tham gia đóng và hốt huê. Các bị cáo thừa nhận có nợ tiền của các con huê, có người thì bị cáo nhớ số tiền nợ, có người bị cáo không nhớ nợ bao nhiêu, có người bị cáo không thừa nhận nợ. Mặc dù đã cho tiến hành đối chất trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng các bị cáo và người bị hại vẫn khai khác nhau, số tiền các bị cáo thừa nhận nợ thấp hơn số tiền các bị hại khai rất nhiều, cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của những người chơi huê về số tiền đã đóng huê và hốt huê và căn cứ vào cuốn sổ được cho là sổ ghi huê, nhưng không thấy ghi số tiền thu chi, từ đó kết luận số tiền các bị cáo chiếm đoạt tiền của các con huê là có thiếu sót về thu thập chứng cứ.

Lẽ ra trong quá trình điều tra, để chứng minh thủ đoạn phạm tội và số tiền chiếm đoạt thì Cơ quan điều tra phải làm rõ và lập bảng kê từng dây huê có bao nhiêu con huê tham gia, số phần mỗi con huê tham gia, ký xổ huê, tên người hốt huê của từng làm xổ huê, trong lần hốt huê đó thì người hốt huê không nhận tin do bị giả đanh hoặc có nhận nhưng không đủ, số còn lại có phải ch huê nhận không, số tiền đó người hốt huê có biết và có ý kiến gì không. Các số liệu nêu trên phải chính xác, rõ ràng, có xác nhận của từng thành viên tham gia dây huê, làm cơ sở cho việc đấu tranh với các bị cáo, nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện, Viện kiểm sát cũng không có yêu cầu, do vậy chứng cứ để kết luận về thủ đoạn lừa đảo và quy kết số tiền các bị cáo chiếm đoạt là không rõ ràng, chưa đầy đủ và không có tính thuyết phục.

-     Bên cnh đó, Kết luận điều tra và Cáo trạng kết luận số tiền các bị cáo chiếm đoạt của 20 người trong 5 dây huê là 4.198.630.000đ, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm người bị hại bổ sung thêm một số tài liệu, căn cứ vào những tài liệu này và lời khai của người bị hại tại phiên tòa, Hội đồng xét xừ kết luận số tiền các bị cáo chiếm đoạt là 6.478.374.747đ, tăng 2.279.744.747đ so với truy tố của Viện kiểm sát. Việc xác định trách nhiệm hình sự nặng hơn cho các bị cáo trong khi chứng cứ người bị hại đưa ra chưa được xác minh làm rõ vì các bị cáo không thừa nhận là vi phạm thủ tục tố tụng về giới hạn xét xử, quy định tại Điều 196 BLTTHS.

Lẽ ra trong trường hợp này, khi phát sinh tình tiết mới, dẫn đến tăng nặng trách nhiệm hình sự nặng hơn của các bị cáo, trong khi các tình tiết này chưa được điều tra làm rõ thì Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phải đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trả hồ sơ điều tra bổ sung. Nếu Kiểm sát viên không thực hiện thì sau khi xét xử sơ thẩm VKSND tỉnh phải kháng nghị đề nghị hủy án, nhưng Kiểm sát viên và VKSND tỉnh không thực hiện là có thiếu sót.

  1.         Đối với vụ án Nguyễn Văn Đức

-    Vngười đại diện hợp pháp cho người bị hại, cấp sơ thẩm chấp nhận cho Tng Ngọc Mai Uyên là chị cùng cha khác mẹ của bị hại Tống Vũ Khánh Hằng là người giám hộ cho bị hại, theo ủy quyền của cha ruột là ông Tống Văn Hoàng. Trong khi mẹ ruột là bà Vũ Ngọc Lan mới là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hằng, có địa chỉ rõ ràng và đang có mặt tại địa phương. Khi đưa cháu Hằng đi phá thai, Cơ quan điều tra không hỏi ý kiến bà Lan, không có mặt bà Lan khi lấy lời khai cháu Hằng, cấp sơ thẩm không cho bà Vũ Ngọc Lan tham gia tố tụng với tư cách người giám hộ, đại diện hợp pháp của người bị hại là vi phạm thủ tục tố tụng. Mặc dù BLTTHS không quy định thế nào là người đại diện hợp pháp và người giám hộ, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật dân sự thì người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên là cha mẹ, đồng thời theo quy định tại Điều 61 Bộ luật dân sự thì người giám hộ đương nhiên cho người chưa thành niên trước hết phải là cha mẹ, nếu không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện châm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu thì mới tới anh chị. Trong trường hợp này ông Tống Văn Hoàng thần kinh không ổn định, không tham gia tố tụng với tư cách người giám hộ cho người bị hại được thì bà Vũ Ngọc Lan phải là người giám hộ, đại diện hợp pháp cho người bị hại mới đúng. Lẽ ra Viện kiểm sát phải yêu cầu Cơ quan điều tra cử bà Vũ Ngọc Lan là người giám hộ nhưng Viện kiểm sát không thực hiện là có thiếu sót.

-    Vchứng cứ, ngoài lời khai của bị hại Tống Vũ Khánh Hằng và lời khai của Tống Ngọc Mai Uyên về việc có nghe Hằng kể chuyện quan hệ tình dục với bị cáo Đức thì chứng cứ duy nhất được cấp sơ thẩm sừ dụng để quy kết Nguyễn Văn Đức phạm tội “giao cấu với trẻ em” là kết luận giám định đối với thai nhi của Tống Vũ Khánh Hằng. Tuy nhiên lời khai của Hằng và Uyên mâu thuẫn nhau, Hằng khai quan hệ từ năm 2008 đến 2013 nhưng Uyên khai nghe Hằng kể bắt đu quan hệ từ đầu năm 2013. Bên cạnh đó chứng cứ là kết quà giám định chưa bảo đảm vì khi thu giữ mẫu mô thai nhi của Tống Vũ Khánh Hằng tuy có lập biên bản, trong đó thể hiện “đã bàn giao mẫu vật thu giữ được niêm phong cho đ/c Thanh cán bộ Viện KHHS phía nam để tiến hành giám định” nhưng trong hồ sơ không thể hiện có biên bản niêm phong, mở niêm phong là trái với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 75 BLTTHS về thu thập và bảo quản vật chứng. Bên cạnh đó, mẫu giám định được đưa đi giám định 02 lần cho 02 kết quả khác nhau, tại bản Kết luận giám định số 2451/C54B ngày 23/12/2013 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP. Hồ Chí Minh kết luận: “Nguyễn Văn Đức là cha đẻ bào thai của cháu Hằng”; nhưng Kết luận giám định số 216/GĐPY ngày 15/10/2014 của Viện Pháp y Quân đội tại Hà Nội lại kết luận: “Chất lỏng màu nâu đen đựng trong ống ghi 2452/LĐ máu, mô thai có ADN của ít nhất 02 người, không có mẫu thai nhi nên không đủ căn cứ kết luận yêu cầu giám định”. Do khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội đung giám định, lẽ ra Viện kiểm sát phải yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám định lại lần thứ hai và do Hội đồng giám định khác thực hiện theo khoản 1 Điều 30 Luật Giám định tư pháp nhưng Viện kiểm sát không thực hiện là có thiếu sót.

-   Bị cáo khai bị bệnh tim, bệnh tiểu đường, bị liệt dương, không có khả năng sinh lý, nhiều lần yêu cầu đưa đi khám chuyên môn nhưng không được đáp ứng. Bị cáo khai ngày 20/4/2013 đi Pháp mổ tim, đến ngày 29/6/2013 về lại Việt Nam, có giấy tờ chứng minh. Trong khi bị hại khai bị cáo giao cấu vào tháng 9/2013, như vậy chỉ sau khi mổ tim 5 tháng. Cơ quan điều tra không cho bị cáo đi khám chuyên khoa, không hỏi ý kiến các cơ quan chuyên môn để làm rõ bị cáo 68 tuổi, bị tiểu đường, vừa mới mồ tim 5 tháng thì có khả năng quan hệ tình dục liên tục (ngày 2 lần như bị hại khai) hay không, Viện kiểm sát cũng không yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện là có thiếu sót.

-   Bà Vũ Ngọc Lan là mẹ của Tống Vũ Khánh Hằng khai Hằng có nhiều mối quan hệ phức tạp, thường xuyên bỏ nhà đi theo bạn trai. Bà Lan khẳng định ông Đức không quan hệ tình dục với Hằng nhưng Hằng do bị người khác xúi giục mà vu oan cho ông Đức. Bà Lan trình bày trong bản tường trình ngày 12/12/2013 là Uyên và Hằng ép bà Lan phải theo và thưa (tố cáo) ông Đức, nếu không sẽ tố cáo bà tội đồng lõa. Tuy nhiên Cơ quan điều tra không đi sâu làm rõ những tình tiết này, Viện kiểm sát cũng không yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện là có thiếu sót.

-   Bị hại Tống Vũ Khánh Hằng thừa nhận vào năm 2012 nhiều lần quan hệ tình dục với bạn trai là Trn Ngọc Long, phù hợp với lời khai mẹ bị hại là bà Vũ Ngọc Lan. Nhưng cấp sơ thẩm không làm rõ đối tượng này là ai, có quan hệ tình dục với bị hại không, quan hệ vào thời gian nào là thiếu sót, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội “giao cấu với trẻ em”.

Những thiếu sót của cấp sơ thẩm trong 2 vụ án nêu trên có phần trách nhiệm của VKS trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét x các vụ án này, đã không phát hiện những vi phạm về thủ tục tố tụng và thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ để yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện đúng quy định của BLTTHS, dẫn đến chưa đủ căn cứ buộc tội, phải hủy án điều tra, xét xử lại.

Trên đây là những vấn đề cần rút kinh nghiệm qua 2 vụ cấp phúc thẩm hủy án, VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh xin thông báo để các đơn vị nghiên cứu rút kinh nghiệm chung, tránh để xảy ra những thiếu sót tương tự./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi