Rút kinh nghiệm nghiệp vụ kiểm sát thi hành án dân sự

Thông qua hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự, một số VKSND tỉnh, thành ph trực thuộc Trung ương đã phát hiện ra vi phạm của Cơ quan thi hành án dân sự (sau đây viết tt là Cơ quan THADS) trong việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, trong đó có biện pháp “Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng v tài sn (Điu 66 và 69 Luật Thi hành án dân sự 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014). Viện kim sát đã ban hành kháng nghị và đã được cơ quan THADS chấp nhận. Vụ kiểm sát thi hành án dân sự Viện KSNDTC (Vụ 11) thấy cần tập hp, thông báo rút kinh nghiệm v vn đ nêu trên để các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham khảo, rút kinh nghiệm; cụ thể như sau:

  1.      Nội dung vụ việc và quá trình giải quyết

1.1Nội dung vụ việc

Vợ chồng ông Nguyễn Văn Thêm và bà Nguyễn Thị Tuyết Nga có diện tích đất và tài sản trên đất được y ban nhân dân huyện S. tỉnh K.T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00590 cấp ngày 31/7/2001 và Giấy chứng nhận số Q232899 cấp ngày 25/10/1999. Do có nhu cầu vay vốn làm ăn, ông Thêm, bà Nga đã thế chấp toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất nói trên cho Ngân hàng NN và PTNT huyện S. để vay 700 triệu đồng. Đến hạn thanh toán nợ nhưng anh chị Thêm, Nga không có tiền trả cho ngân hàng, do vậy ngày 29/5/2015, vợ chồng ông Thêm, bà Nga thỏa thuận chuyển nhượng đất và tài sản trên đất nói trên cho bà Nguyễn Thị Bích. Bà Bích có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ của vợ chồng ông bà Thêm, Nga với ngân hàng (gồm khoản nợ gốc và tiền lãi) và thanh toán 01 khoản nợ cho một người được thi hành án khác. Bà Bích đã thực hiện xong tất cả các nghĩa vụ nói trên và đã hoàn tất hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nộp lên Phòng tài nguyên, môi trường, y ban nhân dân huyện S. vào ngày 24/6/2015.

Cùng ngày 24/6/2015, Tòa án nhân dân huyện S. tỉnh K.T ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 04/2015/QĐST-DS, nội dung công nhận các bị đơn (ông Nguyễn Văn Thêm và bà Nguyễn Thị Tuyết Nga) tự nguyện trả số tin 400 triệu đng cho nguyên đơn (bà Hoàng Thị Mai) theo thời gian ấn định vào ngày 30/6/2015. Cùng ngày 24/6/2015, bà Hoàng Thị Mai có đơn yêu cầu thi hành án và đơn yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm “Tạm dừng việc đăng ký, chuyn quyn sở hữu, sử dụng, thay đi hiện trạng tài sản” đi với tài sản của ông Thêm, bà Nga và gửi đến Chi cục thi hành án dân sự (THADS) huyện S.

1.2Quá trình giải quyết

Ngày 24/6/2015, Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện S. đã ban hành Quyết định thi hành án số 181/QĐ/CCTHA và Quyết định số 123/QĐ-CCTHA về “tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản” đối với tài sản của ông Thêm, bà Nga, gửi đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện S. cũng như các cơ quan có liên quan. Tài sản bị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án là diện tích đất và tài sản gắn liền với đất tại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00590 do UBND huyện S. cấp ngày 31/7/2001 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q232899 cấp ngày 25/10/1999.

Xét thấy việc Cơ quan THADS ban hành các quyết định về thi hành án nói trên là vi phạm pháp luật nên ngày 01/7/2015, Viện kiểm sát nhân dân huyện S. đã ban hành Kháng nghị số 139/KN-KSTHADS yêu cầu hủy 02 quyết định nói trên và được Chi cục THADS huyện S. chấp nhận và thực hiện theo đúng yêu cầu của VKS.

Tuy nhiên, sau khi đã ban hành quyết định để hủy các quyết định về thi hành án bị VKSND huyện S. kháng nghị thì cùng ngày 6/7/2015, Chi cục THADS huyện S. lại ban hành Quyết định số 191 thi hành án theo đơn yêu cầu và ban hành Quyết định số 132 tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản với số tài sản ca ông Thêm, bà Nga đã bị áp dụng biện pháp bảo đảm vừa bị hủy trước đó. Nhận thấy việc ban hành Quyết định số 132 về tiếp tục áp dụng biện pháp bảo đảm nêu trên là vi phạm pháp luật nên ngày 08/7/2015, Viện kim sát nhân dân huyện S. tiếp tục có Kháng nghị số 146/KN-KSTHADS yêu cầu Chi cục THADS huyện S. hủy bỏ Quyết định số 132 nói trên. Ngoài ra, tại địa phương cũng có quan điểm khác nhau về thẩm quyền khiếu nại của bà Nguyễn Thị Bích. Do có quan điểm khác nhau tại địa phương giữa VKSND tỉnh K.T với Cục THADS tỉnh nên ngày 03/9/2015, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã có công văn thỉnh thị xin ý kiến của Vụ 11. Ngày 15/9/2015, Tổng cục THADS Bộ Tư pháp đã tổ chức cuộc họp liên ngành về việc thi hành án dân sự nêu trên, có sự tham gia của đại diện Vụ 11. Tại cuộc họp, trên cơ sở quan điểm của VKSNDTC bo vệ quan điểm kháng nghị của VKSND huyện S. tỉnh K.T nên sau cuộc họp, Tổng Cục THADS đã ban hành thông báo kết luận cuộc họp liên ngành, theo hướng chấp thuận quan điểm của VKSND thể hiện qua hai bản kháng nghị.

  1.      Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Trên cơ sở quyết định của Tòa án nhân dân huyện S. công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (nguyên đơn bà Hoàng Thị Mai và bị đơn là vợ chồng ông Thêm, bà Nga) và đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (bà Mai), Cơ quan THADS huyện S. đã ban hành Quyết định thi hành án số 181 (24/6/2015) đúng quy định của pháp luật. Việc VKSND huyện S. ban hành kháng ngh để yêu cầu hủy quyết định thi hành án này là không có căn cứ.

Trong quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên đã ban hành Quyết định số 123 ngày 24/6/2015 (đã hủy) và sau đó ban hành tiếp Quyết đnh số 132 ngày 06/7/2015 về việc áp dụng biện pháp bảo đảm “Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản” đối với tài sản là diện tích đất và tài sản gắn liền với đất tuy vẫn mang tên hộ vợ chồng ông Thêm, bà Nga; nhưng trong thực tế, số tài sản này đã được ông Thêm, bà Nga thế chấp hợp pháp cho Ngân hàng NN và PTNT chi nhánh huyện S. Khi đến hạn thanh toán nợ, ông Thêm, bà Nga đã chuyển nhượng hp pháp số tài sản trên cho bà Bích để bà Bích nộp đủ số tiền cho Ngân hàng thay cho ông Thêm, bà Nga. Các giao dịch nói trên hợp pháp, thực hiện trước khi có quyết định của Tòa án công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự. Vì vậy không có cơ sở để khẳng định đương sự tẩu tán tài sản và trốn tránh nghĩa vụ thi hành án để có thể áp dụng biện pháp bảo đảm theo quy định tại các Điều 66 và 69 Luật THADS 2008. Do vậy việc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị yêu cầu hủy hai quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án (số 123 ngày 24/6/2015 và số 132 ngày 06/7/2015) nêu trên là có căn cứ pháp luật.

Đối với quyền khiếu nại của bà Nguyễn Thị Bích, trong việc thi hành án này, bà Bích là “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”; do vậy Quyết định thi hành án của Chi cục THADS huyện S. không liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bà, do vậy bà Bích không có quyền khiếu nại quyết định thi hành án; tuy vậy, quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản” của Cơ quan THADS có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bà Bích, do vậy bà Bích có quyền khiếu nại đối với quyết định này, theo quy định tại khoản 1 Điều 140 Luật THADS 2008. Cơ quan THADS phải có trách nhiệm giải quyết khiếu nại của bà Bích theo quy định của pháp luật.

Trên đây là một số vấn đề rút kinh nghiệm nghiệp vụ kiểm sát thi hành án dân sự, Vụ 11 thông báo để các đơn vị nghiên cứu, tham khảo vận dụng.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi