Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình một số vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Thông qua công tác kim sát các bản án, công tác xét xử phúc thẩm các vụ án dân sự, phòng kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự - hành chính VKSND tỉnh Ninh Bình thông báo rút kinh nghiệm một số vụ án Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết có vi phạm trong việc tính án phí dân sự sơ thẩm không đúng quy định của pháp luật để các đơn vị nghiên cứu rút kinh nghiệm chung, cụ thể:

  1.        Vụ thứ nhất: vụ “tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn ông Phạm Văn Thiệu - bị đơn ông Phạm Văn Bình.
  •          Nội dung vụ án, quyết định giải quyết của bản án sơ thẩm:

Ông Phạm Văn Thiệu được y ban nhân dân huyện ô giao quyền sử dụng diện tích 200m2 đất và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Thiệu.

Theo ông Thiệu sau khi được giao đất, do chưa có nhu cầu sử dụng nên ông Thiệu cho ông Phạm Văn Bình (là anh trai ông Thiệu) mượn để bán cát và đốt vôi làm nghề sinh sống. Việc mượn đất hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng, không lập thành văn bản. Trong quá trình sử dụng đất gia đình ông Bình đã tôn tạo và xây dựng nhà, các công trình phụ trên đất để sinh hoạt. Năm 2009, ông Thiệu đã làm thủ tục chuyển nhượng cho anh Đương (con trai của ông Bình) diện tích 76 m2 đất, còn lại 124m2 gia đình ông Bình vẫn sử dụng. Năm 2013, vợ chồng ông Thiệu đến y ban xã để làm thủ tục hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích 124m2 đất còn lại cho anh Phạm n Dương (cũng là con trai ông Bình). Khi thực hiện hợp đồng, ông Thiệu phát hiện trong bản hợp đồng anh Dương ghi nội dung chuyển nhượng không đúng thực tế, nên ông Thiệu đã yêu cầu y ban nhân dân xã dừng lại thủ tục, không xác nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Dương nữa. Năm 2014, ông Thiệu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Bình tr lại diện tích 124m2 đất cho ông và ông sẽ thanh toán lại giá trị tài sản gia đình ông Bình đã xây dựng trên diện tích đt thuộc quyền sử dụng của ông.

Ông Bình xác nhận nguồn gốc thửa đất trên là do cụ Phạm Văn Ước (bố đẻ của ông Bình, ông Thiệu) làm thủ tục xin giao đt cho ông Thiệu, giy chứng nhận quyn sử dụng đất mang tên ông Thiệu là đúng. Sau khi ông Thiệu được giao đất, ông Bình, ông Thiệu và anh em trong gia đình đã thỏa thuận trao đi quyn sử dụng đt (việc đổi đất chỉ thỏa thuận thống nhất bằng miệng, không lập thành văn bản). Sau khi thống nhất đổi đất, vợ chồng ông và các con cùa ông là vợ chồng anh Dương, chị Quyên đã vượt lập, xây dựng nhà ở và các công trình phụ trên đất của ông Thiệu. Nay ông Thiệu khởi kiện, ông không đồng ý trả lại đất cho ông Thiệu với lý do ông Thiệu đã thỏa thuận đổi đất cho ông từ năm 1991.

Bản án sơ thẩm nhận định: diện tích 124m2 tranh chấp thuộc quyền sử dụng hp pháp của ông Thiệu; việc ông Bình khai ông Thiệu đã chuyển đổi quyền sử dụng đất cho ông Bình là không có cơ sở; diện tích 124m2 đất là của ông Thiệu cho ông Bình mượn. Do đó bản án quyết định chấp nhận đơn khởi kiện của ông Thiệu, buộc ông Bình phải trả lại cho ông Thiệu 124 m2 đất. Về án phí dân sự sơ thẩm, bản án sơ thẩm buộc ông Bình phải nộp 6.848.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, tính trên trị giá quyền sử dụng diện tích 124m2 đất mà Tòa án buộc ông Bình phải trả lại cho Thiệu do yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất của ông Thiệu có căn cứ, được Tòa án chấp nhận.

  1.       Vụ thứ hai: vụ “tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn bà Trần Thị Nhài vi bị đơn anh Đinh Xuân Phúc:

Năm 1993, bà Nhài được giao 635m2 đất nông nghiệp, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất này có vị trí cạnh diện tích đất thổ cư của bà Nhài và vợ chồng anh Phúc (là con trai bà Nhài) đang sử dụng. Sau khi được giao đất, giữa vợ chồng anh Phúc và bà Nhài có thỏa thuận chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp cho nhau, vợ chồng anh Phúc sử dụng diện tích đất bà Nhài được giao (635m2 đất) để trồng cói, còn bà Nhài cấy mộng của vợ chồng anh Phúc được giao ở ngoài đồng; việc chuyển đổi hai bên ch thỏa thuận bằng miệng, không lập văn bản và không thực hiện thủ tục chuyển đổi theo quy định của pháp luật. Năm 2013, thực hiện việc dồn điền đổi thửa, diện tích 635m2 đất nông nghiệp bà Nhài được giao nằm trong khu dân cư nên được tiếp tục sử dụng, vì vậy bà Nhài có nhu cu chia diện tích đt nông nghiệp đó cho các con, bà đã yêu cầu vợ chồng anh Phúc trả lại quyền sử dụng 635m2 đất cho bà và bà Nhài trả lại diện tích đất ruộng ngoài đồng cho vợ chồng anh Phúc, nhưng vợ chồng anh Phúc không chấp nhận. Ngày 25/3/2015, bà Nhài khi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh Phúc trả lại diện tích đất nông nghiệp trên cho bà.

Bản án sơ thẩm nhận định: nội dung giải quyết trong vụ án chỉ là yêu cầu của bà Nhài đòi lại đất đối với vợ chồng anh Phúc” và quyết định chấp nhận yêu cầu đòi quyền sử dụng đất cùa bà Nhài; buộc vợ chồng anh Phúc phải trả lại cho bà Nhài 635m2 đất nông nghiệp. Về án phí dân sự sơ thẩm, buộc vợ chồng anh Phúc phải nộp 2.381.000 đồng.

  •          Vi phạm của 2 bàn án sơ thẩm nêu trên:

Căn cứ nội dung của 2 vụ án nêu trên thấy rằng: Bản chất của cả 2 vụ án theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất. Căn cứ nội dung khởi kiện, nhận định và quyết định của 2 bản án thì đây là quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất. Đối chiếu quy định của pháp luật về án phí, lệ phí thì việc 2 bản án sơ thẩm nêu trên buộc các đương sự là bị đơn trong vụ án phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trên trị giá quyền sử dụng diện tích đất mà Tòa án buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn. Cụ thể trong vụ án thứ nhất, buộc ông Bình phải nộp 6.848.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, tính trên trị giá quyền sử dụng diện tích 124m2 đất mà Tòa án buộc ông Bình phải tr lại cho Thiệu do yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sừ dụng đất của ông Thiệu có căn cứ. Trong vụ án thứ hai, buộc vợ chồng anh Phúc phải nộp 2.381.000 đồng án phí dân sự sơ thm có giá ngạch, tính trên trị giá quyn s dụng diện tích 635m2 đt nông nghiệp mà Tòa án buộc vợ chồng anh Phúc phải trả lại cho bà Nhài do yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sừ dụng đất của bà Nhài có căn cứ, được Tòa án chấp nhận. Điều này là trái với quy định tại Điều 27 khoản 2 pháp lệnh s 10 ngày 27/02/2009 của UBTVQH khóa 12 v án phí, lệ phí của Tòa án và Điều 17 khoản 1 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một s quy định của pháp luật về án phí, lệ phí của Tòa án. Bởi lẽ: Theo Điều 17 khoản 1 Nghị quyết quy định: “đối với tranh chấp về đòi tài sản cho mượn, cho ở nhờ thì đương sự phải chu án phí dân s sơ thẩm như đi với trường hợp v án dân sư không có giá ngạch. Trường hợp ngoài tranh chấp về đòi tài sản cho mượn, cho ở nhờ, đương sự còn có tranh chấp về bồi thường thiệt hại và yêu cầu Tòa án giải quyết thì đương sự phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch đi với tranh chấp về đòi tài sản cho mượn, cho nhờ và án phí có giá ngạch đối với yêu cầu thường thiệt hại.”

Căn cứ quy đnh trên, trong 2 vụ án trên yêu cầu của các nguyên đơn đòi tài sản là quyn sử dụng đt được Tòa án chp nhận, thì các bị đơn chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 200.000 đồng.

Thông qua kiểm sát bản án, Viện kiểm sát 2 cấp đã ban hành 2 quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thm, đ nghị Tòa án tỉnh xét x phúc thm vụ án, theo hướng sửa một phần quyết định của 2 bản án dân sự sơ thẩm nêu trên về án phí dân s sơ thm.

Bản án phúc thẩm đã xét xử chấp nhận 2/2 kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm theo nội dung Viện kiểm sát kháng nghị.

Những vn đ cần rút kinh nghiệm thông qua các v án nêu trên:

Nghị quyêt s 01/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một s quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án do Hội đồng thẩm phán TANDTC ban hành ngày 13/6/2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2012, trong đó có hướng dẫn chi tiết về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm của một số trường hợp, loại việc cụ thể mà trong BLTTDS và Pháp lệnh chưa quy định hoặc quy định chưa cụ thể. Nhưng khi giải quyết các vụ án nêu trên, một số Thẩm phán đã không nghiên cứu, áp dụng Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP để xác định đúng nghĩa vụ nộp án phí của các đương sự. Do đó, khi kiểm sát các bản án, quyết định giải quyết của Tòa án, để xác định việc Tòa án quyết định nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm của các đương sự trong vụ án có đúng quy định không thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật tại Điều 131 BLTTDS; pháp lệnh án phí lệ phí của Tòa án và Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đng thẩm phán TANDTC, để đối chiếu, áp dụng vào từng vấn đề giải quyết cụ thể của Tòa án.

Phòng kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự - hành chính tổng hợp thông báo để Viện kiểm sát các huyện, thành phố cùng nghiên cứu rút kinh nghiệm chung./.

 

 


 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi