Một số tài liệu nghiên cứu về tội phạm học

PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC MÔN TỘI PHẠM HỌC

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


I. NHẬN ĐỊNH CHUNG

Những năm vừa qua, tại ĐH Luật TP.HCM, môn Tội phạm học là một nội dung đào tạo được thiết kế trong chương trình đào tạo bậc cử nhân. Tội phạm học là môn học chung mang tính bắt buộc đối với cả hai loại hình đào tạo: hệ chính qui và hệ vừa học vừa làm. Những kiến thức cơ bản tích lũy được từ môn học này được coi là rất quan trọng và cần thiết đối với một cử nhân luật khi ra trường. Thời lượng của môn học trên lớp là 60 tiết (4 đơn vị học trình) đối với các lớp chính qui chuyên ngành Hình sự và 45 tiết (3 ĐVHT) với các lớp không chuyên và hệ vừa học vừa làm; song hiện nay số giờ trên lớp của cả hai hệ đào tạo đều được qui định như nhau là 45 tiết (3 ĐVHT) và không bố trí giờ thảo luận như đối với các môn học khác.

Từ thực tiễn của hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Tội phạm học tại ĐH Luật TP.HCM suốt thời gian vừa qua, chúng tôi nhận thấy nổi lên một số vấn đề sau cần được quan tâm, nghiên cứu và giải quyết triệt để:

- Thứ nhất, nội dung chương trình của môn học có nhiều điểm còn chưa phù hợp với yêu cầu của người học, chưa đáp ứng được một cách hiệu quả hoạt động thực tiễn hiện nay.

- Thứ hai, phương pháp giảng dạy Tội phạm học trong nhà trường vẫn chưa kết hợp được giữa phương pháp truyền thống với những phương pháp hiện đại có sự ứng dụng của công nghệ thông tin nên hiệu quả truyền tải kiến thức chưa cao, thậm chí dễ gây ra sự đơn điệu, kém hứng thú của người học đối với một bộ môn mà thời lượng của những kiến thức lý luận thường chiếm một tỷ trọng lớn xuyên suốt chương trình.

- Thứ ba, do người học chưa nhận thấy được hết những hiệu quả có tính ứng dụng của môn học vào hoạt động thực tiễn nên ít đầu tư cho việc nghiên cứu, tìm tòi và vận dụng kiến thức môn học vào từng hoạt động cụ thể của đời sống xã hội (nhất là đối với hoạt động bảo vệ pháp luật). Điều này được chúng tôi nhìn nhận như một hệ quả tất yếu của hai vấn đề đã được trình bày ở trên. Nó không kích thích được sự chủ động sáng tạo của người học trong quá trình học tập mà ngược lại dễ tạo ra sự thụ động, kém hứng thú dẫn đến một thực tế là yêu cầu của môn học không đạt được một cách tối ưu, một bộ phận người học còn xác định chưa đúng mục đích học tập đối với môn học, cho rằng đây chỉ là một môn bổ trợ, học để biết với tinh thần là “cưỡi ngựa xem hoa” và thậm chí là học chỉ để thi qua.

- Thứ tư, trong thực tế hiện nay chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động nghiên cứu lý luận của Tội phạm học với việc triển khai các biện pháp đấu tranh phòng chống tình hình tội phạm trong đời sống xã hội. Nhiều vấn đề lý luận mang tính then chốt của Tội phạm học (như tình hình tội phạm (THTP), nguyên nhân và điều kiện (NN&ĐK) của THTP, nhân thân người phạm tội, phòng ngừa và dự báo THTP) chưa thực sự được triển khai, kiểm tra và đánh giá bằng những hoạt động từ thực tiễn. Nhiều công trình, đề tài nghiên cứu còn nặng lý luận chung chung, xa rời thực tiễn chưa mang tính khả thi và khó có thể triển khai, ứng dụng trong thực tế để có thể phát huy được tính hiệu quả. Chúng tôi nhận thấy rõ ràng là chưa hề có sự bổ sung cho nhau giữa lý luận và thực tiễn, giữa các trung tâm nghiên cứu và giảng dạy Tội phạm học với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể là những chủ thể quan trọng của hoạt động đấu tranh phòng chống THTP trong toàn xã hội. Sự khu biệt hóa về mặt thực tế này đang là một trở ngại lớn đặt ra đối với sự phát triển của Tội phạm học Việt Nam nói chung và và hoạt động giảng dạy, học tập môn Tội phạm học trong Trường ĐH Luật TP.HCM nói riêng.

Từ các vấn đề nêu trên, chúng tôi sẽ phân tích và làm rõ từng nội dung một cách cụ thể để qua đó phần nào thấy được thực trạng của việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn Tội phạm học trong nhà trường thời gian vừa qua. Đây cũng chính là cơ sở của việc dạy và học môn Tội phạm học tại ĐH Luật TP.HCM trong tình hình hiện nay.

II. PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC MÔN TỘI PHẠM HỌC TẠI ĐH LUẬT TP.HCM THỜI GIAN VỪA QUA

1. Nội dung chương trình môn học

Tội phạm học là một ngành khoa học pháp lý – xã hội học nghiên cứu nguồn gốc, bản chất và các hình thức biểu hiện của THTP, NN& ĐK của THTP, nhân thân người phạm tội và các biện pháp, phương pháp phòng ngừa và dự báo THTP trong toàn xã hội. Các nhà nghiên cứu Tội phạm học ở Việt Nam cũng như trên thế giới đều có chung một quan điểm khi cho rằng đây là một ngành khoa học mang tính lý luận chung, làm cơ sở cho việc ứng dụng vào các lĩnh vực khoa học và thực tiễn của luật hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, điều tra hình sự, thống kê hình sự, tâm lý học tội phạm, tâm lý học tư pháp (GS.TS Đào Trí Úc – Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật). Phải khẳng định rằng Tội phạm học mang tính ứng dụng rất cao bởi vì những lập luận và kiến giải của nó chính là cơ sở quan trọng để các cơ quan bảo vệ pháp luật như các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án và các cơ quan quản lý khác trong hoạt động thực tiễn của mình có thể tiến hành nhiều biện pháp hiệu quả để kiểm soát và loại trừ THTP ra khỏi đời sống xã hội. Tuy nhiên cho đến nay, dường như hiệu quả ứng dụng của ngành khoa học này vẫn chưa phát huy được một cách tốt nhất nhằm hoàn thiện, kiểm chứng và đánh giá lại những vấn đề lý luận thông qua hoạt động thực tiễn. Điều này, theo chúng tôi, có một lý do quan trọng là xuất phát từ kết cấu nội dung chương trình môn học đang được giảng dạy trong các trường đào tạo luật nói chung và tại ĐH Luật TP.HCM nói riêng.

Với tư cách là một khoa học pháp lý – xã hội học, Tội phạm học có đối tượng nghiên cứu riêng, khác với các khoa học pháp lý khác. Các nội dung nghiên cứu cơ bản của Tội phạm học hiện nay bao gồm:

- Những vấn đề chung của Tội phạm học về THTP, nguyên nhân và điều kiện của THTP, NN&ĐK của tội phạm cụ thể, nhân thân người phạm tội, các biện pháp dự báo và phòng ngừa THTP.

- Đấu tranh phòng chống một số nhóm tội phạm phổ biến trong tình hình hiện nay như các tội phạm về ma tuý, các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, nhóm tội phạm về tham nhũng.

- Các phương pháp nghiên cứu của Tội phạm học.

- Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đấu tranh với tội phạm ở các quốc gia khác nhau trên thế giới (Tội phạm học so sánh)

- Sự ra đời và phát triển của Tội phạm học trong lịch sử (hệ thống các quan điểm, trường phái Tội phạm học trên thế giơi).

- Nghiên cứu về Nạn nhân học.

- Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

Trong các vấn đề trên, những vấn đề lý luận chung của Tội phạm học và việc nghiên cứu lịch sử phát triển của Tội phạm học trước đây được thiết kế trong chương trình đào tạo đối với hệ chính qui, chuyên ngành Hình sự (4 ĐVHT tương đương 60 tiết giảng); nội dung đấu tranh phòng chống một số nhóm tội phạm được thiết kế trong chương trình tự chọn và hiện vẫn đang được thực hiện tại Khoa Luật Hình sự. Hiện nay, đối với cả hai loại hình đào tạo, môn Tội phạm học chỉ còn đựoc giảng dạy về những vấn đề lý luận chung (bắt buộc) với thời lượng là 3 ĐVHT không bố trí giờ thảo luận. Các nội dung khác như phương pháp nghiên cứu Tội phạm học, Tội phạm học so sánh, Nạn nhân học đều được đưa vào giảng dạy ở bậc cao học. Nhìn vào kết cấu nội dung chương trình như trên thì những vấn đề lý luận chung là nội dung mang tính chủ động của chương trình môn Tội phạm học hiện đang được giảng dạy ở ĐH Luật TP.HC. Sẽ không trở thành vấn đề để tranh luận nếu như các nội dung lý luận chung của Tội phạm học được kết hợp một cách sinh động và phù hợp trong thực tiễn của hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm. Chúng tôi muốn nhấn mạnh một vấn đề ở đây là sự chuyển tải nội dung của lý luận này vào từng hoạt động cụ thể như đánh giá, khảo sát các thông số của tình hình tội phạm, phân tích, nghiên cứu và thống kê thực tế đối với các chỉ số của THTP tại một địa bàn cụ thể, áp dụng việc nghiên cứu NN&ĐK của tội phạm cụ thể vào việc phân tích đánh giá cá biệt đối với từng hành vi phạm tội cụ thể đã xảy ra trong thực tế để có thể kiểu hóa chúng (phân loại, xây dựng mô hình khái quát) đồng thời rút ra những kiến giải phù hợp cho việc phòng chống những hành vi cùng loại. Những hoạt động như vậy hiện còn rất nhiều hạn chế và chưa phát huy được hiệu quả ứng dụng từ việc nghiên cứu lý luận Tội phạm học. Những hạn chế này có thể nhận thức từ một số nguyên nhân sau đây:

- Thứ nhất, với một khối lượng kiến thức rất lớn mà yêu cầu của môn học đòi hỏi phải cung cấp cho người học thì thời lượng lên lớp lại bị giới hạn đáng kể. Điều này dẫn đến một hệ quả là thời gian lên lớp chỉ vừa đủ cho việc cung cấp những kiến thức mang tính cô đọng nhất, khái quát nhất mà không thể triển khai kịp thời những liên hệ mở rộng từ thực tiễn để minh họa sinh động cho bài giảng của giáo viên đứng lớp. Người dạy do đó vẫn chỉ thiên về việc “chạy đuổi” cho kịp nội dung chương trình, cung cấp đầy đủ lượng kiến thức cơ bản cho kịp thời gian lên lớp. Như vậy chìa khóa của vấn đề là trang bị tư duy nghiên cứu cho người học chưa được thể hiện rõ nét hoặc thậm chí bị bỏ quên trong suốt thời gian lên lớp. Người học vẫn tha hồ nhặt cá” do giáo viên mang cho trong trạng thái bị động mà cốt lõi của vấn đề là “chiếc cần câu” thì dường như cứ lẩn khuất ở đâu đó xa lắm.

- Thứ hai, nguồn cơ sở thông tin dữ liệu về tội phạm, THTP và việc triển khai cụ thể biện pháp phòng ngừa, dự báo, lập kế hoạch đấu tranh với THTP trên thực tế không được cập nhật đầy đủ trong nội dung bài giảng của giáo viên đứng lớp. Dĩ nhiên, trong thực tế, để có được những thông tin phong phú sinh động đáp ứng hiệu quả cho nội dung giảng dạy trên lớp hiện vẫn là một vấn đề không hề đơn giản vì chúng ta vẫn chưa có được một qui định thống nhất đối với hoạt động thống kê tội phạm của các ban ngành chức năng (CQĐT, TA, VKS). Hơn nữa việc tiếp cận đầy đủ với lượng thông tin này cũng còn gặp rất nhiều khó khăn. Điều này dẫn đến tình trạng “ dạy chay” hoặc giả với một lượng thông tin vừa hạn chế lại vừa “xơ cứng” mà phần nhiều là đã lạc hậu được trình bầy rất khái quát trong giáo trình của ĐH Luật Hà Nội và Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội.

Với những yếu tố rút ra từ thực tiễn của cấu trúc nội dung chương trình môn học như trên, có thể đi đến nhận định chung là nó chưa đáp ứng được sự mong đợi của người học hiện nay cũng như yêu cầu từ thực tiễn của đời sống xã hội. Người học rất cần được chỉ dẫn về những công việc cụ thể mà họ sẽ phải tiến hành trong thực tế hoặc cần được bổ sung về lý luận đối với những công việc hàng ngày mà họ phải giải quyết (đối với sinh viên hệ vừa học vừa làm) nhưng khối kiến thức cơ bản trên lớp vẫn còn chung chung, khá trừu tượng và thậm chí được coi là “kinh viện, hàn lâm” đối với nhận thức chung của đa số đối tượng học viên. Qua khảo sát thực tế của chúng tôi thì hiện nay đa số người học đều cho rằng Tội phạm học là một môn học rất quan trọng và hữu ích nhưng lại tỏ ra lúng túng trong việc áp dụng những kiến thức đã học để giải quyết những tình huống đặt ra từ thực tế. Khảo sát tại một số lớp học cho thấy có tới 86% ý kiến của học viên cho rằng cần thiết phải tăng thêm phần nội dung mang tính ứng dụng cụ thể của Tội phạm học trong nhà trường hiện nay.

2. Phương pháp dạy môn Tội phạm học trong tình hình hiện nay

Cơ cấu nội dung chương trình môn học kết hợp với một số yếu tố khác như: việc xác định đối tượng giảng dạy, phương tiện học tập, các trang thiết bị, cơ sở vật chất, thời lượng môn học được qui định trên lớp, hệ thống tài liệu tham khảo của môn Tội phạm học – là những điều kiện tiên quyết đối với việc sử dụng phương pháp giảng dạy, truyền đạt của giảng viên. Trong thời gian qua, chúng tôi đã có những đánh giá, nhận định cụ thể về một số yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp giảng dạy Tội phạm học như sau:

- Đối tượng giảng dạy là sinh viên từ hai hệ đào tạo có những đặc điểm khác nhau khá cơ bản. Đối với sinh viên chính qui, do mới rời khỏi bậc PTTH nên họ vẫn còn khá quen thuộc với phương pháp truyền thống (thuyết giảng, độc thoại). Ở nhóm đối tượng này cũng có sự thích nghi khá nhanh chóng với những phương pháp mới được sự dụng giảng dạy ở bậc đại học (thảo luận, đối thoại, hướng dẫn thực hành, tình huống). Tuy nhiên đối với học viên hệ vừa học vừa làm, do họ đã trải qua hoạt động thực tiễn nên thường chỉ dễ thích ứng với phương pháp chỉ dẫn thực tiễn, hướng dẫn thực hành mang tính cụ thể. Song nhìn nhận ở góc độ chung nhất thì hiện nay người học còn khá thụ động đối với việc tiếp thu kiến thức trên lớp, chưa phát huy tốt sự chủ động nghiên cứu, chuẩn bị bài học và tài liệu trước khi đến lớp. Điều này tạo ra một sức ép không nhỏ đối với việc lưac chọn phương pháp giảng dạy của giảng viên.

- Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy hiện nay vẫn còn hạn chế. Tình trạng lớp học quá đông sinh viên là một thực tế gây khó khăn đối với việc lựa chọn phương pháp giảng dạy bằng tình huống và hướng dẫn thực hành, trao đổi, thảo luận của giáo viên đứng lớp. Tài liệu phục vụ cho hoạt động học tập nghiên cứu cũng còn rất hạn chế đã ảnh hưởng đến khả năng tự nghiên cứu, tổng kết lý luận và kiểm chứng bằng hoạt động thực tiễn của người học. Hiện nay, bài giảng trên lớp của giáo viên vẫn được coi là tài liệu học tập mang tính chủ đạo của người học tại ĐH Luật TP.HCM. Kết quả khảo sát thực tế cho thấy nguồn tài liệu mà người học sử dụng phổ biến nhất hiện nay khi học môn Tội phạm học là bài giảng của giáo viên có được từ việc ghi chép trên lớp và tài liệu thứ hai để tham khảo là giáo trình của ĐH Luật Hà Nội. Trước thực tế như vậy thì vai trò của người dạy mang tính truyền thống vẫn là rất quan trọng mà chưa thể nghĩ đến vai trò mang tính linh động hơn của một người trợ giúp, người tư vấn, một người chỉ đóng vai trò là “bà đỡ “ cho những ý tưởng được “thoát thai” từ chính đối tượng người học. Phương pháp thuyết giảng, độc thoại hiện vẫn là phương pháp được sử dụng phổ biến để truyền đạt những vẫn đề lý luận chung của Tội phạm học. Đây chính là nguyên nhân tạo ra sự đơn điệu, nhàm chán đối với người dạy cũng người học. Một vấn đề rất đáng được quan tâm từ việc sử dụng phổ biến những phương pháp truyền thống là tính hiệu quả của phương pháp này thường phụ thuộc vào tâm lý, cảm xúc trong giao tiếp của người dạy và người học trên giảng đường. Không phải mọi buổi lên lớp giáo viên đều có đủ sức khoẻ và có cảm xúc thật tốt để có thể tạo nguồn hứng khởi cần thiết cho sự truyền đạt và cung cấp thông tin của mình.

3. Phương pháp học và thi môn Tội phạm học trong nhà trường hiện nay

Từ những nội dung đã được phân tích ở trên, có thể thấy rằng việc học và thi của học viên sẽ chịu ảnh hưởng sâu sắc của cấu trúc chương trình môn học và những phương pháp được giảng viên sử dụng trên lớp. Những vẫn đề đang đặt ra và yêu cầu được giải quyết thật cơ bản đó là:

- Người học chưa cảm nhận được sự cần thiết của việc nghiên cứu, học tập môn Tội phạm học đối với việc giải quyết một công việc cụ thể trong đời sống hàng ngày của mình. Những vấn đề lý luận của môn học còn quá nặng nề, mang tính khái quát và khó có thể triển khai trong cuộc sống hàng ngày.

- Những yêu cầu và sự mong đợi của người học đối với môn học không đuợc đáp ứng hiệu quả sau 45 tiết giảng. Với thời lượng được qui định như hiện nay thì vừa hẫng hụt đối với những tham vọng truyền đạt trọn vẹn nhiều vấn đề lý luận phức tạp của môn học của giảng viên nhưng nó dường như lại chưa được tận dụng triệt để để tạo ra những điểm nhấn mang tính ứng dụng thực tế. Kinh nghiệm giảng dạy những năm vừa qua cho thấy nhiều khi để người học có đủ thời gian làm quen, thích ứng và có những hứng thú nhất định đối với môn học thì thời gian giảng dạy trên lớp cũng vừa hết.

- Thói quen học tập của người học từ những cấp học trước cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự chủ động của người học trong việc tự nghiên cứu tìm tòi và chuẩn bị nội dung bài học trước khi đến lớp. Điều này ảnh hưởng đến việc thay đổi, kết hợp hay lựa chọn một phương pháp giảng dạy mới của giáo viên. Cách học theo kiểu thầy đọc, học viên ghi chép rồi sau đó về nhà học (theo cách đọc hiểu hoặc thậm chí học thuộc lòng) để trả bài sao cho thật khớp với yêu cầu đề thi là phương pháp phổ biến của người học trong tình hình hiện nay. Thật khó chờ đợi điều gi đó mới mẻ từ những phản hồi của người học qua việc làm bài thi hay viết những công trình dài hơi hơn như làm tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu khoa học. Kết quả nghiên cứu khảo sát gần đây nhất của chúng tôi thì phương pháp học Tội phạm học phổ biến nhất của học viên là lên lớp nghe giảng sau đó về nhà nghiên cứu (chiếm 62,2% số phiếu khảo sát), còn một bộ phận không nhỏ trong số học viên được khảo sát chỉ đến ngày thi mới tranh thủ học bài (chiếm 28,8%), số học viên có sự chủ động trong việc đọc tài liệu trước khi lên lớp chỉ chiếm một tỉ lê khiêm tốn (6,6%) và vẫn còn bộ phận không nhỏ sinh viên áp dụng cách học thuộc lòng các nội dung được truyền đạt trên lớp để đến ngày thi trả bài (27,9%). Với cách học và thi như hiện nay của học viên thật khó để có sự chuyển hoá tốt nhất những kiến thức đã học trở thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp sau này đối với những cán bộ hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ pháp luật.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIÊU QUẢ DẠY VÀ HỌC MÔN TỘI PHẠM HỌC TẠI ĐH LUẬT TP.HCM TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Chuyển dịch cấu trúc nội dung chương trình môn học, tăng thêm phần nội dung mang tính ứng dụng trong từng đối tượng nghiên cứu cụ thể của Tội phạm học

Việc chuyển dịch cấu trúc nội dung chương trình môn học không phải là sự tiết giảm các nội dung mang tính lý luận cơ bản của TPH hiện nay. Những vấn đề mang tính lý luận chung của TPH về THTP, NN &ĐK của THTP, NTNPT, dự báo và phòng ngừa THTP đều là những nội dung mang tính cốt lõi, là nền tảng lý luận quan trọng cho việc triển khai và cụ thể hóa các biện pháp nghiên cứu, thống kê, khảo sát và xây dựng phương án đấu tranh nhằm kiểm soát tội phạm trong thực tế. Tuy nhiên cần phải có sự gia tăng hơn nữa những nội dung mang tính ứng dụng đối với từng bài học (về các đối tượng nghiên cứu cụ thể của TPH) trong quá trình giảng dạy.

- Một số nội dung lý luận sẽ được truyền đạt theo hướng phân tích chọn lọc, giới thiệu đa dạng các quan điểm khác nhau của các trường phái TPH để học viên có điều kiện tiếp cận, so sánh, đánh giá, tự nghiên cứu, triển khai.

- Hướng dẫn thực hành các kỹ năng phân tích thông số của THTP, tập hợp dữ liệu, khảo sát, điều tra xã hội học, lập các bảng biểu, xây dựng các đồ thị biểu diễn động thái của THTP qua các giai đoạn nhất định.

- Đối với nội dung nghiên cứu về NN&ĐK của TPCT và nhân thân người phạm tội cần có sự hệ thống hóa, tập hợp các hồ sơ VAHS trong thực tế để làm rõ các nội dung cấu thành của NN&ĐK tội phạm cụ thể (môi trường tác động đến sự hình thành những sai lệch trong nhân cách cá nhân người phạm tội, các tình huống, hoàn cảnh khách quan thuận lợi, cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội, khía cạnh nạn nhân của tội phạm cụ thể). Lập các biểu mẫu để thuận tiện cho việc thống kê, kiểu hóa đối với những đặc điểm nhân thân người phạm tội nói chung và nhân thân người phạm tội trong từng nhóm tội, từng tội phạm cụ thể.

- Đối với vấn đề dự báo và kế hoạch hóa hoạt động đấu tranh với THTP cần tập trung làm rõ và hướng dẫn thực hành các phương pháp dự báo cụ thể (phương pháp ngoại suy, mô hình hóa, phương pháp chuyên gia, phương pháp xây dựng kịch bản trong dự báo). Chú trọng đến kỹ năng nghiên cứu dự báo và xây dựng kế hoạch phòng ngừa của học viên trong từng địa bàn nghiên cứu cụ thể (tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường, xã). Nội dung này có thể được triển khai như một bài tập thực hành để đánh giá điểm tích luỹ quá trình (giống như bài kiểm tra học trình) đối với sinh viên hệ vừa học vừa làm và là yêu cầu thực tập cho học viên hệ chính quy (chuyên ngành Hình sự) khi kết thúc khóa học và chuẩn bị thi tốt nghiệp.

2. Sử dụng đa dạng các phương pháp giảng dạy để tăng cường hiệu quả ứng dụng của Tội phạm học vào hoạt động thực tiễn (điều tra, xét xử, giáo dục cải tạo người phạm tội cũng như việc triển khai các biện pháp phòng ngừa và dự báo tội phạm trong thực tế)

Một số phương pháp có thể được kết hợp với phương pháp giảng dạy truyền thống như phương pháp thảo luận, trao đổi, giao tiếp đa chiều trên lớp, phương pháp giảng dạy bằng tình huống với từng nhóm đối tượng được phân chia khi có điều kiện thích hợp. Kết hợp thêm việc nghe nhìn trên lớp với một số bảng biểu, số liệu thống kê về THTP một cách sinh động.

- Xây dựng một số tình huống cụ thể có ý nghĩa minh họa cho những nội dung lý luận được giảng dạy trên lớp như cung cấp các số liệu để sinh viên đánh giá về các chỉ số của THTP, đưa ra một số vụ án cụ thể để học viên tự xác định cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội đồng thời đánh giá được vai trò của nạn nhân trong việc thực hiện TPCT.

- Cần thiết có sự nghiên cứu để học viên có thể trực tiếp được tham gia các giờ học ngoại khóa thông qua hình thức nghiên cứu hồ sơ vụ án, dự khán các phiên tòa trong thực tế, các buổi đối chất, nhận dạng, lấy lời khai bị can từ đó đánh giá được đầy đủ, sinh động hơn về quá trình hình thành động cơ phạm tội, việc kế hoạch hóa và thực hiện tội phạm trong thực tế.

3. Đổi mới phương pháp học và thi của người học

Vấn đề này phải được đánh giá toàn diện từ cả hai phía: người dạy và người học. Sự chuyển đổi về nội dung chương trình môn học, phương pháp giảng dạy môn TPH sẽ tác động không nhỏ đến đối tượng người học. Bản thân người học sẽ tự nhận thức được sự cần thiết và lý thú đem đến từ môn học và nó sẽ đóng vai trò chuyển hóa cơ bản đối với “tâm thế người học”. Từ bị động và chịu sự áp đặt một chiều, người học sẽ có điều kiện đầy đủ hơn để phát huy sự chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu và áp dụng thành quả đó vào hoạt động thực tiễn của mình. Có sản phẩm thực tế và sản phẩm đó được kiểm nghiệm, được đánh giá thông qua việc ứng dụng thực tế sẽ là động lực mạnh mẽ đối với sự tìm tòi nghiên cứu và học tập của người học. Học để tăng cường kỹ năng, kỹ xảo, để áp dụng vào thực tiễn điều tra, xét xử, giáo dục cải tạo người phạm tội và xây dựng các biện pháp đấu tranh phòng chống THTP hiệu quả trong thực tế tự nó sẽ làm thay đổi căn bản phương pháp học và thi của học viên tại ĐH Luật TP.HCM.

4. Tăng cường nội dung mang tính ứng dụng của môn học thông qua việc ra đề thi và đánh giá kết quả cuối khóa học

Cần thiết có sự kết hợp giữa hình thức ra đề thi như hiện nay với việc đưa thêm các bài tập tình huống một cách có chọn lọc vào đề thi. Việc ra đề thi TPH trong thời gian tới cần có sự thể hiện đầy đủ các nội dung như:

- Kiểm tra những kiến thức lý luận cơ bản được trang bị cho người học trong quá trình học tập trên lớp (thông qua kỹ năng phân tích, so sánh, phân biệt, chứng minh, giải thích một vấn đề cụ thể trong nội dung môn học).

- Trắc nghiệm khách quan thông qua một số nhận định được xây dựng trong suốt nội dung chương trình môn học.

- Xây dựng mang tính chọn lọc một số bài thực hành yêu cầu khả năng thao tác, xây dựng các bảng biểu, đồ thị cụ thể biểu hiện các thông số của THTP. Qua đó phân tích, nhận xét và giải thích một cách khoa học về những biến động của THTP. Yêu cầu phân tích và đánh giá về cơ chế tâm lý – xã hội của việc thực hiện một tội phạm cụ thể thông qua các tình huống chon lọc. Nghiên cứu các đặc điểm nhân thân người phạm tội qua các vụ án hình sự cụ thể để đề xuất hướng xử lý hiệu quả trong từng giai đoạn tố tụng và xây dựng các biện pháp giáo dục, cải tạo người phạm tội, việc tái hòa nhập cộng đồng đối với những người đã chấp hành xong hình phạt tù cũng như ngăn ngừa khả năng tái phạm tội một cách hiệu quả trong thực tế.

 ThS. Phạm Thái

Tạp chí Khoa học pháp lý số 01 (2006)

Kích vào đây để xem những bài viết khác về tội phạm học

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi