CẦN CÓ GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM TRONG L ĨNH VỰC THANH TOÁN ĐIỆN TỬ

Thanh toán điện tử (TTĐT) là hình thức thanh toán sử dụng phương tiện điện tử làm phương tiện thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Trên thế giới hiện nay phổ biến một số phương thức TTĐT như thanh toán ngoại tuyến (thanh toán thẻ qua ATM, POS…, thanh toán trực tuyến (qua internet), thanh toán qua điện thoại di động và thông qua một mạng lưới mà các thành viên tham gia cùng chấp nhận một nguyên tắc chung như hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT, trong nước là hệ thống CITAD… Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, TTĐT mang lại rất nhiều lợi ích như tiết kiệm chi phí giao dich, tiết kiệm thời gian, tạo thuận lợi cho các bên tham gia giao dịch và giảm thiểu rủi ro mất tiền, tiền giả…

Tuy vậy, cùng với sự phát triển của TTĐT thì các vi phạm, tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng ngày càng phát triển và diễn biến phức tạp với những thủ đoạn tinh vi để che giấu hành vi phạm tội, nếu không được phát hiện, điều tra và xử lý kịp thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu, lộ trình của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng.

1. Thực trạng tình hình an ninh trong hoạt động thanh toán điện tử thời gian qua

Thực tế thời gian qua đã phát hiện một số hành vi phạm tội của các đối tượng phạm tội sử dụng công nghệ cao để xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của hình thức thanh toán điện tử. Cụ thể là một số hành vi sau:

- Trộm cắp tiền tại các máy ATM

 
Tại nhiều máy ATM ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra một số vụ trộm cắp, đối tượng đã dùng đèn khò, xà beng, búa, kéo….cắt, cậy, phá máy ATM để đánh cắp tiền. Nhiều vụ trong số đó bị bảo vệ, người dân phát hiện kịp thời và đã thông báo cũng như phối hợp với lực lượng chức năng kiểm tra, theo dõi và bắt giữ một số thủ phạm, nhưng tình trạng trộm cắp tại các máy ATM vẫn tiếp tục xảy ra. Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các địa phương phối hợp với các ngân hàng tăng cường các biện pháp bảo vê, tuần tra đối với hệ thống máy ATM.
 

- Gian lận, giả mạo trong thanh toán điện tử

 
Trên một số địa bàn như: Hà Nội, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, một số đối tượng người nước ngoài câu kết với một số công dân Việt Nam lắp đặt thiết bị lấy trộm dữ liệu, thông tin thẻ, gắn camera để ghi lại số PIN nhằm thực hiện các giao dịch giả mạo. Thủ đoạn này không mới, nhưng gần đây xảy ra thường xuyên hơn. Tang vật thu giữ được là thiết bị skimmer do Trung Quốc sản xuất được giao bán trên mạng internet, trong đầu đọc có rất nhiều thông tin thẻ đã bị skimming.
 
Một số tổ chức tội phạm là người nước ngoài làm giả hộ chiếu, in dập nổi tên chủ thể cho phù hợp với hộ chiếu giả rồi mang vào Việt Nam để thực hiện thanh toán tại các máy POS (vụ Chow Wai Nun, Mol Subchi Siswoyo).

Một số đối tượng thông đồng với chủ đơn vị chấp nhận thẻ sử dụng trái phép thông tin thẻ của người khác, qua máy POS, rút tiền chia nhau. Lực lượng chức năng đã bắt giữ 3 đối tượng người Trung Quốc, thu giữ máy tính (lưu trữ rất nhiều dữ liệu thẻ tín dụng), bộ thiết bị và phần mềm chuyên dụng đọc in thẻ tín dụng và nhiều phương tiện khác.

Một số đối tượng học sinh, sinh viên hiểu biết về công nghệ thông tin đã sử dụng trái phép thông tin thẻ tín dụng của người nước ngoài để đặt mua trực tuyến các sản phẩm điện tử đắt tiền như Ipad, Apple, điện thoại, máy tính bảng Samsung Galasy hoặc Motorola Xoom…, sau đó, qua địa chỉ trung gian tại Mỹ, gửi chuyển phát nhanh về Việt Nam tiêu thụ, chiếm đoạt hàng tỷ đồng.

 
Cuối năm 2010 và đầu năm 2011, lực lượng chức năng cũng phát hiện, điều tra và bắt giữ nhiều vụ sử dụng trái phép thông tin thẻ tín dụng của người nước ngoài để mua vé máy bay điện tử trực tuyến trên website của VietnamAirline, Tiger Away, Jetstar Airline,… chiếm đoạt tiền của các hãng hàng không (Mạch Thọ Toàn, Nguyễn Thái Tôn…).
 
- An ninh, an toán hệ thống cơ sở dữ liệu và bảo mật
 
Xuất phát từ một số sơ hở trong các quy định về an ninh, an toàn, bảo mật cơ sở dữ liệu khách hàng và trong các quy định phân quyền truy cập mà một số đối tượng đã truy cập từ xa vào cơ sở dữ liệu khách hàng, ghi khống “có” vào nhiều tài khoản thẻ ATM rồi thực hiện rút tiền, chiếm đoạt tài sản của ngân hàng.

Một hình thức nữa được thủ phạm dùng đến là việc lợi dụng lỗi Power off, lỗi Dispenser để trộm cắp tiền của ngân hàng. Với cách thức này, thủ phạm sẽ dùng thẻ ATM rút tiền, rồi tác động trực tiếp vào máy ATM để máy báo “ATM bị lỗi, không giao dịch được”, đồng thời hệ thống báo SMS cho chủ thẻ  “số dư không thay đổi”, thực tế tiền đã bị lấy đi.

Trong số những vụ gian lận, một số vụ liên quan đến nhân viên ngân hàng hoặc cán bộ kỹ thuật của những công ty có liên quan.

 
- Tội phạm sử dụng dịch vụ internet bankinh của ngân hàng để thực hiện rửa tiền
 
Đối tượng phạm tội sẽ thông quan hoạt động kinh doanh các loại tiền điện tử như LR, E-gold, E-paspot, PayPal… để làm phương tiện thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có nguồn gốc không rõ ràng hoặc có được do phạm tội như ship hàng, mua CC chùa, đánh bạc, cá độ…., trong đó LR là công cụ thanh toán chủ yếu do tính ẩn danh và ẩn lịch sử giao dich. Sau khi thỏa thuận mua bán tiền điện tử, tội phạm công nghệ cao thường sử dụng dịch vụ internet bankinh của một số ngân hàng để thanh toán, chuyển tiền.

 

Những khó khăn trong quá trình điều tra, xử lý tội phạm

 
Với sự hợp tác của các ngân hàng, các tổ chức thẻ và với quần chúng nhân dân, Cơ quan điều tra đã theo dõi, bắt giữ và xử lý được nhiều vụ trộm cắp, gian lận qua hình thức TTĐT, tuy vậy quá trình điều tra, xử lý tội phạm công nghệ cao gặp không ít những khó khăn, cụ thể như:
 
- Các đối tượng phạm tội thường là người ( nhóm người được tổ chức chặt chẽ ở cả trong nước và ngoài nước) có trình độ về công nghệ thông tin và truyền thông nên cách thức phạm tội và che giấu khá tinh vi, nhiều trường hợp gian lận xảy ra trong thời gian khá dài mới bị phát giác, gây thiệt hại không nhỏ cho các bên giam gia giao dịch điện tử.
 
- Tội phạm công nghệ cao thường hoạt động “ảo” trên mạng internet, địa bàn xảy ra ở nhiều nơi thuộc phạm vi một nước hoặc quốc tế nên khó xác định được địa bàn cụ thể.
 
- Số lượng người bị hại phân tán ở nhiều nơi và nhiều khi chỉ biết tài sản của mình bị chiếm đoạt khi nhận được yêu cầu thanh toán hoặc khi nhận được thông báo của cơ quan chức năng, một số người biết bị mất (đa số là chủ thẻ nước ngoài) nhưng do số tiền bị thiệt hại không lớn nên ngại trình báo với cơ quan chức năng do vậy việc xác minh người bị hại cũng gặp nhiều khó khăn.
 
- Tội phạm và người bị hại thường không tiếp xúc trực tiếp mà chỉ thông qua mạng Internet nên rất khó xác định được danh tính và địa chỉ thật của người bị hại.
 
- Việc cung cấp thông tin, lịch sử giao dịch của các tài khoản, nhất là các khiếu nại của chủ thẻ ở nước ngoài phụ thuộc rất nhiều vào các ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành. Nhưng mỗi nước có hệ thống nội luật khác nhau và các ngân hàng còn chưa cởi mở về việc chia sẻ thông tin nên công tác điều tra gặp nhiều khó khăn.

 

2. Một số giải pháp tăng tính an toàn cho hệ thống thanh toán điện tử

 
Thanh toán điện tử chính là yếu tố then chốt để phát triển thương mại điện tử. Điều làm cho người dân và chính các tổ chức cung ứng dịch vụ vẫn còn ngần ngại đối với loại hình thanh toán này chính là vấn đề an ninh của nó. Vì vậy, các Bộ, Ngành và các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ, áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp để đảm bảo an toàn cho các giao dịch điện tử từ đó đẩy mạnh thanh toán điện tử và không dùng tiền mặt.
 
- Chính phủ cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống các văn bản và quy phạm pháp luật liên quan đến Luật tội phạm máy tính, Luật tội phạm thương mại điện tử v.v.; cần tăng cường tuyên truyền hiểu biết về hình thức TTĐT cũng như nâng cao cảnh giác trước tội phạm sử dụng công nghệ cao.
 
- Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng lộ trình bắt buộc kết nối thanh toán để các ngân hàng phải hoàn tất hệ thống kết nối thanh toán; xây dựng các mâu thuẫn về hệ thống cơ sở dữ liệu, quy định tiêu chuẩn về an ninh, bảo mật, quy trình bảo trì, nâng cao chất lượng dịch vụ; xây dựng khung pháp lý giải quyết tranh chấp, khiếu nại trong giao dịch điện tử để các ngân hàng tuân thủ thực hiện.
 
- Xây dựng quy chế giữa Bộ Công an với Ngân hàng Nhà nước trong việc phối hợp, trao đổi thông tin, nhật ký giao dịch, dữ liệu… phục vụ công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
 
- Hiệp hội Ngân hàng chỉ đạo Hội Thẻ và Tiểu ban phòng, chống rủi ro phối hợp với Cục cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thiết lập kênh trao đổi định kỳ hàng tháng, hàng quý về phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm trong TTĐT.
 
- Các ngân hàng thương mại cần thường xuyên rà soát các quy trình bảo mật, an ninh, an toàn hệ thống, kiểm tra thường xuyên quyền truy cập hệ thống, không để tội phạm lợi dụng kẽ hở để truy cập, điều khiển hệ thống; rà soát lại quy trình hoạt động nghiệp vụ đối với những người đã chuyển công tác, thường xuyên kiểm tra an toàn hệ thống để kịp thời phát hiện lỗ hổng và phát hiện cài đặt các thiết bị ngoại vi.
 
- Các ngân hàng thương mại cần tăng cường đào tạo nghiệp vụ, nhất là xử lý tình huống, phối hợp với Công an địa phương khi phát hiện dấu hiệu gian lận, giả mạo trong TTĐT; giáo dục nâng cao đạo đức nghề nghiệp của nhân viên ngân hàng và nhân viên của các đơn vị có liên quan để không bị lợi dụng, mua chuộc.
 
- Các tổ chức thẻ quốc tế tiếp tục hỗ trợ, giúp đỡ cơ quan thực thi trong việc cung cấp kịp thời thông tin, xác định các giao dịch gian lận, giả mạo để điều tra, xử lý kịp thời với loại tội phạm này.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi