Tổng quan về mức độ của tình hình tội phạm ở Việt Nam qua số liệu thống kê từ năm 1986 - 2008

Nghiên cứu tình hình tội phạm (THTP) nói chung và mức độ (thay thế khái niệm này chỉ có thể là tình trạng chứ không thể là thực trạng như nhiều tác giả đã nhầm lẫn) của tình hình tội phạm nói riêng, không thể thoát ly số liệu thống kê hình sự.

Bằng nghiên cứu số liệu thống kê thường xuyên của Tòa án nhân dân tối cao về xét xử hình sự sơ thẩm, mức độ của THTP ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2008 có thể được khái quát thông qua một số thông số sau:

1. Xu hướng của tình hình tội phạm (xem Bảng 1)

Bảng a. Tổng quan theo giai đoạn 3 năm của THTP ở Việt Nam từ 1986 đến 2008

Giai đoạn

Tổng số án phải xét xử sơ thẩm hình sự

Số trung bình năm

Tỉ lệ bị cáo/vụ

Vụ

Bị cáo

Vụ

Bị cáo

%

1986-1988

66.896

119.770

22.299

39.923

179,04

1989-1991

68.185

114.570

22.728

38.190

168,03

1992-1994

79.003

127.776

26.334

42.592

161,74

1995-1997

130.239

209.305

43.413

69.768

160,71

1998-2000

163.719

256.443

54.573

84.481

156,64

2001-2003

153.348

230.119

51.116

76.706

150,06

2004-2006

181.753

303.349

60.584

101.116

166,90

2006-2008

197.282

342.135

65.761

114.045

173,42

Để làm rõ xu hướng của tình hình tội phạm, chúng tôi đã sử dụng giai đoạn 3 năm để nghiên cứu và kết quả cho thấy, mức độ của tình hình tội phạm ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2008 diễn ra theo xu hướng tăng với ba cung bậc khác nhau và hai giai đoạn đột biến:

Cung bậc thứ nhất kéo dài từ năm 1986 đến năm 1994, trong đó, mức tăng của giai đoạn sau so với giai đoạn trước liền kề đạt từ 1,93% đén 15,86%.

Cung bậc thứ hai gồm hai giai đoạn, giai đoạn 1995 - 1997 và 1998 - 2000, mức tăng đạt tối đa 25,71%.

Cung bậc thứ ba gồm ba giai đoạn từ năm 2001 đến 2008, mức tăng đạt từ 8,54 đến 18,52%.

Hai đột biến về mức độ của tình hình tội phạm rơi vào giai đoạn 1995 - 1997, đột biến tăng và giai đoạn 2001 - 2003, đột biến giảm: Tăng 64,85% còn giảm đạt 6,34%. Tại sao lại có hai đột biến tăng và giảm như vậy?

Hai yếu tố chính quyết định sự tăng, giảm này là:

- Tăng vì sự xuất hiện của nhóm tội phạm về ma túy;

- Giảm vì hiệu ứng của sự xuất hiện Bộ luật Hình sự (BLHS) 1999.

2. Các chỉ số khái quát

2.1. Cơ số tội phạm

Có tác giả gọi là hệ số tội phạm. Bản chất của nó là số tội phạm tính trên 100.000 dân. Vì tính đặc thù của số liệu thống kê thường xuyên của Việt Nam (còn bị ẩn đáng kể - ẩn thống kê), nên cơ số tội phạm đã được tính toán bằng số bị cáo (phải xét xử) trên 100.000 dân. Kết quả tính toán của chúng tôi cho thấy, tình hình tội phạm ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2008 có hai thời kỳ khác nhau. Thời kỳ thứ nhất kéo dài từ 1986 đến 1995 với cơ số tội phạm chỉ có hai con số, tức là dưới 100; thời kỳ thứ hai từ năm 1996 đến nay (2008), cơ số tội phạm đạt tới ba con số (từ 103 đến 137). So sánh với nhiều nước khác, con số này là rất nhỏ, nhỏ hơn sáu, bẩy mươi lần (với Cộng hòa Liên bang Đức chẳng hạn). Điều này chưa thể khẳng định được rằng, tình hình an ninh, trật tự ở nước ta tốt hơn ở Đức tới sáu, bẩy mươi lần. Vì nước ta hàng năm không có kinh phí cho việc điều tra tỉ lệ ẩn của tình hình tội phạm. Tuy vậy, cơ số tội phạm ở nước ta như đã nêu cũng là một cơ sở cho nhận xét rằng, nước ta là một điểm đến an toàn.

2.2. Cơ số hành vi phạm tội và cơ số tội danh

Cơ số hành vi phạm tội (HVPT) là một khái niệm mới trong tội phạm học thế giới nói chung và tội phạm học Việt Nam nói riêng. Nó được hiểu là tổng số tội danh có đời sống thực tế, hay nói cách khác, cơ số hành vi phạm tội là tổng số tội danh đã được Tòa án các cấp áp dụng để tuyên phạt các bị cáo ở nước ta trong thời gian một năm. Con  số này được tính toán ở giai đoạn 1986 - 1988 là 120; giai đoạn 2001 - 2002 là 148 và giai đoạn 2004 - 2008 là 162, tức là tăng liên tục (xem Bảng 2 và Bảng 3).

Bảng 2: Cơ số HVPT của THTP trong các năm 1986 - 1988 và 2001 - 2003

Nhóm*

1986

1987

1988

Nhóm

2001

2002

2003

C1

16

16

18

C11

07

06

05

C2

16

15

16

C12

28

26

27

C3

03

05

03

C13

04

03

04

C4

13

12

12

C14

12

11

12

C5

06

05

05

C15

03

05

05

C6

11

10

12

C17

04

05

04

C7

16

17

18

C16

22

20

22

C8

21

28

27

C19

30

29

33

C9

07

06

06

C21

10

09

10

C10

06

07

08

C22

07

09

07

 

 

 

 

C18

09

10

09

 

 

 

 

C20

11

14

12

Cơ số

115

121

125

Cơ số

147

147

150

 
 
Bảng 3: Cơ số HVPT của THTP trong các năm 2006 - 2008

Nhóm/tội danh

2006

2007

2008

C12/30

29

29

28

C13/30

05

06

03

C14/30

13

13

13

C15/7

05

06

06

C16/29

22

21

21

C17/10

06

05

05

C18/10

09

09

09

C19/55

37

34

35

C20/20

13

17

13

C21/14

10

11

13

C22/22

10

10

11

C23/25

02

04

02

Cơ số

161

165

159

Là một loại chỉ số khái quát về THTP thực tế ở mỗi quốc gia, cơ số HVPT rất có giá trị để nhận biết về mặt lượng, nên các quốc gia cần thống kê và thông báo công khai như cơ số tội phạm. Con số này không chỉ cho biết chính xác hàng năm ở mỗi quốc gia có bao nhiêu hành vi phạm tội khác nhau đã xảy ra, mà còn là cơ sở để đánh giá về mức độ phù hợp của Luật Hình sự với thực tế đời sống xã hội. Điều này chúng tôi muốn nói rằng, cơ số HVPT hoàn toàn có thể (đối trọng) so sánh được với cơ số tội danh, tức là tổng số tội danh thuộc các nhóm tội phạm có trong hồ sơ thống kê thường xuyên và có đủ điều kiện để nghiên cứu. Ở Việt Nam, hai cơ số này đã được xác định cụ thể như sau:

- Ở giai đoạn 1986 - 1988, cơ số hành vi phạm tội đã được thống kê hàng năm và tính chung cho cả giai đoạn là 120. Còn cơ số tội danh ở giai đoạn này được xác định trên cơ sở của BLHS 1985. Trong phần các tội phạm đã ghi nhận 195 tội danh, nhưng cơ số tội danh ở giai đoạn này chỉ là 165, tức là 30 tội danh thuộc Chương XI và XII không có trong hồ sơ thống kê để nghiên cứu. Vì thế, tỷ lệ 120/165, tức là 72,73% là mức độ phù hợp giữa Luật và thực tế đã được xác định;

- Ở giai đoạn 2001 - 2003, cơ số hành vi phạm tội được xác định là 148, cơ số tội danh là 234, nên tỷ lệ phù hợp giữa Luật và thực tế ở giai đoạn này là 63,25%;

- Giai đoạn hiện nay (2004 - 2008) có cơ số hành vi phạm tội là 162 và cơ số tội danh là 245, tức là mức độ phù hợp giữa Luật và thực tế đã đạt 66,12%.

Như vậy, nhận xét có thể rút ra là, BLHS 1985 có mức độ phù hợp với thực tế cao hơn BLHS 19991.

Ngoài ra, giá trị nhận thức luận của cơ số HVPT còn được thể hiện trong những trường hợp sau đây:

Thứ nhất, để xác định mức độ phạm tội đối với từng tội danh “đại diện” cho tình hình tội phạm ở mỗi giai đoạn nghiên cứu (sẽ nói đến sau);

Thứ hai, cơ số HVPT không chỉ là chỉ số khái quát của tình hình tội phạm ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn, mà còn là chỉ số khái quát đối với tình hình tội phạm do từng loại thành phần người phạm tội gây ra, như THTP của người chưa thành niên2 (dưới 18 tuổi), của người thành niên3 (18-30 tuổi), của giới nữ, của người dân tộc thiểu số, đa số v.v. tức là, đối với mỗi loại THTP như vậy, khi nghiên cứu, cần phải xác định cơ số HVPT của nó.

3. Mức độ của tình hình tội phạm xét theo nhóm tội danh

Từ năm 1986 đến nay, các nhóm tội danh ở Việt Nam có sự thay đổi rất đáng kể. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tình hình tội phạm trên cơ sở những nhóm tội danh với sự trợ giúp bởi số liệu thống kê thường xuyên đối với ba giai đoạn khác nhau để so sánh: 1986 - 1988; 2001 - 2003 và 2006 - 2008. Kết quả cụ thể, xem Bảng 4:

Bảng 4: Mức độ xét theo nhóm của THTP ở nước ta hiện nay so với giai đoạn trước “đổi mới” tính trên cơ sở số bị cáo đã xét xử sơ thẩm (Đơn vị tính: %)

BLHS 1985

1986-1988

BLHS 1999

2001-2003

2006-2008

Ghi chú

C1

8,40

C11

0,09

0

Không so sánh

C2

15,00

C12

14,60

15,02

Tăng

C3

0,14

C13

0,18

0,31

Tăng mạnh

C4

18,99

C14

44,72

41,25

Giảm

C5

0,32

C15

0,06

0,05

Giảm

C6

39,55

 

 

 

Bị ghép

C7

5,28

C16

1,96

2,08

Không ổn định

C7a

 

C18

18,89

12,59

Giảm

C8

11,11

C19

16,25

25,07

Tăng mạnh

C0

0,82

C21

0,91

1,35

Tăng

C10

0,39

C22

0,60

0,19

Giảm mạnh

 

 

C17

0,13

0,33

Tăng đột biến

 

 

C20

1,60

1,65

Tăng

 

 

C23

 

0,009

Không so sánh

100%=98.393

 

100%=187.139

100%=338.039

 

 

Bảng 4 cho phép đánh giá xu hướng của tình hình tội phạm theo cơ cấu nhóm, và một số nhận xét:

- Có sự khác nhau rất cụ thể giữa hai thời kỳ phát triển: Kinh tế bao cấp và kinh tế thị trường. Nếu thời kinh tế bao cấp không có nhóm tội phạm về ma túy (C18) và nhóm tội phạm về môi trường (C17) thì hai nhóm tội phạm này chiếm tỷ lệ phần đáng kể và gây bức xúc trong xã hội những năm qua và hiện nay:

- Tuy có sự thay đổi về tỉ phần, song “xương sống” của tình hình tội phạm ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay vẫn rơi vào 4 nhóm (trong số 12 nhóm tội phạm được nghiên cứu). Đó là nhóm tội xâm phạm sở hữu (C14); nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (C19); nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (C12) và nhóm tội phạm về ma túy (C18). Đánh giá cụ thể hơn sẽ được tiến hành kết hợp với việc đánh giá ở mức độ của THTP xét theo đơn vị hành vi phạm tội và sẽ được trình bày ở tiểu mục tiếp theo;

- Xu hướng tăng đã diễn ra đối với đại đa số các nhóm tội phạm được nghiên cứu (7/12), tăng đột biến diễn ra đối với nhóm tội phạm về môi trường (C17), tăng mạnh diễn ra đối với nhóm tội phạm về chức vụ, trong đó có các tội tham nhũng (C21) và nhóm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân (C13);

- Xu hướng giảm cũng đã diễn ra đối với 4/12 nhóm, trong đó có nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp (C22).

4. Mức độ của tình hình tội phạm xét theo đơn vị hành vi phạm tội

Để làm rõ mức độ của THTP ở đơn vị hành vi phạm tội, chúng tôi đã sử dụng ba đại lượng hỗ trợ:

Một là, cơ số hành vi phạm tội ở mỗi giai đoạn nghiên cứu;

Hai là, tỷ lệ % của các hành vi phạm tội được xem xét;

Ba là, mức độ phạm tội tính bằng số chữ số, chúng tôi ấn định là từ 4 chữ số trở lên, tức là rà soát tất cả những tội danh có đời sống thực tế, nếu tội danh nào có mức độ phạm tội đạt tới 4 con số, thì tội danh đó được đưa vào “Danh sách” những tội danh có mức độ phạm tội cao hơn cả của giai đoạn đó. Kết quả cụ thể được trình bày tại các Bảng 5, 6 và Bảng 7.

Bảng 5: THTP giai đoạn 1986 - 1988 với các tội danh có mức độ phạm tội cao nhất, từ 4 con số trở lên

Tội danh

1986

Bị cáo

 

1987

Bị cáo

 

1988

Bị cáo

 

Cộng

%

Giết người

1.032

924

1.084

3.040

3,09

Cố ý gây thương tích

1.811

3.336

3.727

8.874

9,02

Cướp tài sản

1.321

1.212

1.655

4.188

4,26

Trộm cắp

11.417

11.452

13.578

36.447

37,04

Lừa đảo

1.422

1.503

1.584

4.509

4,58

Đánh bạc

1.787

1.701

1.585

5.073

5,16

Tham ô

2.352

2.305

2.187

6.835

6,95

Trốn đi*

1.403

1.320

1.879

4.602

4,68

Tổng số

22.545

23.753

27.270

73.568

74,77

 
 
Bảng 6: THTP giai đoạn 2001 - 2003 với các tội danh có mức độ phạm tội cao nhất, từ 4 con số trở lên
 

Tội danh

2001

Bị cáo

 

2002

Bị cáo

 

2003

Bị cáo

 

Cộng

%

Giết người

1.534

1.487

1.911

4.932

2,64

Cố ý gây thương tích

4.992

5.126

5.567

15.685

8,38

Hiếp dâm + Hiếp dâm trẻ em

1.376

1.383

1.282

4.041

2,16

Cướp tài sản

3.279

3.287

4.232

10.789

5,77

Cướp giật

2.605

2.756

2.577

7.938

4,24

Trộm cắp

16.265

16.117

16.301

48.683

26,01

Lừa đảo

2.088

2.174

2.597

6.859

3,67

Lạm dụng tín nhiệm

1.308

1.545

1.384

4.237

2,26

Mua bán, … ma túy

9.810

11.486

11.765

33.061

17,67

Gây rối trật tự công cộng

1.264

875

1.109

3.248

1,74

Đánh bạc + tổ chức

1.202

2.218

4.646

8.066

4,31

Vi phạm giai thông đường bộ

3.203

3.843

4.376

11.422

6,10

Chứa mại dâm + Môi giới

1.264

1.125

1.295

3.684

1,97

Tổng số

50.190

53.422

59.042

162.654

86,92

 
 
Bảng 7: Mức độ của THTP ở Việt Nam hiện nay xét theo những tội danh có mức độ phạm tội cao hơn cả (từ 4 con số trở lên)

TT

Điều luật

2004

Bị cáo

 

2005

Bị cáo

 

2006

Bị cáo

 

2007

Bị cáo

 

2008

Bị cáo

 

Tổng

Bị cáo

 

Tỷ phần

%

1

93

3.377

3.302

3.542

3.320

3.587

17.128

3,25

2

104

9.210

8.905

9.936

10.913

10.761

49.725

9,45

3

133

5.552

4.882

5.628

6.049

6.117

28.228

5,36

4

135

1.157

1.211

1.340

1.284

1.184

6.176

1,17

5

136

3.264

3.397

3.793

5.216

5.182

20.852

3,96

6

138

20.859

24.300

26.405

25.454

30.239

127.257

24,18

7

139

3.113

2.803

3.144

3.227

3.053

15.340

2,91

8

140

1.412

1.520

1.539

1.581

1.365

7.417

1,41

9

143

1.051

1.444

1.701

2.520

2.439

9.155

1,74

10

194

12.825

13.282

13.848

13.160

14.459

67.574

12,84

11

202

6.061

5.633

5.728

6.588

6.416

30.426

5,78

12

231

388

645

958

2.153

1.822

5.966

1,13

13

245

1.312

1.438

1.395

1.454

1.333

6.932

1,32

14

248

7.248

8.357

9.337

13.144

14.893

52.979

10,07

15

249

2.702

2.593

2.307

3.705

4.018

15.325

2,91

16

254

1.159

971

1.016

1.034

852

5.032

0,96

17

257

1.032

1.280

1.242

1.235

1.393

6.182

1,17

 

 

 

 

 

 

 

471.694

89,62%

 

 

 

 

 

 

 

526.334

100%

* Đánh giá tổng quan trên cơ sở số liệu của các Bảng 4, 5, 6 và Bảng 7:

Trên nền số liệu đã được mô tả tại các Bảng 4, 5, 6 và 7, có thể tiến hành một số cách đánh giá và nhìn nhận tình hình tội phạm ở Việt Nam thời gian qua về mặt định lượng.

Cách đánh giá của chúng tôi được tiến hành trên cơ sở sử dụng hai đại lượng là cơ số hành vi phạm tội (giai đoạn 1986 - 1988 là 120; giai đoạn 2001 - 2003 là 148 và giai đoạn 2004 - 2008 là 162) và tỷ lệ phần tram (tỷ phần).

Chúng tôi ấn định tỷ phần để chọn lọc ở đây đối với cả mức độ nhóm và mức độ hành vi phạm tội là 5% trơe lên, còn lấy cơ số HVPT làm nền để xem xét. Như vậy, kết quả cho thấy như sau:

a) Ở giai đoạn 1986 - 1988, THTP được đặc trưng bởi 4 nhóm và 4 hành vi phạm tội tiêu biểu:

Đó là: Nhóm C1: Nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia (8,4%);

Nhóm C12: Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe… (15,5%);

Nhóm C4 + 6: Nhóm tội xâm phạm tài sản (58,54%);

Nhóm C7: Nhóm tội phạm về kinh tế (5,28%).

Bốn nhóm này (4/10) đã thu hút 87,22% tổng số bị cáo ở giai đoạn này.

Còn 4 hành vi phạm tội tiêu biểu là:

- Tội cố ý gây thương tích (9,20%);

- Tội trộm cắp tài sản (37,04%);

- Tội đánh bạc (5,16%);

- Tội tham ô (6,95%).

4 hành vi phạm tội này (4/120) đã thu hút 58,35% tổng số bị cáo ở giai đoạn nghiên cứu.

Như vậy, nếu đặt các tội xâm phạm an ninh quốc gia sang một bên, thì khuynh hướng phạm tội ở giai đoạn “kinh tế bao cấp này” chỉ có hai. Đó là vụ lợi và bạo lực.

b) Ở giai đoạn 2001 - 2003, THTP được đặc trưng bởi 4 nhóm và 5 hành vi phạm tội tiêu biểu.

Bốn nhóm gồm:

- C12: Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe… (14,60%);

- C14: Nhóm tội xâm phạm tài sản (44,72%);

- C18: Nhóm tội phạm về ma túy (18,89%);

- 19: Nhóm tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng (16,25%).

Bốn nhóm này (4/12) thu hút 94,46% tổng số bị cáo của giai đoạn nghiên cứu.

Còn 5 hành vi phạm tội tiêu biểu gồm:

- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 104) chiếm 8,38%;

- Tội cướp tài sản (Điều 133) chiếm 5,77%;

- Tội trộm cắp tài sản (Điều 138) chiếm 26,01%;

- Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194), chiếm 12,84%;

- Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202) chiếm 6,10%.

5 hành vi phạm tội đã nêu thu hút 63,93% tổng số bị cáo của cả 148 HVPT trong giai đoạn nghiên cứu (5/148).

c) Ở giai đoạn 2004 - 2008, THTP được đặc trưng bởi 4 nhóm và 6 hành vi phạm tội tiêu biểu.

Bốn nhóm tội phạm ở giai đoạn này cũng là bốn nhóm ở giai đoạn 2001 - 2003, song tỷ phần có khác: C12 tăng, đạt 15,02%; C14 giảm, còn 41,25%; C18 giảm, còn 12,59%; C19 tăng mạnh, đạt tới 25,07%. Tổng cộng, bốn nhóm (4/12) thu hút 93,93% tổng số bị cáo của cả giai đoạn nghiên cứu.

6 hành vi phạm tội tiêu biểu ở giai đoạn này bao gồm tất cả 5 tội như ở giai đoạn 2001 - 2003 và thêm Tội đánh bạc (Điều 248) với tỷ phần 10,07%. Như vậy, cả 6 hành vi phạm tội này đã thu hút 67,68% tổng số bị cáo của 162 HVPT trong giai đoạn nghiên cứu (6/162).

Tóm lại, những đặc trưng cơ bản về mặt lượng của tình hình tội phạm ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam đã được làm rõ thông qua nhiều đại lượng, chỉ số và phạm trù khác nhau. Ở giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm rõ ràng phức tạp hơn: có nhiều hành vi phạm tội hơn, số người phạm tội nhiều hơn, khuynh hướng phạm tội cũng đa dạng hơn, không chỉ là vụ lợi và bạo lực, mà còn cả khuynh hướng siêu vụ lợi như các tội phạm về ma túy và khuynh hướng phạm tội vô ý cũng tăng mạnh - những tội vi phạm quy định về giao thông.

 

Phạm Văn Tỉnh[*]

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2011

 


 

[*] PGS.TS. Viện Nhà nước và Pháp luật.

*  C ký hiệu là Chương

1  BLHS 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 có tổng số tội danh là 272, nhưng đến 01 tháng 01 năm 2010 mới có hiệu lực.

2  Phạm Văn Tính (2007). Một số vấn đề lý luận về THTP ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, tr. 234, 243.

3  Phạm Văn Tính (2007). Một số vấn đề lý luận về THTP ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, tr. 234, 243.

*  Gồm cả tội trốn đi nước ngoài và tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài…, được quy định tại Điều 85 và 88 BLHS 1985.
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi