Hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý và tình hình phòng, chống tội phạm ma tuý ở một số quốc gia

Chính phủ Việt Nam rất coi trọng hợp tác quốc tế trong phòng, chống ma tuý, bằng việc tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực phòng, chống ma tuý với các nước, các tổ chức phi Chính phủ, đặc biệt với sự hỗ trợ của Tổ chức phòng, chống tội phạm và ma tuý của Liên hợp quốc (UNODC), với các nước tiểu vùng sông Mêkông và với các quốc gia có chung đường biên giới... Ngày 01/9/1997, Chủ tịch Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Quyết định số 798/QĐ-CTN về việc tham gia 3 Công ­ước quốc tế về kiểm soát ma tuý đó là: Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961; Công ước về các chất hướng thần năm 1971 và Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma tuý và các chất hư­ớng thần năm 1988.

Năm 2000, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật phòng, chống ma tuý. Trong Luật phòng chống ma tuý, hợp tác quốc tế về phòng chống ma tuý được qui định thành một chương riêng - Chương VI (từ Điều 46 đến Điều 51).

Các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các chương trình hợp tác về phòng, chống ma tuý với các cơ quan hữu quan của các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Nhà nước Việt Nam thể hiện rõ quan điểm: Ưu tiên cho nước ký kết Điều ước quốc tế song phương với Việt Nam sự tương trợ tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về ma tuý. Đồng thời, Nhà nước Việt Nam cũng có quyền từ chối tương trợ tư pháp đối với các trường hợp: Yêu cầu tương trợ tư pháp không phù hợp với các Điều ước quốc tế về phòng, chống ma tuý mà Việt Nam ký hoặc tham gia và pháp luật Việt Nam; việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp gây tổn hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của Việt Nam.

Để đáp ứng yêu cầu thực tế của công tác phòng, chống ma tuý, ngày 21/01/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2003/NĐ-CP về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống ma tuý.

Theo số liệu mới nhất của Tổ chức phòng chống tội phạm và ma tuý của Liên hợp quốc (UNODC) công bố tại Hội nghị HONLEA tháng 11/2005 thì số lượng thuốc phiện bất hợp pháp được sản xuất trên thế giới năm 2004 là gần 5.000 tấn (tăng 76 lần so với năm 2003), riêng Afganistan chiếm khoảng 87%. Việc sản xuất lá coca khô ở 3 nước khu vực Andean năm 2004 ước tính là 244.200 tấn (tăng 3% so với năm 2003). Sản xuất cocain từ lá cây côca ước tính là 687 tấn (tăng 2% so với năm trước). Tổng số vụ bắt giữ trên toàn cầu về thuốc phiện năm 2004 tăng 8% lên 120 tấn gồm heroin, moocphin và thuốc phiện. Châu á đứng đầu về số vụ bắt giữ thuốc phiện là 89%. Các quốc gia châu á bắt giữ tăng là ấn Độ 2,2 tấn; Thái Lan 1,2 tấn; Trung Quốc 809 kg. Riêng heroin năm 2004 toàn cầu sản xuất ước tính 485 tấn, đã bắt giữ 59,5 tấn, trong đó Châu á 52%, châu Âu 39%, châu Mỹ 8% và châu Phi, châu Đại dương 1%. Riêng Trung Quốc bắt giữ 10,4 tấn, Thổ Nhĩ Kỳ 8,9 tấn. Năm 2004 toàn cầu thu giữ: 6.206 tấn cần sa; số vụ thu giữ cocain tăng 17% (gần 600 tấn); tiền chất quan trọng như pecmaganat thu hơn 640 tấn; Afganistan thu 375 lít acetic anhydric, 675 kg amonium. ATS là loại ma tuý bị bắt giữ tăng nhanh nhất (trên 25 tấn), trong đó Methamphetamine chiếm 68%, Amphetamine 17%, thuốc lắc 13%, 2% chưa được phân loại. Toàn cầu hiện có khoảng 200 triệu người nghiện ma tuý, trong đó có 160,9 triệu người nghiện sử dụng cần sa; 26,2 triệu người sử dụng Amphetamine; 7,9 triệu người sử dụng Ecstacy; 13,7 triệu người sử dụng cocain; 15,9 triệu người sử dụng thuốc phiện và 10,6 triệu người sử dụng heroin.

Việc tất cả các nước tham gia Công ước kiểm soát ma tuý và việc thực hiện trên phạm vi toàn cầu các điều khoản trong Công ước là những điều kiện tiên quyết để kiểm soát ma tuý trên toàn thế giới có hiệu quả, kể cả việc đạt được những mục tiêu trong các Công ước. Số quốc gia gia nhập các Công ước kiểm soát ma tuý quốc tế đã tăng lên, cụ thể: Đến tháng 01/2004 có 180 nước tham gia Công ước thống nhất về ma tuý năm 1961; đến tháng 11/2004 có 175 nước tham gia Công ước về chất hướng thần năm 1971 và 170 nước tham gia Công ước về chống buôn lậu ma tuý và chất hướng thần năm 1988.

Những năm gần đây bên cạnh việc đẩy mạnh chống tội phạm ma tuý trong nước, Chính phủ Việt Nam đã không ngừng tăng cường mở rộng quan hệ phối hợp với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNODC, Interpol... hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới, khu vực thông qua việc ký kết các hiệp định, thoả thuận, bản ghi nhớ như: Bản ghi nhớ hợp tác tiểu vùng sông MêKông (MOU); các bản hiệp định, thoả thuận hợp tác với Chính phủ Liên bang Myanma, Cộng hoà Hungary, Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc…

Hàng năm, Việt Nam đã tổ chức nhiều đoàn cán bộ đi thăm quan, khảo sát, tập huấn và dự hội nghị, hội thảo về phòng chống ma tuý và thực hiện các dự án được hỗ trợ về cơ sở vật chất, công nghệ, tăng cường năng lực pháp luật. Đặc biệt từ 7 - 10/11/2005 chúng ta vừa tổ chức thành công Hội nghị những người đứng đầu cơ quan hành pháp quốc gia phòng, chống ma tuý khu vực Châu á - Thái Bình Dương lần thứ 29 tại Hà Nội với sự tham gia của 35 quốc gia và tổ chức quốc tế (Hội nghị Howlea).

Là một quốc gia lớn, có đường biên giới tiếp giáp với 6 tỉnh của Việt Nam, Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi 2 nguồn ma tuý lớn nhất thế giới là "trăng lưỡi liềm vàng" và "tam giác vàng" nên lượng ma tuý tràn vào Trung Quốc hàng năm rất lớn. Nhiều năm qua Trung Quốc đã mở các chiến dịch tấn công tội phạm đạt hiệu quả, đặc biệt là chiến dịch "bàn tay sắt". Công tác quản lý người nghiện của Trung Quốc có những mô hình để nhiều nước học hỏi. Từ tháng 01 đến 9/2005 Trung Quốc đã bắt giữ nhiều vụ buôn lậu heroin có nguồn gốc từ tam giác vàng đến Trung Quốc sau đó đến Lào và Việt Nam: 133 vụ/220 đối tượng, thu giữ 64 kg heroin (năm 2004 bắt giữ 97 vụ/151 đối tượng, thu giữ 47 kg heroin) từ bên kia biên giới sang Trung Quốc. Pháp luật Trung Quốc quy định hình phạt các tội về ma tuý rất nghiêm khắc. Theo quyết định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc về việc cấm ma tuý ngày 28/12/1990 thì: Hành vi buôn lậu, vận chuyển, mua bán hoặc sản xuất trái phép từ 1 kg thuốc phiện trở lên; 50 gam heroin trở lên hoặc các chất ma tuý khác có số tượng lớn thì bị phạt tù từ 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình và tịch thu tài sản... Trên cơ sở Hiệp định đã ký kết ngày 26/7/2001, Uỷ ban quốc gia phòng chống ma tuý, Bộ Công an 2 nước Việt Nam - Trung Quốc và giữa các tỉnh có chung đường biên giới đã có nhiều cuộc tiếp xúc, trao đổi thông tin kinh nghiệm phòng, chống ma tuý. Cơ quan chức năng của hai bên đã tăng cường trao đổi kinh nghệm về: Chống tội phạm ma tuý, kiểm soát tiền chất, giám định, cai nghiện, xoá bỏ cây thuốc phiện... Thông qua các thông tin được trao đổi, nhiều vụ án đã được hai bên phối hợp điều tra thành công. Hai nước đã thiết lập Văn phòng liên lạc qua biên giới (BLO) về phòng, chống ma tuý tại thị xã Móng Cái, Quảng Ninh và thị xã Đông Hưng tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), tổ chức họp giao ban hàng tháng để trao đổi công việc, thông tin phối hợp đấu tranh trên toàn tuyến biên giới.

Lào là một quốc gia có biên giới tiếp giáp với Việt Nam, Thái Lan, Myanma, Trung Quốc và tiếp giáp với "tam giác vàng" - nguồn ma tuý lớn của thế giới. ở Lào hiện vẫn còn tình trạng trồng cây thuốc phiện (năm 2005 còn 1.800 ha, giảm 73% so với năm trước), sản xuất thuốc phiện (năm 2001: 134 tấn; năm 2002: 112 tấn). Từ 2004 - 9/2005 Lào đã bắt giữ 221 vụ/514 đối tượng phạm tội về ma tuý, thu giữ: 33,7 kg thuốc phiện; 30,41 kg heroin; 712,6 kg cần sa và 2.173,104 viên Methamphetamine (năm 2003 thu giữ 120 kg). Hình phạt dành cho tội phạm về ma tuý trong Bộ luật Hình sự Lào trước đây qui định nhẹ hơn so với Việt Nam. Theo tài liệu mới nhất của Uỷ ban quốc gia phòng chống ma tuý Lào thì Điều 135 Bộ luật Hình sự Lào mới sửa đổi qui định nghiêm khắc hơn: Người nào thực hiện hành vi mua, bán, buôn lậu và sử dụng các loại ma tuý trên 500 gam heroin hoặc 3 kg Methamphetamine hoặc trên 10 kg tiền chất thì có thể bị phạt hoặc tử hình (trước đây qui định tù từ 10 năm đến chung thân). Thực hiện Hiệp định giữa hai Chính phủ về kiểm soát ma tuý, các chất hướng thần và tiền chất ngày 6/7/1998, những năm gần đây chính phủ hai bên đã cùng phối hợp kiểm tra, kiểm soát nghiêm ngặt việc mua bán, vận chuyển ma tuý, các chất hướng thần và tiền chất qua lại biên giới hai nước, cùng trao đổi công tác chỉ đạo, đào tạo cán bộ, giám định chất ma tuý, xét nghiệm xác định người nghiện, điều tra khám phá tội phạm ma tuý, giáo dục, phòng ngừa. Các tỉnh có chung đường biên đã tổ chức giao ban định kỳ trao đổi tình hình và công tác phòng chống tội phạm ma tuý, giải quyết vấn đề người dân qua lại biên giới, thay cây thuốc phiện tại khu vực biên giới.

Campuchia có biên giới giáp với phía Tây Nam của Việt Nam và tiếp giáp với Lào, Thái Lan. Hiện một số vùng của Campuchia còn trồng cây thuốc phiện, cây cần sa với số lượng ít. Campuchia bị ảnh hướng bởi ma tuý từ Thái Lan và Lào sang, sau đó được vận chuyển đến Việt Nam, Mỹ, Australia. Năm 2004, cơ quan chức năng của Campuchia thu giữ 5,15 kg heroin, thu giữ 4 vụ/7 đối tượng vận chuyển 14.439 chai Ketamine. Cơ quan pháp luật của Campuchia đã hợp tác với cơ quan bài trừ ma tuý của Mỹ bắt giữ các vụ buôn lậu ma tuý từ châu Âu đến Campuchia, bắt giữ hàng ngàn viên Ecstasy. Hình phạt cao nhất dành cho tội phạm ma tuý ở Campuchia là tù chung thân. Thực hiện Bản ghi nhớ do Chính phủ hai bên đã ký kết về hợp tác kiểm soát ma tuý, các chất hướng thần và tiền hoá chất ngày 1/6/1998, từ đó tới nay hàng năm hai nước đã tổ chức Hội nghị song phương cấp Bộ nhằm trao đổi thông tin, kinh nghiệm, rà soát những hoạt động trong năm. Thiết lập Văn phòng thông tin liên lạc qua biên giới tại Tây Ninh (Việt Nam) và Svêy Riêng (Campuchia). Các tỉnh có chung đường biên giới đã tích cực trao đổi thông tin, kinh nghiệm liên quan đến công tác phòng, chống ma tuý.

Thái Lan là quốc gia có tình hình tội phạm và tệ nạn nghiện ma tuý phức tạp ở khu vực Đông Nam á. Thuốc phiện từ Afganistan được vận chuyển qua Pakistan vào Thái Lan được đóng gói lại và tiếp tục phân phối đi các nơi khác. Những năm qua Thái Lan đã mở nhiều chiến dịch tấn công truy quét tội phạm ma tuý có hiệu quả. Pháp luật của Thái Lan qui định về các hình phạt cho tội phạm ma tuý rất nghiêm khắc: Người nào tiêu thụ hoặc sở hữu để tiêu thụ các chất ma tuý thuộc bảng I số lượng dưới 100 gam đã được xác định là ma tuý nguyên chất thì bị phạt tù từ 5 năm đến chung thân và bị phạt tiền từ 50.000 - 500.000 bạt; trên 100 gam sẽ bị phạt chung thân hoặc tử hình. Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Vư­ơng quốc Thái Lan về hợp tác kiểm soát ma tuý, các chất hướng thần và tiền chất đã được ký kết ngày 7/10/1998. Hàng năm, các cơ quan chức năng của hai nước đã phối hợp tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề, trao đổi các đoàn thăm quan nghiên cứu học tập về mô hình tổ chức và chia sẻ những bài học kinh nghiệm rút ra từ công tác này. Việt Nam học tập của Thái Lan nhiều kinh nghiệm như: Chiến dịch tổng tấn công tệ nạn ma tuý trên qui mô toàn quốc tháng 02/2003, công tác phối hợp toàn diện, đồng bộ giữa công tác giảm cung, giảm cầu, giảm tác hại thông qua các biện pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống ma tuý...

Singapore là một nước có nền kinh tế phát triển thứ hai ở châu á, số người nghiện ma tuý nhiều năm liên tục giảm, hiện tại trên đất nước này không có tụ điểm buôn bán ma tuý công khai. Công tác phòng chống ma tuý của Singapore đạt hiệu quả cao dựa trên ba trụ cột chính là: Luật pháp nghiêm minh; trấn áp mạnh mẽ; đẩy mạnh các chương trình phòng ngừa.

Tái nghiện ma tuý ở Singapore cũng bị coi là tội phạm. Số người nghiện các loại ma tuý bị bắt giữ ở Singapore hầu như đều giảm. Hình phạt dành cho tội phạm ma tuý tại Singapore qui định rất nghiêm khắc: Đối tượng vận chuyển, xuất nhập khẩu trái phép trên 15 gam heroin phải chịu mức án tử hình, tàng trữ số lượng này sẽ bị phạt tù đến 10 năm, phạt tiền 20.000 đôla Singapore (tương đương 200 triệu đồng Việt Nam). Đối tượng vận chuyển, xuất nhập khẩu trái phép trên 1.200 gam thuốc phiện có chứa trên 30g mooc phin; trên 500 gam cần sa hoặc 200 gam nhựa cần sa phải chịu mức án tử hình, tàng trữ, tiêu thụ số lượng trên sẽ bị phạt tù đến 10 năm, phạt tiền 20.000 đô la Singapore.

Là một quốc gia năm trong khu vực "tam giác vàng", mặc dù mấy năm gần đây diện tích trồng cây thuốc phiện và sản xuất thuốc phiện ở Myanma đã giảm, nhưng quốc gia này vẫn có số diện tích trồng cây thuốc phiện và là nơi sản xuất thuốc phiện lớn thứ hai trên thế giới. Năm 2004 Myanma, xoá bỏ được 2.820 ha cây thuốc phiện; sản xuất 292 tấn thuốc phiện (giảm 88% so với năm 1976). Số lượng ma tuý hàng năm thu giữ tại Myanma rất lớn: năm 2003 thu giữ 1.297,19 kg thuốc phiện; 563,55 kg heroin; 39.466,8 lít tiền chất; 307,94 kg ephedrine, năm 2004 thu giữ 575,1 kg thuốc phiện; 973,85 kg heroin; 17.971,07 lít tiền chất; 182,65 kg Ephedrine. Myanma đã ban hành Luật về các chất ma tuý và các chất hướng thần từ năm 1993. Thực hiện Hiệp định song phương đã ký kết ngày 11/3/1995, Việt Nam và Myanma đã tiến hành trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong công tác đấu tranh chống buôn lậu ma tuý, triệt phá cây thuốc phiện và hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng, chống ma tuý, tham quan mô hình cai nghiện, trao đổi hợp tác kỹ thuật. Hai bên tích cực tham gia hoạt động hợp tác hành pháp qua biên giới thông qua hệ thống Văn phòng liên lạc phòng chống ma tuý (BLO) của dự án hợp tác hành pháp phòng, chống ma tuý.

Hợp tác quốc tế đã góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm ma tuý. Số vụ án ma tuý khám phá tăng, số đối tượng bắt giữ tăng, mở rộng được nhiều vụ án xuyên quốc gia liên quan đến quốc tế; phối hợp quản lý buôn bán tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý; nâng cao hiệu quả trao đổi thông tin… Thực tế những năm qua, thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng, chống ma tuý chúng ta đã học hỏi và trao đổi được nhiều kinh nghiệm phòng, chống ma tuý từ các nước, tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ về đào tạo cán bộ, cai nghiện về kinh phí, trang thiết bị của UNODC và các quốc gia. Dự báo thời gian tới tội phạm ma tuý ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới sẽ gia tăng và có nhiều diễn biến phức tạp. Cuộc đấu tranh phòng, chống ma tuý của Việt Nam cũng như trên toàn cầu sẽ còn nhiều khó khăn, vất vả. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quan hệ hợp tác phòng, chống ma tuý giữa Việt Nam với các nước vẫn chưa tương xứng với nhu cầu của mỗi nước. Thời gian tới, trên cơ sở Hiệp định và các cam kết với các quốc gia, các cơ quan chức năng của Việt Nam và các bên cần tăng cường hơn nữa, đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác để đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới./.

Nguyễn Thị Mai Nga

(Vụ 2 Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 11/2006)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi