MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

Tiến trình tư pháp hình sự ở Hoa Kỳ được thể hiện dưới dạng hình phễu, rộng trên đỉnh và hẹp dưới đáy, biểu hiện cho thực tế là có rất nhiều người bị tình nghi nhưng ít bị cáo và phạm nhân. Trong giai đoạn đầu của tiến trình tư pháp hình sự, có rất nhiều các vụ án xảy ra cùng lúc nhưng số lượng vụ án sẽ dần nhỏ lại khi những người có thẩm quyền ra quyết định chuyển vụ án sang một tiến trình khác. Một số vụ án bị đình chỉ trong khi một số vụ án được quyết định bằng biện pháp chữa bệnh hoặc để tham vấn. Việc xác định tội phạm đòi hỏi được chứng minh bằng tình tiết thực tế.

1. Các giai đoạn tố tụng hình sự

1.1. Giai đoạn điều tra sơ bộ

Giai đoạn điều tra tội phạm được bắt đầu từ khi cảnh sát có cơ sở để tin rằng có sự kiện phạm tội xảy ra (từ khi vụ án chưa được khởi tố). Cảnh sát có thể tiến hành điều tra sơ bộ từ các nguồn thông tin sau đây: từ tố giác của nạn nhân, từ sự phát hiện của công việc tuần tra hàng ngày của cảnh sát, từ những biểu hiện nghi vấn của một người nào mà cảnh sát biết được hoặc khi phát hiện thấy có dấu vết của tội phạm hoặc có cơ sở để tin rằng kẻ phạm tội đang chuẩn bị thực hiện tội phạm hoặc chắc chắn sẽ thực hiện phạm. Nếu là đơn tố giác thì nó phải được trình cùng với lời tuyên thệ trước một thẩm phán sơ thẩm hoặc nhân viên tư pháp địa phương hoặc bang nếu thẩm phán vắng mặt. Thẩm phán có quyền quyết định giải quyết, xử lý kết quả xác minh, kiểm tra tin báo về tội phạm bằng các biện pháp sau: Ban hành lệnh bắt hoặc lệnh triệu tập, ủy quyền cho nhân viên tư pháp thực hiện; Chuyển giao cho quận khác (nếu không đủ thẩm quyền), Tiến hành thủ tục điều tra sơ bộ theo tố tụng.

Việc điều tra có thể được tiến hành bằng các biện pháp nghiệp vụ của trinh sát hoặc từ những kinh nghiệm thu thập tích luỹ rút ra được trong quá trình làm việc của cảnh sát. Những biện pháp thường được áp dụng trong quá trình điều tra ở Hoa Kỳ bao gồm xem xét dấu vết, vật chứng, chứng cứ để lại nơi hiện trường xảy ra tội phạm, xét hỏi người bị tình nghi, khám người, tài sản, nơi ở của kẻ phạm tội, xem băng hình, ảnh, nghe ghi âm...

Trên cơ sở điều tra sơ bộ, nếu thấy đủ chứng cứ để buộc tội người tình nghi đã thực hiện tội phạm thì cảnh sát có thể bắt giam ngay người đó. Thông thường, Cảnh sát căn cứ vào lệnh giam của Thẩm phán để bắt giam người bị tình nghi. Tuy nhiên trong thực tế công tác, hầu hết các trường hợp bắt giam không nhất thiết phải có lệnh của Thẩm phán. Luật cho phép Cảnh sát được bắt những người phạm tội nhỏ khi họ đang thực hiện tội phạm (tội vi cảnh mà không phải tội phạm hình sự như cướp của, giết người, huỷ hoại tài sản). Thường thì cảnh sát giải người bị bắt đến trụ sở để xét hỏi, lấy lời khai của người bị bắt và nhân chứng hoặc đưa đến đội cảnh sát điều tra để nạn nhân hoặc các nhân chứng nhận dạng. Khi đã có đủ căn cứ cho rằng người bị bắt phạm tội thì cảnh sát mới trình lên thẩm phán để xin lệnh giam. Những trường hợp phạm tội nhỏ cảnh sát có thể gửi giấy triệu tập và yêu cầu người đó có mặt bất cứ lúc nào. Khi tiến hành xét hỏi, trong mọi trường hợp, cảnh sát phải chụp ảnh và lấy dấu vân tay của người phạm tội và gửi đến Cục điều tra của liên bang để xác định lý lịch tư pháp của họ đã bị can án chưa. Trước khi đưa họ vào giam để xét hỏi, cảnh sát phải thông báo cho người bị tình nghi quyền của họ được im lặng và quyền được mời luật sư bào chữa.

Một thời gian ngắn sau khi bị bắt, người bị tình nghi được đưa đến Toà tiểu hình để xem xét việc bảo lãnh. Những vụ việc vi phạm nhỏ về giao thông thì Toà tiểu hình xem xét giải quyết ngay. Trường hợp tội phạm thông thường thì Toà tiểu hình sẽ căn cứ vào tính chất tội phạm, mức độ phạm tội và các điều kiện bảo lãnh để xem xét việc bảo lãnh bằng tiền hoặc đặt tài sản nhằm bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập trong các giai đoan tố tụng sau. Tuy nhiên, đối với những trường hợp người phạm tội thuộc diện nghèo khó nhưng có nghề nghiệp, nhà cửa hoặc có những mối ràng buộc khác trong cộng đồng thì chỉ cần cho họ cam đoan có mặt bất cứ lúc nào mà không phải đặt tiền để bảo đảm. Cũng như hầu hết các nước phát triển, Luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ quy định các tội phạm hình sự có tính chất nghiêm trọng như giết người, bắt cóc trẻ em thì không được áp dụng biện pháp bảo lãnh. ;

1.2. Giai đoạn truy tố

Giai đoạn truy tố được thực hiện bắt đầu từ khi cơ quan cảnh sát chuyển các chứng cứ, hồ sơ phạm tội đến cơ quan công tố để xem xét có buộc được người bị tình nghi phạm một tội nào đó cụ thể không, điều luật nào được áp dụng và bao gồm những điểm nào. Nhiệm vụ của công tố viên là phải xét xem những chứng cứ mà cảnh sát đã thu thập và lưu giữ đã đủ để đáp ứng yêu cầu trong việc đưa vụ án hình sự ra xét xử chưa? Tiêu chuẩn đặt ra đối với các chứng cứ đã thu thập là phải đảm bảo tính hợp pháp, tính khách quan và tính liên quan. Đối với vụ án hình sự thông thường thì công tố viên không cần gặp mặt, xét hỏi người bị tình nghi mà chỉ cần dựa vào những chứng cứ, lời khai... do cảnh sát chuyển đến để công tố viên có những phán quyết ban đầu. Để có được quyết định buộc tội chính thức, công tố viên cần phải nghiên cứu những phong tục thực tế (án lệ) và những quy định của luật pháp về thẩm quyền xét xử để thực hiện việc buộc tội bằng bản cáo trạng và trình bày trước bồi thẩm đoàn. Bản cáo trạng (bản luận tội) là quyết định buộc tội chính thức của cơ quan công tố. Trình tự luận tội của công tố viên khác nhiều với trình tự xét xử của bồi thâm đoàn. Bản luận tội phải thể hiện rõ quan điểm buộc tội do công tố viên soạn thảo và được thẩm tra lại trước phiên toà trù bị của Toà tiểu hình. Phiên toà trù bị được mở công khai trước công chúng và có sự tham gia của người bào chữa, bị cáo. Tại phiên tòa này, Công tố viên trình bày vắn tắt những chứng cứ chính, đưa lý lẽ chắc chắn để khẳng định việc bị cáo đã phạm tội hình sự và cần phải đưa ra xét xử mà không cần phải trình bày tất cả mọi chi tiết về vụ án. Bị cáo có thể không thừa nhận những chứng cứ đưa ra và trong trường hợp có sự nhất trí của tiểu bang, họ có thể không có mặt tại phiên toà trù bị.

Hiện nay, tình trạng bị cáo thỉnh cầu uỷ viên công tố xem xét đã thành thủ tục thông thường. Họ có thể thỉnh cầu công tố viên xem xét lại việc buộc tội họ trước hoặc sau khi luận tội hoặc cả trong quá trình xét xử bao gồm cả việc thương lượng giữa bị cáo và luật sư bào chữa của bị cáo với uỷ viên công tố trong việc làm giảm nhẹ tội trạng hoặc lời hứa của uỷ viên công tố cho bị cáo được chấp hành hình phạt theo dạng tạm tha có theo dõi. Thực tế việc này đã được Toà án Hoa Kỳ chấp nhận và có chỉ đạo, kiểm tra.

Theo nguyên tắc liên bang về tố tụng hình sự, nếu việc truy tố tội phạm có khả năng dẫn đến án tử hình thì công tố viên phải lập Bản cáo trạng. Khoảng một nửa số bang và hệ thống liên bang có quy định đại bồi thẩm quyết định việc liệu có đưa ra những lời buộc tội chống lại một người trong một phiên tòa xét xử kín mà ở đó chỉ có công tố viên đưa ra bằng chứng. Bị cáo không được quyền có mặt tại phiên xem xét theo thủ tục tố tụng của đại bồi thẩm và cũng không có quyền có luật sư biện hộ đại diện cho mình trước đại bồi thẩm. Trong các bang khác, công tố viên đệ trình văn bản buộc tội được gọi là bản thông báo. Một phiên xét xử sơ bộ sẽ được tổ chức để xác định xem có đủ bằng chứng để xét xử chính thức không. Bị cáo và luật sư của mình có thể hiện diện tại phiên tòa này để tranh cãi về những lời cáo buộc.

Pháp luật tố tụng hình sự của Mỹ không quy định về thời hạn truy tố và giữa các bang thì vấn đề thời hạn truy tố cũng khác nhau. Tuy nhiên, thời hạn truy tố vụ án hình sự của Hoa Kỳ có thể rất dài, chủ yếu là do thủ tục lựa chọn bồi thẩm viên của hai bên mất nhiều thời gian, thậm chí có thể kéo dài đến hàng năm. Hơn nữa, quy trình xét xử tại Tòa án cũng có thể bị kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tuần do tính chất phức tạp của hệ thống tố tụng. Do đó, đa số các vụ án hình sự ở Mỹ thường được các bên giải quyết bằng thủ tục mặc cả thú tội để giảm thiểu chi phí tố tụng cũng như sự quá tải của hệ thống tư pháp mà vẫn đáp ứng được các đòi hỏi của công lý.

1.3. Giai đoạn xét xử

Các Tòa án có chức năng xét xử khi một người bị cáo buộc vi phạm luật hình sự và buộc họ phải chịu: trách nhiệm hình sự. Điều này do các bồi thẩm đoàn hay thẩm phán quyết định. Mục đích của các Tòa án là tìm kiếm công lý và phát hiện sự thật. Những vai chính tại Tòa án là các công tố viên, luật sư biện hộ và các thẩm phán.

Một thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn tiến hành với sự tham dự của công tố viên và luật sư biện hộ đế xem xét tội trạng. Tiêu chuẩn về chứng cứ đối với việc kết án hình sự là vượt quá những lý do nghi ngờ hợp lý. Nếu có bất kỳ lý do nghi ngờ nào về tội trạng của bị cáo thì bị cáo sẽ được tha bổng. Thông qua nguyên tắc mặc cả thú tội, Luật sư biện hộ và công tố viên có thể thảo luận giảm buộc tội hoặc giảm mức án cho bị cáo.

Nếu bị cáo bị coi là có tội, thẩn phán sẽ đưa ra mức án. Hình phạt có thể là phạt tiền, quản chế, tống giam trong một đơn vị cải tạo như nhà giam hoặc nhà tù hoặc kết hợp với một số biện pháp giám sát trong cộng đồng giam giữ. Quyết định chống án do cả luật sư đệ trình lên các Tòa án cấp phúc thẩm và sau đó được các thẩm phán Tòa phúc thẩm phán quyết. Nếu một Tòa án phúc thẩm đảo ngược phán quyết sơ thẩm, vụ án sẽ được trả lại cho Tòa án cấp dưới để xét xử lại. Theo sự phán quyết đảo ngược bản án của Tòa án phúc thẩm, công tố viên sẽ quyết định việc có tiếp tục đệ trình hay bỏ qua lời buộc tội. Ngay cả khi công tố viên bỏ qua lời buộc tội thì bị cáo vẫn có thể bị truy tố chừng nào mà đạo luật quy định về tội phạm mà bị cáo phạm phải vẫn còn hiệu lực.

Việc thi hành án thuộc thẩm quyền của các cơ quan liên bang, các bang và chính quyền địa phương. Hầu hết các phạm nhân đều không phải chấp hành toàn bộ thời hạn theo bản án đã tuyên và được phóng thích trước thời hạn tối đa của bản án. Việc phóng thích có thể được thực hiện khi đã thực hiện xong mức án tối đa do Tòa án tuyên hoặc thông qua việc ân xá hoặc giảm án.

2. Phương pháp tố tụng

Phương pháp tố tụng được sử dụng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự là phương pháp đối tụng. Luật sư và Công tố viên có quyền bình đẳng trong việc thu thập và đưa ra chứng cứ. Pháp luật quy định nguyên tắc loại trừ chứng cứ đối với những chứng cứ được thu thập bất hợp pháp, theo đó, khi một thẩm phán cho rằng chứng cứ thu thập được vi phạm các quyền hiến định của bị cáo thì không thể sử dụng chứng cứ đó trong quá trình xét xử.

Tố tụng hình sự Hoa Kỳ chủ yếu sử dụng án lệ, tuy nhiên tất cả thủ tục tố tụng đều phải tuân thủ nguyên tắc về tố tụng hình sự của liên bang, của các bang, các nguyên tắc và quy định của các cơ quan Bộ Tư pháp và trên cơ sở quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ, Luật nhân quyền, Hiến pháp các tiểu bang, tổng luật Hoa Kỳ, các đạo luật của các bang, các quyết định của các Tòa án, nhất là các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền của công dân: “Quyền của con người được đảm bảo về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và bắt giam, quyền này sẽ không bị vi phạm. Không một lệnh, trát nào được cấp nếu không có lý chính đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc xác nhận, đặc biệt cần miêu tả chính xác địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ" (Tu chính án số 4); “Không một ai bị buộc phải chịu trách nhiệm về một tội nghiêm trọng hay một trọng tội xấu xa khác nếu không có sự tường trình hay cáo trạng của bồi thẩm đoàn, những trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân hoặc trong lực lượng dự bị, khi đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc trong tình trạng xã hội gặp hiểm nguy. Không ai bị kết án hai lần về cùng một tội có nguy hại đến tính mạng và thân thể; không ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại chính mình trong một vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng pháp luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thoả đáng” (Tu chính án số 5).

Nguyên tắc “mặc cả thú tội” được sử dụng rộng rãi trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ. Mặc cả thú tội là sự thoả thuận theo đó, công tố viên cho phép bị cáo nhận tội để đổi lại một vài nhượng bộ như giảm lời buộc tội hoặc đưa ra một mức án khoan dung hơn. Các công tố viên cũng thực hiện quyền tự quyết trong việc thương thuyết với luật sư biện hộ. Có những lợi thế của mặc cả thú tội cho cả bên bị buộc tội lẫn Nhà nước. Đối với bị cáo, đó là cơ hội được giảm mức án và chi phí cho luật sư. Đối với Chính phủ, nó làm giảm chi phí cho việc truy tố, cải thiện tính hiệu quả của các Tòa án bằng việc phải xử lý các vụ án ít hơn bằng các thủ tục đầy đủ của một phiên tòa và cho phép bên công tố có thể giành hết các nguồn lực của mình để giải quyết những vụ án nghiêm trọng hơn.

Các quyết định trong tư pháp hình sự dựa trên quyền tự quyết của các chức danh tố tụng. Cảnh sát đưa ra quyết định về việc liệu có tiến hành việc bắt giữ, khám xét, điều tra, thẩm vấn hoặc sử dụng vũ lực hay không. Công tố viên quyết định có buộc tội một người về hành vi phạm tội của người đó không và liệu có sử dụng biện pháp mặc cả thú tội không. Các thẩm phán cũng sử dụng quyền tự quyết khi đặt ra mức bảo lãnh, chấp nhận hoặc từ chối mặc cả thú tội, phán quyết đối với các kiến nghị tiền xét xử và tuyên án. Các thành viên của Uỷ ban cải tạo có quyền quyết định việc phóng thích phạm nhân khỏi nhà tù...

3. Cơ quan tư pháp và các bên tham gia tố tụng

3.1. Cơ quan cảnh sát

3.1.1. Cơ cấu và tổ chức bộ máy

Các chức năng của cảnh sát Mỹ bao gồm việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản, duy trì trật tự và kiểm soát tội phạm (gồm 11 nhiệm vụ). Trong lĩnh vực kiểm soát tội phạm, cảnh sát có trách nhiệm tuần tra và điều tra hình sự mà nhiệm vụ quan trọng là nhận dạng kẻ phạm tội và hành vi phạm tội; bắt giữ người phạm tội khi phù hợp, tham gia vào tiến trình xét xử của Tòa án sau này; làm giảm những cơ hội phạm tội của tội phạm thông qua việc phòng ngừa bằng biện pháp tuần tra và những biện pháp khác; trợ giúp cho những cá nhân đang gặp phải nguy hiểm về thể chất; bảo vệ các quyền hiến định của công dân. Cảnh sát hợp tác với các công tố viên trong giai đoạn điều tra hình sự, thu thập các chứng cứ cần thiết để có được lời kết tội trước Tòa.

Hệ thống cơ quan cảnh sát ở Hoa Kỳ có 17.500 cơ quan cảnh sát ở cấp quốc gia, cấp bang, hạt và thị trấn với hơn 800.000 nhân viên, có tuyên thệ và không tuyên thệ. Các cơ quan này bao gồm: 50 Cơ quan thực thi pháp luật ở cấp liên bang; 49 Sở cảnh sát bang; 1721 cơ quan cảnh sát đặc biệt (ví dụ như cảnh sát giao thông hay cảnh sát bảo vệ các trường học); 3086 quận cảnh sát; 12.502 phòng cảnh sát thị trấn.

-               Các cơ quan cảnh sát cấp liên bang là cơ quan thực thi pháp luật cấp liên bang, một phần của nhánh hành pháp thuộc chính quyền quốc gia gồm những cơ quan chủ yếu là :

+ Cục điều tra liên bang (FBI) : Cơ quan điều tra thuộc Bộ Tư pháp này có thẩm quyền điều tra hơn 200 loại tội phạm liên bang khác nhau. FBI chú trọng tới việc bảo vệ quốc gia khỏi chủ nghĩa khủng bố, tội phạm có tổ chức (bao gồm cả các tội phạm buôn lậu ma túy), tội phạm cổ cồn trắng, các tội xâm phạm các quyền dân sự của công dân và các tội phạm bạo lực (như cướp ngân hàng bắt cóc). Cơ quan này trợ giúp cho chính quyền liên bang, tiểu bang và các cơ quan thực thi pháp luật địa phương thông qua việc thống kê tội phạm, phân tích tội phạm, hồ sơ dấu vân tay và đào tạo chuyên môn. Khi tổ chức tội phạm là một doanh nghiệp lớn, FBI sẽ có thêm những thẩm quyền trong việc điều tra như quyền được ghi băng điện thoại phục vụ quá trình điều tra.

+ Cục chống buôn lậu rượu, thuốc lá và vũ khí (ATF): Cơ quan này trực thuộc Bộ Tài chính nhiệm vụ điều tra các tội phạn dụng chất nổ và vũ khí. ATF cũng điều tra các băng nhóm mô tô ngoài vòng pháp luật vi phạm các luật liên bang về vũ khí, chất nổ và các luật về buôn bán ma túy.

+ Cục bài trừ ma túy (DEA): Cơ quan này cũng trực thuộc Bộ tư pháp và có trách nhiệm thực thi tất cả các luật về kiểm soát ma túy của liên bang. Các nhân viên của cơ quan này điều tra những người có hành vi vi phạm về ma túy, thu giữ ma túy và bắt giữ những kẻ buôn lậu ma túy.

+ Cơ quan cảnh sát Mỹ (USMS): các cơ quan này cung các dịch vụ an ninh cho tất cả Tòa án liên bang. Họ cũng bảo vệ những thành viên của Tòa án liên bang trừ các thẩm phán Tòa án tối cao liên bang thuộc trách nhiệm của lực lượng cảnh sát. Cơ quan cảnh sát Mỹ bắt giữ những tù nhân liên bang vượt ngục, giám sát những người bị bắt giữ này và hoạt động bảo vệ các nhân chứng liên bang theo chương trình bảo vệ nhân chứng (có quyền tạo ra căn cước mới và đảm bảo an ninh cho các nhân chứng tại những phiên tòa liên bang).

+ Cơ quan mật vụ Hoa Kỳ (SS) : Cơ quan Mật vụ Hoa Kỳ có trách nhiệm bắt giữ bất kỳ ai có hành vi làm giả tiền, bảo vệ Tổng thống và các quan chức của chính quyền liên bang.

+ Cơ quan nhập cư và quốc tịch (INS): Nhân viên của INS tuần tra theo các đường biên giới để ngăn chặn những người nhập cư bất hợp pháp vào Hoa Kỳ và trục xuất những người vi phạm luật quốc tịch Hoa Kỳ.

- Cảnh sát bang: Tại mỗi bang của Hoa Kỳ, trừ Hawaii, đều có lực lượng cảnh sát riêng với thẩm quyền trong phạm vi tiểu bang đó. Thống đốc bang bổ nhiệm các trưởng phòng, giám đốc sở cảnh sát hoặc chỉ huy trưởng lực lượng cảnh sát giao thông. Các cơ quan cảnh sát bang trợ giúp các cơ quan thực thi pháp luật ở địa phương trong việc điều tra tội phạm, lưu giữ các tài liệu, hồ sơ về tội phạm của bang; tuần tra trên các tuyến đường giao thông cao tốc của bang; nghiên cứu các dấu vết tội phạm trong phòng thí nghiệm; thực thi các nhiệm vụ của cảnh sát đường sắt thị trấn và quận.

- Cảnh sát quận có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ cảnh sát tại các vùng nông thôn và các khu vực riêng biệt tại hơn 3000 hạt của Hoa Kỳ. Vị trí của quận trưởng cảnh sát theo cơ chế bầu chọn. Có nhiều cảnh sát trưởng thực hiện nhiệm vụ thực thi pháp luật, Tòa án và nhiệm vụ quản chế. Tại nhiều tiểu bang, các cảnh sát trưởng hoạt động tại các nhà giam của hạt và phục vụ với tư cách một nhân viên của Tòa án hạt. Văn phòng cảnh sát trưởng có quyền cho bảo lãnh để cung cấp an ninh và quản lý bị cáo tại Tòa án. Cảnh sát trưởng cũng chuyển giao phạm nhân từ Tòa án và phục vụ việc giấy tờ cho Tòa án.

- Cảnh sát thành phố (thị trấn) là nơi có số lượng lớn nhất các cơ quan cảnh sát, số người làm việc trong đó đa phần là nhân viên có tuyên thệ và có trách nhiệm nặng nề nhất trong việc giải quyết các vụ án bạo lực. Thị trưởng hoặc người có trách nhiệm quản lý thành phố bổ nhiệm cảnh sát trưởng là người đứng đầu sở cảnh sát của các thành phố lớn.

3.1.2. Thẩm quyền điều tra

Không có đạo luật nào ở Mỹ quy định về cách thức các điều tra viên liên bang tiến hành việc điều tra của họ. Quy tắc tố tụng hình sự liên bang chỉ áp dụng đối với các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa, không áp dụng đối với các hoạt động điều tra hình sự. Tuy vậy, có một số văn bản luật quy định chi tiết về những biện pháp điều tra nhạy cảm như chặn nghe điện thoại và các phương tiện thông tin liên lạc điện tử khác. Các “điều tra viên hình sự” ở Mỹ tham gia vào những hoạt động trinh sát theo yêu cầu. Điều tra viên đi các nơi để tìm kiếm nhân chứng và lấy lời khai không chính thức của họ. Nhiệm vụ của điều tra viên là tiến hành điều tra “trực tiếp” tìm kiếm nhân chứng và những thông tin khác có thể giúp cho điều tra viên và công tố viên xác định người đó thực hiện hành vi phạm tội. Ghi chép trong quá trình lấy lời khai nhân chứng và các đồ vật đó thu được, nhìn chung không được phép trực tiếp đưa ra trước phiên tòa với tư cách là chứng cứ. Sau khi thu thập được, điều tra viên hình sự liên bang phải chuyển thông tin, đồ vật tới cho Công tố viên liên bang, người sẽ quyết định thông tin nào nên được sử dụng và có thể chuyển hóa thành chứng cứ chỉ tại phiên tòa, bằng cách chứng minh chứng cứ đó phù hợp với Quy tắc liên bang về Chứng cứ và đề nghị để tòa án chính thức chấp nhận những thông tin, đồ vật đó là chứng cứ.

Pháp luật cũng không yêu cầu điều tra viên liên bang phải đợi phê chuân của Trợ lý Chưởng lý để bắt đầu công việc điều tra của họ. Điều tra viên chỉ cần tuân thủ các thủ tục nội bộ của cơ quan họ, có thể hoặc không cần việc phê chuẩn của cấp trên, để bắt đầu tiến hành điều tra. Tổng Chưởng lý có thẩm quyền giám sát đối với Giám đốc của FBI nhưng trên thực tế, bị giới hạn rất nhiều. Tổng Chưởng lý rất hiếm khi tham gia sâu vào một cuộc điều tra hình sự cụ thể.

Các công tố viên ở Mỹ không có thẩm quyền ra quyết định điều tra, không có thẩm quyền giám sát đối với hoạt động điều tra đang được tiến hành, không có quyền ra lệnh mà chỉ có quyền yêu cầu điều tra viên tiến hành việc điều tra hay kết thúc điều tra hay thực hiện một số thủ tục điều tra nhất định. (Đương nhiên, nếu điều tra viên thực hiện một tội phạm mà công viên biết được,cho dù tội phạm được thực hiện liên quan đến nhiệm vụ điều tra của người đó hay không công tố viên có thể truy tố điều tra viên về tội phạm đó). Mức độ tham gia của công tố viên vào các hoạt động điều tra của cơ quan điều tra liên bang rất khác nhau, không chỉ vì sự khác nhau của một số quy định pháp luật, mà còn bởi sự khác nhau trong tập quán và thực tiễn, và việc đó thường khác nhau giữa các điều tra viên và giữa các công tố viên với nhau. Phần lớn các công tố viên liên bang phải dựa vào các cơ quan điều tra liên bang độc lập để tiến hành những thủ tục điều tra theo yêu cầu. Các nhân viên FBI rất kiên quyết trong việc tiến hành hoạt động điều tra, nếu như có thể, mà không có bất kỳ sự tham gia nào của công tố viên. Khi đã kết thúc việc điều tra của mình, họ sẽ chuyển kết luận điều tra vắn tắt cùng với lời khai của nhân chứng tới cho công tố viên để xem xét quyết định truy tố.

Các điều tra viên liên bang không có thẩm quyền ra lệnh tạm giam, ra lệnh bắt, lệnh khám xét hay lệnh thu giữ đồ vật tại cơ quan bưu điện. Ở Mỹ, trong cả hai hệ thống tư pháp hình sự liên bang và bang, chỉ có Tòa án có thể ra lệnh bắt hay lệnh khám xét, lệnh cho phép khám xét thư từ hay chặn nghe liên lạc điện tử hoặc lệnh giam một người trong giai đoạn điều tra.

Điều tra viên ở Mỹ không có thẩm quyền triệu tập nhân chứng. Điều tra viên chỉ có thể lấy lời khai nhân chứng nếu nhân chứng đó tự nguyện đồng ý cung cấp lời khai. Nếu các nhân chứng quan trọng từ chối cung cấp lời khai, điều tra viên có thể yêu cầu công tố viên liên bang mở thủ tục điều tra của bồi thẩm đoàn mở rộng.

Nếu công tố viên đồng ý, lệnh triệu tập của bồi thẩm đoàn mở rộng có thể được tống đạt cho nhân chứng bất hợp tác, những người sẽ bắt buộc phải xuất hiện và khai báo sau khi tuyên thệ trước bồi thẩm đoàn mở rộng.

Bồi thẩm đoàn mở rộng gồm có 23 công dân, những người được Tòa án lựa chọn để làm bồi thẩm trong thời gian 18 tháng. Bồi thẩm đoàn mở rộng họp tập thể và họp kín (đôi khi một ngày trong mỗi tuần hoặc ít hơn) để nghe lời khai của các nhân chứng về tội phạm được thực hiện tại địa phương. Đối với người bị khởi tố về một tội phạm nghiêm trọng có mức hình phạt có thể nhiều hơn mội năm tù giam, trong hệ thống liên bang, bồi thẩm đoàn mở rộng phải nghe đầy đủ chứng cứ để có thể ra quyết định truy tố chính thức, được gọi là cáo trạng, đối với người đó. Cáo trạng phải được công tố viên ký và bồi thẩm đoàn phê chuẩn và sau đó chuyển đến Tòa án.

Mặc dù bồi thẩm đoàn mở rộng do Tòa án triệu tập, nhưng thông thường các công tố viên liên bang sẽ là người kiểm soát mọi hoạt động của nó. Công tố viên là người quyết định các vụ án và nhân chứng mà bồi thẩm đoàn sẽ nghe. Công tố viên có thẩm quyền ra lệnh triệu tập thay mặt bồi thẩm đoàn mở rộng để bắt buộc nhân chứng phải xuất hiện trước bồi thẩm đoàn để khai báo hay cung cấp tài liệu, đồ vật. Khi nhân chứng khai báo trước bồi thẩm đoàn, chỉ có công tố viên và một nhân viên tòa án có mặt tại phòng làm việc cùng với các bồi thẩm (và một phiên dịch, nếu cần thiết). Tất cả mọi người tham gia, trừ nhân chứng, phải cam kết giữ bí mật. Điều tra viên không bao giờ được phép có mặt tại phòng làm việc của bồi thẩm đoàn mở rộng, trừ khi điều tra viên được mời đến với tư cách là nhân chứng, giống như các nhân chứng khác, để khai báo trước bồi thẩm đoàn.

Lệnh triệu tập của bồi thẩm đoàn mở rộng là biện pháp duy nhất theo quy định để bắt buộc nhân chứng phải xuất hiện để cung cấp lời khai trong giai đoạn điều tra vụ án. Trong phần lớn các vụ án mà việc điều tra do điều tra viên tự tiến hành, sau khi việc điều tra đó kết thúc, vụ án sẽ được chuyển tới cho bồi thẩm đoàn mở rộng để ra cáo trạng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi thẩm quyền ra lệnh triệu tập của bồi thẩm đoàn mở rộng là cần thiết để hoàn thành việc điều tra thì công tố viên sẽ quyết định tiến hành điều tra của bồi thẩm đoàn mở rộng với sự giúp đỡ của một điều tra viên. Đây là một thủ tục phức tạp. Thủ tục này sẽ phát huy hiệu quả hơn nếu công viên hay điều tra viên có quyền mình ra lệnh triệu tập trong hoạt động điều tra hình sự. Tuy vậy, Quốc hội đã không cho phép việc đó, trừ một trường hợp ngoại lệ đối với quyền ra lệnh triệu tập của Tổng Thanh tra.

3.2.            Công tố viên và Cơ quan công tố

Các cơ quan công tố của Mỹ được phân chia theo cấp bang và liên bang. Ở cấp bang, do pháp luật mỗi bang khác nhau nên nhiệm vụ và quyền hạn của Công tố viên ở từng bang cũng khác nhau. Tuy nhiên, cơ quan công tố các cấp có nhiệm vụ chung là truy tố phạm ra trước Toà án. Ở cấp bang, việc truy tố tội phạm bang do Chưởng lý liên bang truy tố. Các tội phạm liên bang thường là những tội nghiêm trọng như buân bán ma tuý, giết người, quan chức chính quyền phạm tội hoặc tham nhũng, các tội xâm phạm lợi ích an ninh quốc gia như phản quốc v.v… Các thông tin về chứng cứ đã được Điều tra viên thu thập sẽ được trình lên Bộ Tư pháp hoặc Chưởng lý liên bang. Sau đó, công tố viên liên bang sẽ quyết định có truy tố vụ việc ra Toà hay không. Ở cấp bang, các công tố viên tiến hành truy tố các tội phạm xâm phạm pháp luật của bang, quyền hạn và trách nhiệm của các công tố viên địa phương được phân chia theo cấp quận, mỗi bang đều có một Tổng chưởng lý và viên chức này có toàn quyền truy tố tất cả các tội phạm theo pháp luật bang quy định. Nhìn chung, công tố viên không giám sát quá trình điều tra mà thường nhận vai trò là luật sư chủ nhà đối với cảnh sát để chỉ dẫn việc tìm kiếm bằng chứng, hướng dẫn thủ tục bắt giam và bảo đảm việc thu thập chứng cứ theo đúng thủ tục. Nói chung, trong quá trình điều tra, dù ở cấp bang hay liên bang thì công tố viên Hoa kỳ đều có quyền lực đáng kể. Họ có thể không chấp nhận hồ sơ buộc tội do cảnh sát gửi tới cho đến khi những yêu cầu về chứng cứ của họ được cảnh sát đáp ứng, họ cũng có thể từ chối phê chuẩn lệnh bắt giam của cảnh sát. Ngoài ra, Công tố viên còn có thể huỷ bỏ hoặc đình chi vụ việc khi xét thấy việc điều tra của cảnh sát không đúng thủ tục hoặc chứng cứ yếu, không đủ để buộc tội hoặc có khả năng Toà án sẽ không chấp nhận các chứng cứ đó. Nếu công tố viên quyết định truy tố vụ việc ra Toà thì họ có trách nhiệm buộc tội gì, bao nhiêu tội và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Quyết định truy tố của công tố viên có ảnh hưởng quan trọng đối với hình phạt mà kẻ phạm tội có thể bị Toà án tuyên phạt nếu bị kết tội. Công tố viên Hoa Kỳ còn thực thi quyền hạn đáng kể về các vấn đề hình phạt thông qua quyết định buộc tội..

Quyền tuỳ nghi truy tố là quyền đặc biệt của Công tố viên. Với tư cách là một nhân viên được bầu hoặc được bổ nhiệm, công tố viên là người có quyền lực nhất trong hệ thống tư pháp hình sự. Các công tố viên thực hiện quyền tự quyết không bị ràng buộc, có quyền quyết định ai là người bị truy tố, đưa ra những lời buộc tội nào, khi nào thì bỏ qua lời buộc tội, có thực hiện việc mặc cả thú tội hay không và cần phải tổ chức thực hiện việc truy tố như thế nào. Các công tố viên thực hiện quyền tự quyết khi ra quyết định trong ba lĩnh vực chủ yếu là: Quyết định đưa ra lời buộc tội, quyết định đình chỉ vụ án (bãi bỏ lời buộc tội) mặc cả thú tội.       

Quyết định việc truy tố dựa trên 3 yếu tố: Thứ nhất, truy tố khi có đủ chứng cứ pháp lý (đủ các yếu tố tối thiểu để phát động truy tố hình sự), theo đó, một văn phòng công tố có thể tiếp nhận nhiều vụ án để truy tố nhưng xử lý phần lớn các vụ án đó thông qua thủ tục mặc cả thú tội. Những căn cứ để xem xét truy tố bao gồm: - Có đủ chứng cứ liên quan đến việc người bị tình nghi đã phạm tội; - Tính nghiêm trọng của tội phạm; - số lượng án tại Tòa án; - Sự cần thiết phải duy trì các nguồn lực công tố để giải quyết những vụ án nghiêm trọng hơn; - Tính sẵn sàng (thực tế) của những lựa chọn đối với hình thức truy tố; - Sự có lỗi của bị cáo (đáng khiển trách về mặt đạo đức); - Hồ sơ hình sự của bị cáo (tiền án tiền sự) - Sự mong muốn của bị cáo trong việc hợp tác tại giai đoạn điều tra hoặc truy tố những người khác. Thứ hai, để đẩy nhanh tiến trình tố tụng đối với các vụ án, giảm sự ùn tắc số lượng án tại các Tòa án, duy trì quyền công tố và giảm các phí tổn từ các nguồn lực của Tòa án, các công tố viên bỏ qua những vụ án chứng cứ yếu từ ngay đầu vào và giảm mức độ nghiêm trọng xuống thành tội ít nghiêm trọng nhằm giải quyết các vụ án thông qua mặc cả thú tội. Thứ ba, các công tố viên chỉ truy tố khi có đủ khả năng để xét xử, bao gồm cơ sở truy tố, điều tra của cảnh sát và đối chứng của luật sư. Các công tố viên chỉ đệ trình bản buộc tội trong trường hợp có đủ bằng chứng để đảm bảo việc kết án và chỉ sử dụng tối thiểu thủ tục mặc cả thú tội.

Trên cơ sở cân nhắc rất nhiều yêu tố bao gồm cả tính nghiêm trọng của tội phạm và sự thuyết phục của chứng cứ, công tố viên quyết định việc có truy tố người có hành vi phạm tội ra trước Tòa án hay không. Sau khi công tố viên đã đệ trình bản buộc tội, công tố viên có thể giảm buộc tội để đổi lại việc bị cáo nhận tội hoặc tiến hành thủ tục không truy tố. Thủ không truy tố là một hình thức công tố viên ra bản tuyên bố nêu rõ rằng vụ án sẽ không được tiếp tục tiến hành tố tụng. Những lý do cho việc thực hiện thủ tục này bao gồm không đủ chứng cứ, chứng cứ không được thừa nhận, không buộc tội được và bản chất của một số tội phạm là không đáng kể.

Mối quan hệ công tố viên – Cảnh sát - nạn nhân, nhân chứng

Để có được thành công, các công tố viên phải có sự hợp tác của cảnh sát, thẩm phán, nạn nhân và các nhân chứng. Ngược lại, trong lĩnh vực tư pháp hình sự, những đối tượng này lại phụ thuộc vào công tố viên.

Mối quan hệ giữa cảnh sát và công tố luôn là quan hệ phụ thuộc nhau. Phía cảnh sát phải dựa vào bên công tố để truy tố còn bên công tố phụ thuộc vào cảnh sát về chứng cứ. Cả hai bên hợp tác và tin tưởng nhau từ khi bắt đầu điều tra vụ án hình sự, đưa ra lời khuyến nghị và nghiên cứu pháp luật để bảo đảm rằng tất cả bằng chứng sẽ được chấp nhận. Công tố viên có thể gây ảnh hưởng lên cảnh sát bằng việc trả lại hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung và từ chối phê chuẩn lệnh bắt. Còn cảnh sát phụ thuộc vào các công tố viên trong việc đưa ra những lời khuyên cho cảnh sát về những vấn đề pháp lý trong vụ án hình sự như đảm bảo lệnh bắt chặt chẽ, tiến hành bắt giữ đúng luật, thẩm vấn người bị tình nghi và đào tạo nhân viên cảnh sát. Trong thực tế, nhiều công tố viên có điều tra viên của riêng họ thì nguồn chứng cứ cơ bản vẫn thuộc bên cảnh sát. Các công tố viên hạt ở Mỹ thường không có vai trò đáng kể gì trong giai đoạn điều tra, hiếm khi họ tham gia vào cuộc điều tra và sử dụng các điều tra viên của mình một cách rộng rãi để hỗ trợ cho việc điều tra của cảnh sát.

Nếu phải đưa vụ án ra xét xử, công tố viên và cảnh sát sẽ phải phối hợp chặt chẽ với nhau về những vấn đề liên quan đến việc làm chứng. Công tố viên không thể nói với nhân viên cảnh sát nói cái gì nhưng họ có thể và phải nói với nhân viên cảnh sát nói thế nào về những cái mà họ sẽ nói. Họ cũng huấn luyện cho nhân viên cảnh sát những vấn đề liên quan đến việc kiểm tra chéo, chuẩn bị cho họ đối phó với những câu hỏi khó mà bên biện hộ có thể đặt ra. Những mối quan hệ công việc này làm cho hoạt động của bên cảnh sát và công tố trở nên hiệu quả hơn. Kiến thức thực thi pháp luật của các chính sách truy tố, cho phép và khuyến khích việc bảo vệ vụ án trong quá trình thực thi pháp luật.

Các nạn nhân và nhân chứng là những yếu tổ quan trọng để Công tố viên quyết định việc truy tố. Quyết định buộc tội của Công tố viên phải dựa trên cơ sở tìm hiểu trao đổi với nhân chứng để xác định nhân chứng tiềm năng. Nếu lời nói hay hành động của nạn nhân chính là nguyên nhân của tội phạm thì công tố viên thường không đưa ra việc buộc tội. Nếu nạn nhân là người có tiền án thì công tố viên không thể tiến hành tố tụng với vụ án đó bởi vì bồi thẩm đoàn sẽ không bao giờ tin vào một người đã từng là cựu tù nhân là một nhân chứng đáng tin cậy. Về phần mình, các nạn nhân và nhân chúng cũng cần đến công tố viên vì bằng việc công tố viên quyết định tiến hành đưa vụ án ra trước Tòa, nạn nhân mới có được cơ hội được bồi thường hoặc được trả thù. Trong mội số vụ án nhất định như liên quan đến những băng nhóm tội phạm có tổ chức, các nhân chứng cần được bảo vệ để sống sót và ra làm chứng trước Tòa. Cơ quan cảnh sát Mỹ thiết lập Chương trình bảo vệ nhân chứng cung cấp nhận dạng mới cho các nhân chứng và đảm bảo an ninh cho họ.

Một số vấn đề về Công tố viên

Do vai trò là chủ thể hành động vì lợi ích của công lý và trách nhiệm truy tố, công tố viên phải xem xét toàn bộ vụ án một cách nghiêm túc, không chỉ xem chứng cứ có đầy đủ không mà còn phải xem xét cả tính đáng tin cậy của bằng chứng cũng như giá trị pháp lý của chúng. Công tố viên phải đặc biệt thận trọng khi đọc các báo cáo của cảnh sát và những lời thú tội để xác định chứng cứ có thực sự tồn tại? có bị ép buộc hoặc có các yếu tố khác có thể dẫn đến sai lầm của công lý hay không. Các công tố viên ở Mỹ hiếm khi có thể nói chuyện với bị cáo, vì vậy, họ cố gắng hiểu bị cáo trên cơ sở các báo cáo hơn là trực tiếp liên hệ. Tuy nhiên do sự quá tin tưởng giữa cảnh sát và công tố viên nên các công tố viên không xem xét một cách thấu đáo toàn bộ vụ án do các cơ quan thực thi pháp luật chuyển tới, do đó xảy ra tình trạng nhiều bị cáo đã bị kết án trên cơ sở sự nhận dạng của một nhân chứng duy nhất, tin vào lời khai gian dối, ngụy tạo làm giả chứng cứ.

Do vai trò buộc tội của Công tố viên nên đôi khi những chứng cứ có lợi cho bị cáo bị giấu diếm. Một trong những sự đe dọa lớn nhất đối với lẽ phải và tình tiết thực tế công bằng trong những án hình sự lại đến từ công tố khi họ giấu đi những bằng chứng có thể chứng minh sự vô tội củ bị cáo. Một số công tố viên quá sốt sắng có được việc kết tội đã không xem xét đến những chứng cứ thực tế quan trọng đối với việc chứng minh tội trạng và hình phạt thiên về có lợi cho bị cáo.

3.3. Luật sư biện hộ

Luật sư biện hộ là bên đối tụng với Công tố viên trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Có 3 cách thức chủ yếu để các bị cáo tự biện hộ cho mình trước Tòa án, đó là: Sử dụng dịch vụ pháp lý cho người nghèo; Thuê luật sư và tự đại  diện cho chính mình tại Tòa. Phần các bị cáo đều không đủ tiền đi thuê luật sư riêng cho mình. Khi bị cáo này là người nghèo theo quy định của pháp luật thì Tòa án được yêu cầu phải cung cấp cho họ đại diện pháp lý do Chính phủ chi trả nếu bản án có thể là bị phạt tù hoặc tạm giam. Đối với hầu hết những bị cáo phạm tội nghiêm trọng có khả năng tự thuê luật sư cho mình thì hiệp hội luật sư tư sẵn sàng có một nhóm luật sư ở quy mô lớn với dịch vụ đầy đủ bất kỳ lúc nào để thương thuyết nhận tội hoặc thuyết phục khách hàng của mình đưa ra một thỏa thuận có lợi đối với công tố viên. Trường hợp bị cáo muốn tự đại diện cho mình phải có ý thức và tự nguyện khước từ quyền có luật sư và phải có những tiêu chuẩn tối thiểu để chứng minh việc thực hiện quyền tự biện hộ của mình.

Trách nhiệm của luật sư biện hộ là đưa vụ án của bên công tố ra chứng minh theo quan điểm của mình. Luật sư biện hộ khi tiến hành chiến lược biện hộ cần xem xét đến tính đáng tin cậy của các nhân chứng bên bị và nhân chứng của bên công tố, thái độ của cộng đồng đối với tội phạm và bị cáo, bản chất các bằng chứng của bên công tố. Một nguyên tắc mang tính đạo đức quan trọng là một luật sư biện hộ không được cố tình khuyến khích hoặc giúp đỡ bị cáo nói dối khi đã tuyên thệ và cấm gọi những nhân chứng mà mình biết là sẽ nói dối với tư cách nhân chứng trước Tòa án. Luật sư có quyền kiểm tra chéo các nhân chứng của bên công tố và tìm ra những kẽ hở trong vụ án của bên công tố.

Thông thường, phương pháp biện hộ phổ biến nhất của luật sư biện hộ là đưa ra những câu hỏi về tính đáng tin cậy của các nhân chứng bên công tố, tìm cách tạo ra sự nghi ngờ về tính trung thực và đáng tin cậy của các nhân chứng trong ý thức của các bồi thẩm viên đối với các nhân chứng bên công tố.

Luật sư biện hộ có thể sử dụng bất kỳ hoặc tất cả các chiến thuật dưới đây: - Chứng minh định kiến của các nhân chứng bên công tố những người, do đó, mà có thể sẽ nói dối; - Vạch ra những sai lầm của cảnh sát trong việc thu thập, lưu giữ và kiểm tra vật chứng; - Đề cập đến vấn đề là bên công tố có thể hối lộ một nhân chứng nào đó bằng việc miễn giảm truy tố đối với việc buội tội treo để đổi lại việc nhân chứng đó làm chứng chống lại bị cáo; Thách thức tính đáng tin cậy của nhân chứng trên cơ sở logic hoặc cảm giác chung; - Tăng hiệu quả thách thức của những khía cạnh khác nhau trong vụ án của bên công tố như phí tổn, tiền bỏ ra cho các nguồn lực như điều tra viên, chuyên gia giám định kỹ thuật hình sự và chuyên gia pháp lý có thể ảnh hưởng đến kết quả của vụ án.

Về vị trí, vai trò của luât sư biện hộ trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ có hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, đa số các luật sư là những người chuyên bóp méo sự thật. Những chỉ trích đối với Hiệp hội luật sư cáo buộc rằng, khi bị cáo bị coi có tội thì các luật sư thường làm mọi cách trong phạm vi thẩm quyền của mình để ngăn ngừa việc đưa sự thật ra trước ánh sáng với những lý do chủ yếu như sau:

- Hệ thống tranh tụng khuyến khích các luật sư biện hộ xuyên tạc sự thật bằng việc giành lấy chiến thắng chứ không phải sự thật, mục tiêu cơ bản trong một vụ kiện hình sự. Khuynh hướng này thúc đẩy tâm lý phải chiến thắng bằng mọi giá đối với luật sư biện hộ và để đổi lại, luật sư phải xuyên tạc sự thật;

- Các luật sư biện hộ thực hiện công việc của mình một cách vô đạo đức. Họ thực hiện việc kiểm tra chéo sự bất tín về tính hiện thực hoặc tính đáng tin cậy của các nhân chứng đối địch, những người mà họ biết là sẽ nói ra sự thật và họ để các nhân chứng này vào thế bị cho là sẽ phạm tội khai man trước Tòa án.

Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng, đa số các luật sư không xuyên tạc sự thật trong khi thực hiện chức năng vì công việc của hầu hết luật sư là để biện hộ cho khách hàng của họ theo quy định của Tu chính án số 6. Việc biện hộ này đảm bảo rằng các quyền của người vô tội được bảo vệ và rằng, Chính phủ đặt ra những cuộc kiểm tra để chứng minh về phương diện pháp lý là việc có tội vượt quá những lý do nghi ngờ hợp lý- Đó là: Hệ thống tranh tụng khuyến khích sự biện hộ độc lập và chỉ thiên về một phía và điều đó là cần thiết để giữ cho hệ thống tư pháp hình sự được trong sạch. Một luật sư biện hộ tốt có thể vạch ra những tuỳ tiện trong công việc giám định khoa học của cảnh sát, những nhân viên cảnh sát có thái độ phân biệt chủng tộc và những hành vi truy tố không đúng đắn của bên công tố. Bằng việc giám sát và nghiên cứu thận trọng các thủ tục được sử dụng để chống lại bị cáo trong vụ án hình sự, luật sư biện hộ làm cho hệ thống tư pháp trở nên đáng tin cậy hơn và xứng đáng được tôn trọng hơn. Quan điểm này cho rằng hầu hết các luật sư biện hộ không phải là những người nói dối và luật sư biện hộ bị ràng buộc bởi các nguyên tắc chuyên môn: “Ngăn cấm luật sư đưa ra những kiến nghị chậm trễ, viện dẫn những chứng cứ không thể chấp nhận được hoặc những chứng cứ khai man hoặc khuyến khích những lời tranh cãi vổ bổ và không phù hợp trong vụ án...” và nếu vi phạm sẽ bị hiệp hội luật sư tiến hành kỷ luật. Mặt khác, trong khi các luật sư biện hộ đôi khi xuyên tạc sự thật thì các Công tố viên cũng có việc che dấu sự thật để giành được thắng lợi. Hầu hết các trường hợp biện hộ hay truy tố không đúng đắn là một sự không may của hệ thống tranh tụng. Tiến trình tranh tụng này là đinh chốt của hệ thống tư pháp hình sự tại Hoa Kỳ. Một tiến trình như vậy hoạt động trên giả định rằng sự thật sẽ được phơi bày từ những xung đột của bên công tố với bên biện hộ. Với tiến trình tranh tụng, bị cáo có toàn quyền được đảm bảo các quyền hiến định mà các quyền quan trọng nhất, theo quan điểm của hệ thống tranh tụng là quyền có luật sư đại diện. Đây là quyền quan trọng nhất để xác nhận các quyền quan trọng khác như quyền được đối chất với nhân chứng chống lại mình, quyền có đại diện, quyền được bắt buộc yêu cầu nhân chứng và chứng cứ, quyền được giữ im lặng và chung nhất là quyền được truy tố một cách công bằng trong vụ án của mình.

3.4. Tòa án

3.4.1.             Tổ chức hệ thống Tòa án

Hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống toà án Hoa Kỳ do Hiến pháp quy định. Hệ thống tư pháp liên bang tổ chức theo cơ chế: “Một Toà án tối cao và các Toà án cấp dưới mà Quốc hội đôi khi có thể định ra và thành lập". Theo đó, Toà án phúc thẩm trung gian được phân chia theo 11 khu vực lãnh thổ và 1 khu vực thủ đô (quận Columbia). Các toà án liên bang hay các toà án quận đều được tổ chức ở mỗi tiểu bang và vùng lãnh thổ. Hoa Kỳ có 94 toà án quận và mỗi tiểu bang có ít nhất 1 toà án. Các tiểu bang đông dân cư có thể có 2 toà án trở lên. Hiện nay, Hoa Kỳ có khoảng 180 thẩm phán toà án phúc thẩm và trên 630 thẩm phán toà án quận, các thẩm phán của tiểu bang được bầu ra hoặc bổ nhiệm theo Hiến pháp hay pháp luật của tiểu bang. Tất cả các thẩm phán Hoa Kỳ, tiểu bang cũng như liên bang cùng tất cả các nhà lập pháp của tiểu bang và liên bang đều phải tuyên thệ ủng hộ Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Điều VI-Mục3 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ).

Hệ thống toà án của tiểu bang và liên bang đều được xây dựng theo mô hình kim tự tháp. Toà án cấp thấp nhất là các Toà án sơ thẩm, tiếp theo là các Toà án phúc thẩm (cấp trung gian) và cấp cao nhất là Toà án tối cao (ở cấp liên bang là Toà án tối cao Hợp chủng quốc, ở cấp tiểu bang là Toà án tối cao bang). Khác với một số nước Châu Âu, ở Mỹ không tổ chức Toà án Hiến pháp mà bất kỳ Toà án nào cũng có quyền phán quyết hoặc tuyên bố một Bộ luật hay hành động của cơ quan hành pháp không hợp hiến. Thủ tục phúc thẩm đối với loại việc này do một Toà án cấp cao hơn tiến hành.

3.4.2.             Tòa án liên bang

a.             Thẩm quyển và thủ tục xét xử  tại Tòa án cấp quận

Tòa án cấp quận xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền liên bang, thực hiện việc xét xử có bồi thẩm đoàn với 12 bồi thẩm. Trình tự xét xử tại Tòa sơ thẩm như sau: vụ án bắt đầu từ khi Công tố viên liên bang có lý do để tin rằng có vụ vi phạm Luật hình sự Hoa Kỳ đã xảy ra. Sau khi có được cáo trạng từ Đại bồi thẩm liên bang, Công tố viên Hoa Kỳ đệ trình bản buộc tội chống lại bị cáo lên Toà án quận nơi họ công tác. Bị cáo có thể đưa ra những đề nghị nhằm gìn giữ những chứng cứ do họ cung cấp, bị cáo cũng có thể đề nghị chuyển vụ án đến một Toà án khác để xét xử... Nếu Toà sơ thẩm không chấp nhận những đề nghị của họ thì những đề nghị này sẽ làm căn cứ để kháng cáo lên Toà án cấp trên theo trình tự phúc thẩm.

Giai đoạn xét xử bắt đầu từ khi có bản luận tội của cơ quan công tố. Bị cáo có quyền chọn xét xử có bồi thẩm đoàn hoặc chỉ có thẩm phán làm chủ toạ phiên toà. Các vụ án hình sự thông thường vẫn áp dụng cơ chế xét xử có bồi thẩm đoàn - nguyên tắc nền tảng của hệ thống Common Law. Còn đối với các vụ án hình sự nhỏ như gây ô nhiễm, mất trật tự trị an nơi công cộng và các tội về giao thông khác thường áp dụng chế độ xét xử một thẩm phán.

Trình tự xét xử có bồi thẩm đoàn hoặc không có bồi thẩm đoàn diễn ra giống nhau. Ở một số Toà, thẩm phán chủ toạ phiên toà buộc phải có bản ghi các điều khoản của luật áp dụng trong việc định tội, còn thẩm không buộc phải đưa ra 1ý lẽ cho việc định ra đường lối xét xử. Quyết định kết tội của bồi thẩm đoàn có thể bị thẩm phán bác bỏ nếu thẩm phán cho rằng chưa đủ chứng cứ kết tội và thẩm phán có thể tuyên tha bổng cho bị cáo. Tuy nhiên nếu bồi thẩm đoàn phán định bị cáo vô tộ thẩm phán không thể bác bỏ điều đó vì như vậy là vi phạm quyền được bảo vệ đã được quy định trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Trình tự tố tụng của giai đoạn này được giới hạn bởi những quy định của Hiến pháp, Luật, Luật tố tụng Toà án và những quyết định của Toà thượng thẩm. Những chứng cứ được thu thập được để tội bị cáo phải được thẩm tra trong quá trình tố tụng, phải đảm bảo đúng đắn và không có gì phải nghi ngờ cả. Trong quá trình xét xử, những chứng cứ buộc tội được ủy viên công tố trình bày, lập luận trước Toà, việc bác bỏ những lý lẽ thuộc về bị cáo song không có nghĩa là bị cáo cứ chối tội là Toà đặt ra những nghi ngờ trong việc kết tội họ mà dựa trên quy định pháp luật phù hợp với những chứng cứ được chủ tọa phiên toà trình bày trước bồi thẩm đoàn. Bồi thẩm đoàn sau quyết định họp kín để phán định xem bị cáo có tội hay không? Toà án các tiểu bang đều yêu cầu các thành viên của bồi thẩm đoàn phải có sự nhất trí trong việc đưa ra phán quyết bị cáo vô tội, có tội hay chưa đến mức phạm tội hình sự. Luật pháp Hoa Kỳ có quy định những người nghèo phạm tội dù ít nghiêm trọng cũng được trợ giúp pháp lý. Họ có thể từ chối mời luật sư bào chữa cho mình. Trong thực tế, rất ít trường hợp bị cáo phạm tội hình sự nghiêm trọng từ chối luật sư bào chữa. Phán quyết của Toà có thể xảy ra 3 trường hợp: Bị cáo không phạm tội; Bị cáo phạm tội hình sự như bản cáo trạng đã nêu; Bị cáo nhận tội.

b.             Thẩm quyền và thủ tục xét xử tại Tòa phúc thẩm liên bang

Các Toà phúc thẩm liên bang (12 tòa) phụ trách việc xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự đã được xét xử sơ thẩm bởi các Tòa án quận trong một khu vực lãnh thổ nhất định. Khi có đề nghị phúc thẩm của Toà án cấp quận gửi lên Toà án phúc thẩm của Mỹ (thường được gọi là Toà điều tra) thì sau khi nghiên cứu, xem xét vụ án, Toà điều tra có thể gửi thẳng lên Toà án tối cao của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ các vụ án được Toà án tối cao phán xét.

Quốc hội cho phép Toà án khu vực quyền xét xừ phúc thẩm hai loại án: đó là các vụ án dân sự thông thường và các vụ án hình sự do tòa án liên bang xét xử. Trong các vụ án hình sự, người kháng cáo thường là bị cáo, còn đối với phán quyết không tội thì không được quyền kháng cáo. Trong các vụ án dân sự, bên thua tại phiên tòa sơ thẩm luôn là người kháng cáo nhưng bên thắng cũng có thể chống án nếu họ vẫn chưa hài lòng với phán quyết của toà án cấp dưới. Loại phúc thẩm thứ hai có phạm vi tương đối rộng, có thể bao gồm các vụ việc từ các cơ quan hành chính, các bộ hoặc các uỷ ban điều hành độc lập như Ủy ban chứng khoán và ngoại hối, Uỷ ban quốc gia về quan hệ lao động. 

Thủ tục xét xử phúc thẩm tại Tòa án cấp phúc thẩm:

-Người có quyền kháng cáo: người bị kết án, công tố viên, trong trường hợp bị cáo được tuyên vô tội. Người kháng cáo phải đệ trình văn bản nêu rõ căn cứ pháp luật áp dụng đối với các tình tiết thực tế của vụ án và lý do, lập luận cho yêu cầu kháng cáo.              

-               Căn cứ kháng cáo: sai sót về tố tụng và áp dụng pháp luật của phiên tòa sơ thẩm (chứng cứ đã được chấp thuận không có căn cứ; hướng dẫn của thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thấm đối với bồi thấm đoàn có sai sót dẫn đến việc bồi thẩm đoàn sai lầm khi ra phán quyết; thỏa thuận nhận tội đạt được không phải do tự nguyện v.v...). Đối với vấn đề hình phạt, kháng cáo chỉ có thể được chấp nhận nếu pháp luật quy định loại tội đó được phép kháng cáo.

-              Hội đồng xét xử: Gồm 3 thẩm phán, trong một số trường hợp, hội đồng có thể bao gồm tất cả các thẩm phán của Tòa phúc thẩm.

-              Phạm vi xét xử: Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét các vấn đề về áp dụng pháp luật, không xem xét mở rộng đối với các tình tiết thực tế đã được xem xét ở Tòa sơ thẩm.

-              Thủ tục xét xử: Hội đồng xét xử nghe các bên trình bày lập luận, yêu cầu và hỏi lại nếu thấy cần thiết; Hội đồng xét xử đánh giá mọi tình tiết và ra bản án.

-             Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm: + Không chấp nhận kháng cáo; + Chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm để đưa vụ án ra xét xử lại với bồi thẩm đoàn mới; + Đối với kháng cáo về việc tăng hoặc giảm hình phạt, nếu được chấp thuận, Tòa án phúc thẩm có thể quyết định ngay mà không phải hủy bản án sơ thẩm.

c.            Thẩm quyền và thủ tục xét xử tại Tòa án tối cao liên bang

Toà án tối cao Hoa Kỳ có thẩm quyền gần giống như thẩm quyền của Toà án cấp cao. Mặc dù Toà án tối cao luôn được coi như một Tòa phúc thẩm nhưng nó vẫn có những thẩm quyền xét xử chung và chủ yếi giải quyết những vụ kiện quan trọng giữa 2 tiểu bang với nhau hoặc giữa nhiều tiểu bang có tranh chấp. Hiến pháp Hoa Kỳ tuyên bố rằng Toà tối cao: “Sẽ có những thẩm quyền phúc thẩm theo những quy định mà Quốc hội định ra”. Các vụ phúc thẩm có thể được chuyển đến Toà án tối cao thông qua hai con đường chính: Thứ nhất, những kháng cáo từ tất cả các Toà án liên bang (theo lãnh thổ hoặc theo hiến định) và từ một số Toà án lập pháp của tiểu bang; Thứ hai, Toà án tối cao có thể xét xử phúc thẩm các vụ án do Toà án cấp cao nhất của tiểu bang xét xử sơ thẩm nhưng chỉ đối với những vấn đề quan trọng ở cấp liên bang.

Toà án tối cao của Hoa Kỳ là Toà án cấp cao nhất trong hệ thống Toà án liên bang, bao gồm 9 vị thẩm phán nghe và phán quyết vụ án. Tòa án này không có bồi thẩm đoàn.

Thủ tục xét xử tại Tòa án tối cao liên bang:

- Thủ tục đề nghị xem xét: Các bên không có quyền đề nghị Tòa tối cao liên bang xem xét lại bản án một cách trực tiếp mà phải thông qua việc nộp đơn kiến nghị lên Tòa án này giải thích lý do tại sao các vấn đề về luật trong vụ án có ý nghĩa quan trọng, cần được xem xét tại Tòa án tối cao liên bang.

- Thủ tục xem xét đơn kiến nghị: Bộ phận Thư ký của Tòa án tối cao liên bang (gồm các chuyên gia cao cấp về luật hoặc luật sư) sẽ xem xét đơn, kiến nghị với các thẩm phán về việc có chấp nhận đơn hay không. Thời hạn xét đơn trên thực tế thường là 2 tháng kể từ khi nhận được đơn. Tiêu chí để Tòa án tối cao liên bang chấp nhận đơn là vụ án: “quan trọng đặc biệt có ý nghĩa tới lợi ích của công chúng hoặc của Nhà nước". Tùy theo đánh giá của từng thẩm phán đối với tiêu chí nêu trên, nếu 4 trong 9 thẩm phán của Tòa án tối cao liên bang chấp thuận xét xử lại, thì Tòa án sẽ ra quyết định yêu cầu Tòa án cấp dưới chuyển toàn bộ hồ sơ tới Tòa án tối cao để xét xử.

- Phạm vi xét xử: Tòa án tối cao liên bang không xem xét lại các tình tiết thực tế của vụ án mà chỉ xem xét các tình tiết về luật. Phán quyết của Tòa án này là phán quyết cuối cùng về việc áp dụng pháp luật nói chung hoặc là giải thích Hiến pháp, giải thích luật.

- Thủ tục xét xử: Bên kháng cáo trình bày quan điểm, căn cứ của việc kháng cáo; Bên bị kháng cáo trình bày phản biện; Các thẩm phán đặt câu hỏi với các luật sư của cả hai bên. Trong phiên tòa này, các tài liệu, nhân chứng cũng có thể được đưa ra nhưng để củng cố quan điểm, lập luận pháp lý cho các bên tranh tụng chứ không phải diễn lại các sự việc của vụ án.

- Thẩm quyền của Hội đồng xét xử: Giữ nguyên bản án cũ hoặc hủy bỏ bản án cũ, ra phán quyết mới về vụ án.

d. Thủ tục xét xử rút gọn

- Tuy không có phần quy định riêng về thủ tục rút gọn, nhưng có thể coi thủ tục nhận tội và mặc cả thú tội quy định tại Nguyên tắc 11 là một dạng điển hình của thủ tục rút gọn. Bị cáo có thể tuyên bố không có tội, có tội, hoặc (được sự đồng ý của Tòa án) mặc nhiên thừa nhận. Trên cơ sở đó, Tòa sẽ áp dụng thủ tục ra phán quyết nhanh, không qua thủ tục tranh tụng đầy đủ tại Tòa. Việc mặc cả thú tội được thực hiện giữa người bị tình nghi, luật sư của họ và công tố viên.

Trước khi chấp nhận một lời thú tội hoặc mặc nhiên thừa nhận, Toà án phải triệu tập từng cá nhân bị cáo đến phiên toà công khai và xác định rằng việc thú nhận là tự nguyện và không phải là kết quả của việc dùng vũ lực, đe doạ hoặc hứa hẹn (ngoài những hứa hẹn trong thoả thuận thú nhận). Một luật sư cho chính phủ và luật sư của bị cáo, hoặc bị cáo khi tự bào chữa cho mình, có thể thảo luận và đạt được một thoả thuận thú tội theo đó không đưa ra hay hủy bỏ các cáo buộc khác, đồng ý với nhau về một hình phạt, khung hình phạt cụ thể hoặc một quy định cụ thể của Hướng dẫn mức án, tuyên bố chính sách, nhân tố có ảnh hưởng đến việc ra mức án cần được áp dụng hoặc không được áp dụng. Đây là căn cứ để Tòa đưa ra bản án ngay.

Toà án không được tham gia vào những cuộc thảo luận này. Các bên phải công bố thoả thuận thú tội tại phiên toà công khai. Tuy nhiên, Tòa án có thể chấp nhận hoặc bác bỏ thỏa thuận. Tòa án có thể ra phán quyết mà không cần đến một phiên tòa xét xử đầy đủ có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn để xem xét quyết, định có tội hay không có tội (Điều 11 Nguyên tắc TTHS Hoa Kỳ).

3.4.3. Các Tòa án bang

a. Các toà án tiểu bang

Mỗi bang của Hoa Kỳ đều có hệ thống tư pháp của riêng mình và hoạt động độc lập. Toà án cấp cao nhất của mỗi bang có quyền cao nhất về việc xây dựng các án lệ, luật của bang đó theo quan điểm của riêng mình. Giống như các Toà án liên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ba

b. Các toà án chuyên môn của bang

Là những Toà án sơ thẩm có thẩm quyền xét xử hạn chế, đối với một số loại vụ án nhất định. Mặc dù có sự khác nhau giữa các bang trong việc thành lập các Toà án chuyên môn nhưng các Toà án chuyên môn thường là những Toà án xét xử các vụ án về giao thông, hôn nhân gia đình, chứng thực di chúc về quản lý bất động sản của người quá cố, vị thành niên... Phán quyết của các Toà chuyên môn này cũng có thể bị chống án và xét xử lại bởi các Toà án của tiểu bang có thẩm quyền xét xử chung như đã nêu trên.

c. Ngoài hệ thống Toà án này, ở Mỹ còn có một loại Toà án nữa được gọi là Toà án địa phương. Những vấi đề mà các Toà án này được xem xét cũng chỉ là những vấn đề nhỏ như các quy định của luật liên quan đến phân vùng lãnh thổ; thu chi các nguồn thuế địa phương hay thành lập và điều hành các trường công lập và một số vấn đề phúc lợi xã hội khác. Quan toà địa phương chỉ là những công chức có quyền hạn về tư pháp một cách hạn chế do pháp luật địa phương quy định.

d. Hệ thống Toà án Hoa Kỳ cò tổ chức một số toà án đặc biệt khác như sau:

Toà án đặc biệt để xét xử những vụ án nhằm bảo vệ các quyền của liên bang hoặc xét xử hạn chế các đề nghị phúc thẩm của tất cả các Toà án quận trong các vụ án liên quan đến luật về bằng sáng chế cũng như các đề nghị phúc thẩm của Toà án bảo vệ các quyền liên bang và Toà án thương mại quốc tế Hoa Kỳ. Toà án này đã được nhiều người Việt Nam biết đến qua các vụ phán quyết việc kiện về tôm và cá da trơn xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ năm 2003, 2004.

Ngoài ra còn có Toà án hành chính chuyên xét xử những vụ án hành chính, Tòa án về tội phạm ma túy chuyên xét xử tội phạm ma túy và Tòa án về tội phạm vị thành niên.

3. Thi hành án

Sau khi bị Toà kết án về một tội phạm hình sự, người bị kết án phải chấp hành hình phạt của Toà do thẩm phán đã tuyên. Đối với mỗi tội phạm cụ thể luật quy định khung hình phạt cố định. Điều này cho phép thẩm phán không phải mất nhiều thời gian cân nhắc khi lượng hình. Trong hầu hết các loại tội, thẩm phán có quyền chọn một mức hình phạt thích hợp và có quyền xem xét cho họ được tạm tha hay phải chấp hành án tại các trại giam ở thành phố, thị trấn hoặc các trại giam do tiểu bang và liên bang quản lý. Khi quyết định đưa họ đến chấp hành án ở trại giam, thẩm phán phải cân nhắc kỹ thời hạn tối thiểu cũng như tối đa họ phải ở trại. Nếu chấp hành xong thời hạn tối đa họ sẽ được trả tự do nhưng nếu chỉ chấp hành một thời hạn tối thiểu vả có đủ tư cách theo luật định thì họ sẽ được tha tù có điều kiện. Uỷ ban thẩm quyền cho phóng thích có điều kiện và giám sát có quyền xét chấp nhận hoặc không chấp nhận cho họ được tha.

Đến nay ở hầu hết các Toà vẫn có một khoảng cách giữa thời gian bị kết án với thời gian phải thi hành án. Trong thời gian này, mọi hoạt động xã hội của người bị kết án trước khi bị bắt như quá trình học tập, công tác, quan hệ gia đình, bạn bè… đều được xem xét làm rõ giúp cho thẩm phán lựa chọn một hình phạt phù hợp, tạo điều kiện cho người bị án có cơ hội sửa chữa những lỗi lầm của mình.

Các loại hình phạt trong hệ thống tư pháp hình sự Hoa Kỳ bao gồm: hình phạt tử hình (có 38 bang và chính quyền liên bang có quy định áp dụng hình phạt tử hình, thường được áp dụng đối với những bị cáo phạm tội giết người ở cấp độ 1 với những tình tiết tăng nặng); hình phạt quản chế; giám sát quản chế chuyên sâu; trại cải tạo theo kiểu quân đội; giam giữ tại gia và giám sát điện tử; phạt tiền; khắc phục hậu quả; lao động công ích; trừng phạt bằng cách biêu riếu; tịch thu tài sản.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyên tắc tố tụng hình sự Hoa Kỳ

2.  Số chuyên đề về luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ, Thông tin khoa học kiểm sát, số 5+6 năm 2007.

3.  Số chuyên đề về so sánh pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới, Thông tin khoa học kiểm sát, số 3+4 năm 2008.

4. Criminal procedure a worldwide study - Carolina Academic Press – Durham, North Carolina, year 2007.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi