MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA ANH VÀ XỨ WALES

I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1. Nguyên tắc của tố tụng hình sự Anh

1.1. Án lệ

Nguyên tắc về tiền lệ pháp (stare decisis) có tính chất cơ bản và đóng vai trò trung tâm trong hệ thống tư pháp Anh. Nước Anh không có Hiến pháp thành văn. Tuy nhiên, Toà án vẫn có quyền giải thích và áp dụng một tội phạm hình sự đã được quy định trong luật vào một tình huống mới (tương tự). Theo nguyên tắc án lệ, một quyết định của Tòa án cấp cao hơn sẽ có giá trị ràng buộc với việc xét xử của Tòa án cấp dưới nếu xét thấy có tính liên quan. Khi xét xử, thẩm phán sẽ phải kiểm tra các tình tiết của vụ án hiện tại với vụ án đã được xét xử trước đó, nếu có liên quan thì phải áp dụng cho việc xét xử vụ án của mình. Án lệ của Tòa án thuộc Thượng viện Anh có giá trị bắt buộc áp dụng đối với toàn bộ hệ thống tòa án nước Anh. Các Tòa phúc thẩm phải áp dụng các án lệ từ các vụ án xét xử phúc thẩm trước đó. Trường hợp có sự xung đột giữa: các bản án phúc thẩm thì thẩm phán  xét xử phúc thẩm sẽ phải xem xét lựa chọn một tiền lệ nào để áp dụng và tiền lệ nào được quyết định không áp dụng. Tương tự, các quyết định của Tòa án thuộc Thượng viện về không áp dụng tiền lệ của Tòa án phúc thẩm có giá trị bắt buộc đối với toàn bộ hệ thống tòa án. Nếu tiền lệ pháp được thiết lập ra bởi một tòa án ngang cấp hay cấp cao hơn tòa án đang xét xử vụ án thì thẩm phán xét xử vụ án hiện tại phải theo quy tắc xét xử thiết lập ra từ vụ án trước đó. Nếu tiền lệ được thiết lập từ một tòa án cấp thấp hơn, thẩm phán xét xử vụ án mới có thể không tuân theo nhưng cần phải cân nhắc việc áp dụng cho việc xét xử vụ án mới của mình. Vì lý do cần tham chiếu với các tiền lệ có giá trị bắt buộc áp dụng mà thẩm phán nước Anh phụ thuộc rất lớn vào các tập hợp án lệ để đối chiếu, so sánh đối với các bản án, quyết định của Tòa án được ban hành trước đây.

1.2 Đảm bảo quyền bị cáo, bị can [1] được biết nội dung buộc tội mình

Nhằm để bị cáo biết được họ bị buộc tội về tội gì, một bản cáo trạng sẽ được lập ra trong đó ghi rõ quyết định truy tố của Viện công tố. Tại phiên toà, khi bắt đầu, bị cáo phải tuyên bố rõ có phạm vào những tội đó hay không, hay nói cách khác có đồng ý với bản cáo trạng hay không. Các tội mà Viện công tố (VCT) truy tố bị cáo phải được nêu một cách riêng rẽ trong cáo trạng. Hoàng gia có thẩm quyền truy tố và không truy tố một tội phạm khi xét thấy cần thiết (kể cả khi có tội) [2] . Một công dân có quyền thực hiện quyền tư tố để truy tố một người nào đó ra toà nhưng VCT giữ thẩm quyền được can thiệp để đình chỉ hoặc trực tiếp truy tố [3] .

1.3.           Quyền được xét xử bằng lời

Bất cứ khi nào có thể, mọi chứng cứ phải được nêu trực tiếp bằng lời trước toà. Khi đó, chứng cứ sẽ được thẩm định, đối chất nngay tại toà bởi các bên.

1.4.           Quyền được xét xử công khai

Về nguyên tắc, công lý chỉ thể có được tại một phiên toà công khai. Tuy vậy quyền này bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định như hạn chế công chúng tham dự, hạn chế các phương tiện thông đại chúng được tiếp cận đăng thông tin trong các phiên tòa mà cáo là người chưa thành niên hoặc vụ án liên quan đến bí mật quốc gia theo Đạo luật về tội phạm bí mật năm 1920. Nếu việc công khai thông tin dẫn đến nguy cơ có định kiến đối với bị cáo (trong những trường hợp xét xử có bồi thẩm đoàn) thì sẽ bị truy tố về tội coi thường toà án. Báo chí không được nêu hay tiết lộ thông tin về nạn nhân của vụ án hiếp dâm hay cưỡng dâm.

1.5.           Việc chấp thuận chứng cứ

Khác hẳn với Pháp và Đức, quy tắc chứng cứ của Anh rất chặt liên quan đến việc chấp thuận hay loại trừ một nguồn thông tin nào đó là chứng cứ. Quy tắc chung là chứng cứ sẽ được chấp thuận nếu nó có liên quan đến các tình tiết cần phải chứng minh giúp cho việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, Toà án có thể từ chối chấp thuận một chứng cứ nào đó do VCT đưa ra nếu việc chấp thuận có thể dẫn tới sự không công bằng và bình đẳng trong tố tụng. Có rất nhiều quy tắc về loại trừ chứng cứ, chẳng hạn trên cơ sở về quyền miễn trừ (của luật sư hay quyền được miễn trừ nếu cung cấp chứng cứ sẽ dẫn đến tự buộc tội) hoặc do quyền lợi của công chúng không thể nêu ra hay chứng cứ có được do nghe nói lại.

1.6.           Quyền được xét xử nhanh chóng

Đối với các vụ án ít nghiêm trọng, toà án không được xét xử nếu tội phạm không bị truy tố trong thời hiệu 6 tháng kể từ khi tội phạm xảy ra. Riêng đối với các tội nghiêm trọng, việc truy tố nói chung có thể được thực hiện bất cứ khi nào hay nói cách khác là không có thời hiệu. Tuy nhiên, nếu thời điểm phạm tội và truy tố cách xa quá lâu, việc truy tố thường không xảy ra trừ khi do đòi hỏi của công chúng cần thiết phải truy tố [4] . Toà án có thẩm quyền trong việc đình chỉ vụ án nếu xét thấy việc chậm trễ quá lâu mới đưa ra xét xử sẽ dẫn đến thiệt hại cho bị cáo hoặc tạo ra sự không công bằng cho bị cáo vì quyền lực tố tụng bị lạm dụng.

1.7.           Suy đoán vô tội

Tất cả mọi người được giả định là vô tội, trừ một số trường hợp đặc biệt, cơ quan công tố có trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội “vượt trên, cả mọi nghi ngờ”. Mặc dù thẩm phán chủ toạ không được yêu cầu sử dụng bất cứ từ ngữ nào đề cập tới "chất lượng ” của chứng cứ đưa ra, nhưng "sẽ là cần thiết và được phép khi thẩm phán hướng dẫn bồi thẩm đoàn rằng với các chứng cứ đưa ra, họ phải hoàn toàn thoả mãn vượt trên cả mọi nghi ngờ về hành vi phạm tộí của một người nào đó" [5] . Trong những trường hợp phía bị cáo đưa ra lý do bào chữa do bệnh điên, tâm thần hoặc có một văn bản luật chỉ rõ nghĩa vụ chứng minh thuộc bị cáo khi đó trách nhiệm chứng minh sẽ thuộc bị cáo và bồi thẩm đoàn sẽ ra phán quyết xem bên nào đưa ra chứng cứ thuyết phục hơn.

2.      Đặc điểm cơ bản của hệ thống tố tụng hình sự

Nhìn chung, hệ thống tố tụng hình sự Anh có những đặc điểm sau:

(1). Việc điều tra thuộc trách nhiệm của cảnh sát. Trong một số trường hợp đối với những vụ án ít nghiêm trọng, cảnh sát có quyền ra quyết định cảnh cáo đối với người phạm tội ngay mà không cần truy tố. Các vụ án khác mà cảnh sát chuyển hồ sơ cho VCT sẽ được các công tố viên quyết định truy tố với tội danh như cảnh sát chuyển sang hoặc thay đổi tội danh hoặc đình chỉ truy tố. VCT cũng có quyền đề nghị cảnh sát tiếp tục điều tra.

(2). Trước khi đưa ra truy tố, Viện công tố chịu trách nhiệm trong việc thẩm định, đánh giá chứng cứ một cách độc lập. Viện công tố có trách nhiệm chứng minh dựa trên những căn cứ “trên cả mọi nghi ngờ”.

(3). Hệ thống tố tụng mang đặc điểm tranh tụng, đối kháng giữa các bên buộc tội và gỡ tội với vai trò của toà án là có chấp thuận chứng cứ các bên đưa ra hay không. Do đó, với sự "giám sát” chung của toà án trong toàn bộ các hoạt động, bên buộc tội và gỡ tội có vai trò khởi động và kiểm soát đối với việc xác định các vấn đề sẽ đưa ra toà và đối với hoạt động tìm kiếm, lựa chọn và hỏi người làm chứng [6] ;

(4). Tại phiên toà, thẩm phán giữ vai trò trung lập và chịu trách nhiệm những vấn đề về luật và thủ tục tố tụng. Vấn đề xác định sự thật (có tội hay không) thuộc trách nhiệm bồi thẩm đoàn và khi họ quyết định họ sẽ không bao giờ phải đưa ra lí do đưa ra phán quyết;

(5). Do tầm quan trọng của thủ tục xét xử bằng lời, tất cả mọi chứng cứ đưa ra phải được trình bày trực tiếp tại toà (trừ một số trường hợp đặc biệt). Điều đó cho phép việc trình bày và đánh giá chứng phải trải qua thủ tục đối chất trực tiếp tại toà.

(6). Sau khi đưa ra phán quyết (có tội), vấn đề quyết định hình phạt  thuộc thẩm quyền duy nhất của thẩm phán chủ toạ phiên toà.

II.                MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ PHƯƠNG PHÁP TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Nhằm mục tiêu tìm kiếm sự thật khách quan của vụ án, tố tụng hình sự (TTHS) Anh sử dụng phương pháp đối tụng giữa các bên, xác định tội phạm trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa. Nghĩa vụ chứng minh thuộc các bên và vai trò thẩm phán là trung lập.

Để thực hiện mục tiêu tố tụng hình sự, hệ thống tư pháp hình sự của Anh và các nước theo truyền thống tranh tụng khác tuân thủ theo các nguyên tắc “bình đẳng về mặt quyền năng” giữa công tố và luật sư (equality of arms), nguyên tắc về suy đoán vô tội, quyền chống lại việc phải tự buộc tội hình sự chống lại mình (self-incrimination), quyền có luật sư bào chữa.

Tố tụng hình sự Anh - Mỹ đặc biệt coi trọng vấn đề các quy tắc về chứng cứ. Điểm khác biệt là mô hình tố tụng tranh tụng không tập trung vào xét hỏi tình tiết hay nội dung như truyền thống tố tụng thẩm vấn mà có xu hướng biến quá trình tố tụng thành một một cuộc tranh luận pháp lý. Điều này phát sinh yêu cầu cần phải có hệ thống các quy tắc thật sự phù hợp và đầy đủ về chứng cứ để điều chỉnh làm cơ sở cho hoạt động tố tụng, đảm bảo cho việc đối đáp trực tiếp với các nhân chứng ở phía đối lập bên kia, và ngăn các chứng cứ chưa được đảm bảo chắc chắn được trình ra trước Bồi thẩm đoàn gây thiên lệch [7] .

Trên lý thuyết, đặc trưng cơ bản của hệ tranh tụng theo mô hình Anh - Mỹ có hai yếu tố : Thứ nhất, là thẩm phán có vai trò trọng tài trung lập, không biết trước và không tác động trực tiếp đến nội dung tranh chấp; Thứ hai, đại diện cơ quan công tố là một bên trong tranh tụng, hoàn toàn ngang bằng với vai trò của luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo. Các bên chịu trách nhiệm cho việc thu thập chứng cứ, trình bày chứng cứ và lập luận của mình tại phiên tòa. Điều này trái ngược hoàn toàn với nguyên tắc pháp chế (principie of legality) tại một số nước tố tụng thẩm vấn như Việt Nam, theo đó quyền tùy nghi công tố, nhất là quyền năng thực hiện việc mặc cả thú tội hay quyền đình chỉ vụ án vì mức độ không còn nguy hiểm của tội phạm hoặc vì lợi ích công bị loại bỏ.

Tuy nhiên, một số học giả cho rằng mô hình này có thể hạn chế mục tiêu tìm kiếm sự thật khách quan của TTHS. Đó là nguy cơ dẫn dắt lờỉ khai nhân chứng của bên công tố và bên luật sư trước phiên tòa. Một số trường hợp các thẩm phán của Anh vì quá tích cực đã tự mình tiến hành việc kiểm tra, đặt ra câu hỏi bổ sung cho nhân chứng và ngay cả đưa ra bình luận về phần trả lời của họ. Nhiều học giả cho rằng điều này đã đi ngược lại với sự tự do của các bên được trình bày vụ việc theo cách của mình, là điều luôn được ghi nhận là yếu tố cơ bản của tố tụng tranh tụng cổ điển [8] .                               

Tính hiệu quả và các biện pháp bảo đảm của tố tụng tranh tụng trong mô hình nước Anh có thể thấy rõ qua việc so sánh với tố tụng thẩm vấn thuần túy (ví dụ như mô hình của pháp, Italia với đặc thù của thẩm phán điều tra) như sau:

Mục tiêu

Tố tụng tranh tụng

Tố tụng thẩm vấn thuần túy

Tính hiệu lực

- Công tố viên thực hiện chỉ đạo toàn bộ quá trình điều tra.

- Công tố viên có quyền tùy nghi nhất định để đình chỉ một số vụ án trước phiên tòa.

-Thủ tục rút gọn (nếu có).

- Có thể đình chỉ vụ án.

- Giới hạn việc xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm các lệnh tạm thời (xét tạm giam, hay tại ngoại).

-   Thẩm phán điều tra thực hiện chỉ đạo toàn bộ quá trình điều tra.

-   Tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc mọi tội phạm đểu phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

-   Thủ tục đầy đủ áp dụng cho tất cả tội phạm.

-  Không đình chi vụ án nếu không được điều tra đầy đủ.

-  Hầu hết các lệnh tạm thời đều có thể là đối tượng kháng cáo.

Các biện pháp bảo đàm

- Việc xem xét tư pháp đối với quá trình điều tra

- Phiên tòa diễn ra bằng lời và mở công khai.

- Phiên tòa có thể có nhiều thẩm phán khi thực hiện tuyên án.

-  Việc điều tra tiến hành mở, với rất ít ngoại lệ.

-  Thẩm phán điều tra trực tiếp thục hiện việc điều tra.

- Phiên tòa dựa trên hồ sơ lập sẵn.

-  Một thẩm phán thực hiện việc tuyên án.

-Hầu hết quá trình điều tra được giữ kín.

III. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, CÁC CHỦ THỂ TỐ TỤNG

1. Cơ quan tiến hành tố tụng

Việc điều tra thuộc trách nhiệm của lực lượng cảnh sát. Trước khi đưa vụ án ra truy tố, Viện công tố Anh chịu trách nhiệm việc thẩm định, đánh giá chứng cứ một cách độc lập và toàn diện. Hệ thống tố tụng mang đặc điểm tranh tụng, đối kháng giữa các bên buộc tội và gỡ tội với vai trò của Tòa án là có chấp thuận chứng cứ các bên đưa ra hay không. Tòa án nước Anh có quyền quyết định việc tạm giam hay gia hạn điều tra, truy tố ngay ở giai đoạn ban đầu. Do đó, với sự giám sát chung của Tòa án trong toàn bộ hoạt động, bên buộc tội và gỡ tội có vai trò khởi xướng và kiểm soát với các vấn đề sẽ đưa ra tòa và lựa chọn, gọi nhân chứng. Công tố trách nhiệm chứng minh các luận điểm còn có sự nghi ngờ. Tại phiên tòa, thẩm phán giữ vai trò trung lập và chịu trách nhiệm về thủ tục tố tụng và dụng pháp luật. Tất cả chứng cứ phải trình bày công khai tại tòa qua thủ tục kiểm tra và kiểm tra chéo chứng cứ. Vấn đề quyết định hình phạt thuộc thẩm quyền duy nhất của thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

Vai trò cụ thể của các chủ tiến hành tố tụng như sau:

Cảnh sát

Cảnh sát chịu trách nhiệm chung về điều tra tội phạm và khởi tố, kết luận điều tra về một tội phạm. Bên cạnh đó, việc điều tra có thể do các quan khác tiến hành, chẳng hạn lực luợng chuyên điều tra những tội gian lận nghiêm trọng và cơ quan ninh (MI5). Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng cảnh sát Anh được quy định trong Bộ luật về cảnh sát năm 1919 (đã được sửa đổi, bổ sung). Trên thực tế nước Anh không có một lực lượng cảnh sát quốc gia, mặc dù các đơn vị quốc gia và vùng đã được thiết lập trong vòng ba mươi năm trở lại đây để đấu tranh chống các tội phạm nghiêm trọng. Chịu trách nhiệm trước những người có thẩm quyền trong lực lượng cảnh sát bao gồm thành viên hội đồng và các thẩm phán. Cảnh sát phải chịu ttách nhiệm cá nhân cho việc quyết định sử dụng quyền năng pháp lý và thực thi nghĩa vụ pháp lý đó trên thực tế.

Cơ quan công tố Hoàng gia (CPS).

Trước năm 1985, việc quyết định truy tố và thực hành quyền công tố do cảnh sát đảm nhiệm và nhân danh cơ quan cảnh sát. Nhằm tách riêng hai hoạt động điều tra và truy tố, Đạo luật về việc truy tố tội phạm đã thiết lập cơ quan công tố với chức năng thực hiện tất cả các hoạt động công tố thay thế cảnh sát tại Anh và xứ Wales. Viện trưởng Viện công tố là người đứng đầu hệ thống cơ quan công tố và các công tố viên dưới quyền.

Cơ quan công tố Hoàng gia là một cơ quan thuộc nhánh hành pháp chịu trách nhiệm cho hầu hết các quyết định truy tố trên cơ sở sử dụng tài liệu cung cấp bởi cảnh sát. CPS do Viện trưởng Viện công tố trung ương lãnh đạo và chịu trách nhiệm trước Quốc hội thông qua Bộ trưởng Bộ tư pháp. Theo truyền thống luật của Anh, Bộ trường Bộ Tư pháp là cố vấn về các vấn đề pháp luật cho chính phủ và là người đại diện cho Hoàng gia (the Crown). Người nắm chức vụ này phải là một luật sư cao cấp (senior barrister) và phải do Nghị viện bầu ra. Cơ quan này có trụ sở tại 13 khu vực địa lý trên toàn nước Anh và xứ Wales và mỗi khu vực có một Viện trưởng. Ngoài ra, còn có các văn phòng trực thuộc các khu vực với một số lượng công tố viên nhất định. Các công tố viên do Viện trưởng Viện công tố Trung ương bổ nhiệm [9] từ những người đã là luật sư cao cấp hay cấp thấp [10] . Một số cơ quan khác cũng có thẩm quyền truy tố như Cơ quan Hải quan, Thuế vụ, Văn phòng bảo hiểm và an sinh xã hội (đối với những vi phạm khai man để lấy tiền trợ cấp xã hội) và các chính quyền địa phương (đối với các vi phạm nhỏ).        Cơ quan công tố có văn phòng tại 42 khu vực địa phương tại khắp nước Anh và xứ Wales. Nhìn chung công tố viên có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

-             Hướng dẫn cảnh sát điều tra các vụ án;

-             Xem xét lại các vụ án của cảnh sát để thực hiện việc truy tố;

-              Quyết định các tội cáo buộc ra tòa, trừ các vụ án không quan trọng;

-             Chuẩn bị hồ sơ truy tố ra Tòa;

-              Trình bày, bảo vệ cáo trạng tại Tòa.

Tòa án.

Mô hình của Tòa án Anh cũng giống như ở nhiều nước. Hệ thống Tòa án của nước này được chia làm hai nhánh là Dân sự và Hình sự. Trong hệ thống có Tòa án của Thượng Viện, Tòa phúc thẩm, Tòa cấp cao, Tòa án Hoàng gia Crown, Tòa án Magistrate, và Tòa án cấp hạt. Các công việc hành chính của Tòa án được giao cho Cơ quan phục vụ Tư pháp Hoàng gia, là một cơ quan hành chính thuộc Bộ Tư pháp Anh. Vì nước Anh là một thành viên của Liên minh Châu Âu, một số bản án của Tòa án Anh có thể là đối tượng xem xét lại tại Tòa án công lý Châu Âu, hay Tòa án Châu Âu về nhân quyền.

2. Vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng

Một đặc điểm cơ bản của toàn bộ hệ thống là sự thật sẽ được tìm ra qua việc các bên đối kháng có sự bình đẳng giữa trình bày sự buộc tội và gỡ tội và sau đó chính các bên sẽ đối chất, đánh giá các chứng cứ do bên kia đưa ra. Cả phía bị cáo và VCT phải tự trình bày lập luận của mình, xem xét chứng cứ, hỏi và đối chất nhân chứng. Người bị hại không có vai trò gì [11] .

Thẩm phán

Thẩm phán tại nước Anh cũng như ở các nước tranh tụng khác trên lý thuyết phải thể hiện được tính không thiên vị để đảm bảo cuộc tranh luận giữa các bên được diễn ra công bằng và đúng đắn tại phiên tòa. Theo nguyên lý cơ bản của hệ tranh tụng, thẩm phán sẽ chỉ quyết định một cách thụ động, dựa trên lời trình bày bởi các bên hơn là theo ý chí quan của mình. So với thẩm phán mô hình thẩm vấn, vai trò trọng của thẩm phán trong tố tụng tranh tụng chỉ giới hạn chủ yếu ở các vấn đề liên quan đến khía canh pháp lý và thủ tục của việc xét xử. Tuy nhiên, thẩm phán hình sự ở Anh ngày càng thể hiện xu hướng tích cực, chủ động hơn, vai trò trọng tài trung lập tuyệt đối thu hẹp dần. Các thẩm phán Anh đều do Nữ hoàng bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Thủ tướng phủ. Đứng đầu các thẩm phán là Chánh án Tòa án tối cao.

Tại toà án trung cấp (có bồi thấm đoàn), thẩm phán chủ toạ có vai trò điều khiển để các thủ tục tố tụng được diễn ra đúng đắn, nhất là khi có các thủ tục hỏi và đối chất nhân chứng, hướng dẫn bồi thẩm đoàn về việc có chấp thuận hay không chấp thuận chứng cứ các bên trình ra, tóm tắt vụ án cho bồi thẩm đoàn trước khi bồi thẩm lui vào họp riêng để đưa ra phán quyết, và nếu phán quyết có tội được tuyên thì quyết định mức hình phạt. Thẩm phán cũng được phép loại trừ, không chấp thuận chứng cứ nào đó nếu thấy rằng việc chấp thuận sẽ vi phạm nguyên tắc công bằng trong tố tụng.

Công tố viên (Bên buộc tội)

Trong tố tụng tranh tụng của Anh, Công tố viên được xem là một bên trong cuộc tranh luận nhưng công tố viên thực hành quyền công tố của mình theo cách thức khách quan và không thiên vị. Ví dụ, nếu qua việc kiểm tra chứng cứ, công tố viên phát hiện một nhân chứng đã khai báo sai gây ra những tổn hại cho bị cáo, công tố viên phải thông báo cho luật sư bào chữa biết rằng vấn đề đó có thể được làm sáng tỏ và giải quyết qua cách thức kiểm tra chéo chứng cứ được thực hiện sau đó bởi luật sư. Khi công tố viên thấy rằng một nhân chứng với chứng cứ của mình có thể làm lợi cho bị cáo, công tố viên phải thông báo với luật sư bào chữa để luật sư có thể gọi nhân chứng đó ra tòa làm chứng. Tại Anh, các công tố viên luôn sẵn lòng trợ giúp luật sư để xác định địa điểm của nhân chứng có nơi cư trú không rõ ràng, tránh tình rạng nhân chứng không thể được tìm ra [12] và khả năng gây ra bế tắc trong việc xét xử vụ án tại tòa.      

Như vậy, tuy là mô hình đối tụng nhưng các nước theo truyền thống tranh tụng luôn tồn tại sự hợp tác hiệu quả giữa công tố viên và luật sư. Công tố viên và luật sư trong hoạt động chức năng của mình thường tiết lộ, trao đổi với nhau về các chứng cứ mình có được. Do đó, danh mục các chứng cứ hay nhân chứng mà các bên dự kiến đưa ra tại phiên xét xử sơ bộ thường đã được trao đổi, thảo luận giữa hai bên. Dựa trên sự xem xét, đánh giá, tại phiên xử sơ bộ này, chứng cứ nào còn mâu thuẫn mới được chấp nhận đưa ra kiểm tra chính và kiểm tra chéo tại phiên tòa. Quan hệ này xuất phát từ tính bình đẳng giữa các bên trong hoạt động tố tụng hình sự cũng như yêu cầu hợp tác để hoạt động tranh tụng được diễn ra bình thường. Thực tế ghi nhận từ việc tham gia các phiên tòa tại Anh cho thấy các phiên tòa ở đất nước tranh tụng này được tiến hành trong một môi trường chuyên nghiệp, mang tính hợp tác, minh bạch, và hiện đại.

Luật sư bào chữa (Bên gỡ tội)

Tại nước Anh, Luật sư được chia làm 2 loại: Luật sư tư vấn (Solicitor) và luật sư tranh tụng (Barrister). Các luật sư hầu hết tham gia vào Tổ chức luật sư, là cơ quan chứng thực, quản lý chất lượng dịch vụ, đề ra tiêu chuẩn hành nghề, cũng như quản lý đạo đức nghề nghiệp đối với luật sư.

Về vị trí, vai trò của luật sư thuận lợi hơn nhiều trong tố tụng tranh tụng:

-   Tại phiên tòa, luật sư trình bày sau khi công tố viên đã hoàn thành việc trình bày ban đầu của mình. Điều này tạo cơ hội cho việc trình bày của luật sư trở nên rõ ràng và có thế đối đáp lại hiệu quả với phần trình bày của phía công tố viên.

- Luật sư bào chữa thực hiện việc kiểm tra chéo nhân chứng và chuyên gia giám định, là những người đưa ra các chứng cứ không có lợi cho bị cáo. Trên thực tế, việc kiểm tra chéo chứng cứ của luật sư là vô cùng quan trọng trong tố tụng tranh tụng. Trong sự độc lập và thiếu vắng sự can thiệp của thẩm phán và công tố viên trong hoạt động này, việc luật sư kiểm tra lại một cách cẩn thận những vấn đề được trình bày bởi nhân chứng trước tòa vào giai đoạn khai báo chính được cho là có thể giúp làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Sau khi công tố viên hỏi lại nhân chứng luật sư bào chữa cũng có quyền thực hiện việc kiểm tra chéo lại chứng cứ.

Tại nước Anh, nếu bị cáo thể hiện ý chí không muốn có luật sư được chỉ định, người này sẽ không được đại diện tại phiên tòa [13] . Luật sư bào chữa không bao giờ mang tính bắt buộc theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ, ngay cả khi bị cáo bị truy tố với tội danh nghiêm trọng nhất. Việc luật sư bào chữa thiếu năng lực, vi phạm nghĩa vụ của luật sư đối với khách hàng gây những thiệt hại pháp lý cho bị cáo là căn cứ kháng cáo phúc thẩm vụ án (trước khi thi hành Luật nhân quyền 1988). Ví dụ: luật sư vào phút chót vẫn không gọi thành viên của gia đình bị can để đưa ra cứ ngoại phạm, không mời bị can làm nhân chứng để tự bảo chữa cho mình tại phiên tòa [14] . Việc đại diện không có năng lực tại tòa Magistrate có thể được khắc phục bởi sự đại diện đầy đủ tại cấp phúc thẩm tại Tòa án Crovvn.

Bị can, bị cáo

Hệ thống tư pháp hình sự có rất nhiều quy định bảo đảm các quyền cho bị can trước, trong và sau khi xét xử. Những bảo đảm đó bao gồm: những quy định trong đạo luật PACE, những quy tắc chặt chẽ về việc chấp thuận chứng cứ, quyền của bị cáo được chất vấn với nhân chứng của bên buộc tội, quyền được đưa ra người làm chứng của mình, quyền im lặng và quyền được có trợ giúp pháp luật.

Bị cáo có quyền được biết về tội mà anh ta bị truy tố và được chuẩn bị cho việc gỡ tội. Trước năm 1996, công tố viên có cả nghĩa vụ thông báo trước cho bị cáo (trước khi xét xử) về tất cả mọi chứng cứ sẽ đưa ra trước toà, thậm chí kể cả những chứng cứ mà họ có nhưng không sử dụng cho việc buộc tội. Mặt khác, phía bị cáo không có nghĩa vụ phải thông báo trước cho công tố viên (trước khi xét xử) về các chứng cứ liên quan đến việc gỡ tội, trừ trường hợp có chứng cứ ngoại phạm hoặc khi có chứng cứ được cung cấp bởi các chuyên gia (giám định).

Bộ luật tố tụng và điều tra hình sự năm 1996 đã có những thay đổi lớn về nghĩa vụ thông báo trước về chứng cứ. Theo đó, công tố viên và bị cáo phải thông báo về cả các chứng cứ không được sử dụng cho việc buộc tội hay gỡ tội. Công tố viên phải cung cấp cho bên gỡ tội cả những chứng cứ mà công tố viên không sử dụng vì nếu sử dụng sẽ có tác dụng bất lợi cho việc buộc tội và thuận lợi cho việc gỡ tội. Trong trường hợp xét xử tại toà án trung cấp, sau khi bị cáo đã được cung cấp những thông tin liên quan đến việc buộc tội như chứng cứ, chi tiết lập luận trong cáo trạng, bị cáo cũng phải cung cấp cho công tố viên lập luận gỡ tội bằng văn bản. Bản lập luận này phải ghi rõ các nội dung: Nội dung chính của lập luận gõ tội, những vấn đề mà bị cáo sẽ đặt ra để thách thức công tố viên cùng với lập luận cần thiết. Trong đó, bị cáo hay luật sư của họ cũng phải thể hiện rõ những tình tiết ngoại phạm nếu có. Những yêu cầu tuơng tự như vậy cũng phải áp dụng đối với những trường hợp án xử theo thủ tục đơn giản (không có bồi thẩm đoàn). Thẩm phán cũng như bồi thẩm đoàn có thể suy diễn bất lợi cho bị cáo nếu bị cáo không thể đưa ra lập luận gỡ tội hoặc có đưa ra nhưng lập luận sau mâu thuẫn với những lập luận trước đó.

Toà án có thẩm quyền đình chỉ tố tụng nếu có vi phạm tố tụng và cũng có nghĩa vụ bảo vệ bị cáo để cho họ được đưa ra xét xử công bằng. Trong vụ án Hoàng gia kiện H, toà án đã phán quyết rằng sẽ là vi phạm tố tụng nếu: 1) bị cáo không được đưa ra xét xử một cách công bằng (thông thường là do chậm trễ) hoặc 2) toà án đã bị can thiệp hay bị tác động vì một lý do nào đó dẫn đến việc toà án đã không thể xét xử một cách công bằng và thoả đáng. Có thể suy luận là với nhận định đó toà án đã công nhận là các thủ tục tố tụng có thể và nên bị đình chỉ nếu bị cáo không được xét xử một cách công bằng cho dù vì lý do gì đi nữa.

Bị cáo có quyền im lặng.

Theo nghĩa rộng, quyền này được hiểu là công dân được tự do trong việc im lặng và từ chối cung cấp thông tin cho cảnh sát và các cơ quan chức năng khác của Nhà nuớc.

Tận tới năm 1995, việc bị cáo không thể trả lời và đưa ra bằng chứng không thể bị công tố viên bình phẩm tại toà. Hơn nữa, khi đó thẩm phán phải thông báo cho bồi thẩm đoàn rằng: bị cáo không có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ, và cho dù bồi thẩm đoàn không có cơ hội được nghe bị cáo trả lời trong quá trình đối chất chéo với bị cáo, bồi thẩm đoàn không được phép suy diễn rằng vì bị cáo không trả lời có nghĩa là bị cáo có tội. Bộ luật về Tư pháp và an ninh công cộng 1994 (CJPOA) ra đã thay đổi rất nhiều nội dung về quyền im lặng.

Thứ nhất, Điều 34 quy định thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn xem xét bị cáo có phạm tội hay không, có thể suy diễn bất lợi cho bị cáo khi thấy rằng bị cáo đã không thể trả lời đối với những câu hỏi của cảnh sát về một sự việc nào đó khi bị khởi tố và truy tố trước khi bị đưa ra xét xử mà không có lý do chính đáng.

Thứ hai, Điều 35 quy định thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn xem xét bị cáo có phạm tội không, có thể suy diễn bất lợi cho cáo khi thấy rằng bị cáo đã im lặng mà không có lý do chính đáng cho việc không trả lời tại phiên toà. Hơn nữa, quy định cấm công tố viên bình luận về việc bị cáo im lặng từ chối trả lời cũng bị bãi bỏ.

Thứ ba, thẩm phán hoặc bồi đoàn khi xem xét bị cáo có phạm tội hay không, có thể suy diễn bất lợi bị cáo khi thấy rằng bị cáo đã im lặng, không thể trả lời những câu hỏi liên quan đến những dụng cụ, vật dụng trên người bị cáo vào thời điểm họ bị cảnh sát bắt giữ (Điều 38).

Thứ tư, thẩm phán hoặc bồi đoàn khi xem xét bị cáo có phạm tội hay không, có thể suy diễn bất lợi

cho bị cáo khi thấy rằng bị cáo đã im lặng, không thể trả lời những câu hỏi liên quan đến sự hiện diện của bị cáo ở một địa điểm nhất định hay vào một thời điểm mà tội phạm đã xảy ra (Điều 37).

Trong vụ án Cowan, Toà phúc thẩm đã đưa ra giải thích hướng dẫn thi hành đối với Điều 35 khi một bị cáo tại phiên toà từ chối cung cấp chứng cứ. Toà đã đưa ra một số yêu cầu cơ bản để áp dụng điều luật này. Thứ nhất, Thẩm phán phải nói với Bồi thẩm đoàn rằng trách nhiệm chứng minh cũng như yêu cầu về chứng minh hoàn toàn thuộc về Công tố viên. Thứ hai, Bồi thẩm đoàn cần phải biết rõ là bị cáo có quyền im lặng, không nói gì. Thứ ba, không thể suy diễn là việc không thể cung cấp chứng cứ hay từ chối trả lời có nghĩa là bị cáo đã phạm tội. Thứ tư, Bồi thẩm đoàn cần phải chắc chắn là Công tố viên đã đưa ra đủ các chứng cứ về việc bị cáo đã phạm tội trước khi có những suy diễn (bất lợi) cho bị cáo khi thấy bị cáo im lặng, từ chối trả lời. Thứ năm, dù bị cáo có hay không có lý do cho việc im lặng, nếu Bồi thẩm đoàn chắc chắn rằng sự im lặng là do bị cáo không thể trả lời được các câu hỏi đặt ra hay không thể trả lời được khi bị đối chất chéo với Công tố viên, Bồi thẩm đoàn được quyền suy diễn bất lợi cho bị cáo.

Một vấn đề tuơng tự như quyền im lặng là Bồi thẩm đoàn được quyền suy diễn bất lợi cho bị cáo nếu bị cáo từ chối cung cấp những mẫu cơ thể như dấu vân tay, mẫu tóc, da khi được yêu cầu để phục vụ cho việc giám định.

Có những hạn chế đối với việc thực hiện quyền im lặng. Đó là theo Đạo luật về tài chính năm 1986, một người từ chối trả lời câu hỏi khi bị thanh tra bởi các thanh tra viên của Bộ Thương mại và công nghiệp hay bởi các Điều tra viên đối với các hoạt động tài chính theo đạo luật này. Tương tự, Luật tư pháp hình sự năm 1987 tại Điều 2 quy định rằng một người sẽ bị phạt tù nếu từ chối trả lời mà không có lý do chính đáng hay trả lời sai những câu hỏi của các viên chức thuộc Văn phòng chống tội phạm gian lận nghiêm trọng.

Để tránh cho Bồi thẩm đoàn việc bị định kiến với bị cáo, việc tiết lộ thông tin trước phiên xử được kiểm soát nghiêm ngặt. Đặc biệt việc tiết lộ trước phiên xử có thể dẫn đến việc hủy bất kỳ việc kết tội nào [15] cùng với việc giải tán Bồi thẩm đoàn. Khi quá trình xét xử đang diễn tiến, việc tiết lộ thông tin được xem là một tội phạm với chế tài nặng [16] .

Trong phiên tòa dựa trên bản cáo trạng, bị can có quyền lựa chọn ngẫu nhiên Bồi thẩm đoàn [17] , mặc dù người này hay cơ quan công tố có thể khiếu nại. Căn cứ để khiếu nại là: (a) sự không có quyền và không đạt yêu cầu; (b) nghi ngờ có căn cứ về sự thiên lệch của thành viên Bồi thẩm đoàn. Ngoài ra, cơ quan công tố có thể yêu cầu một thành viên Bồi thẩm đoàn “dừng hoạt động chức năng vì cơ quan công tố". Quyền này chủ yếu được sử dụng trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia hoặc trong trường hợp (có sự thỏa thuận với luật sư bào chữa) một thành viên Bồi thẩm đoàn có những biểu hiện rõ ràng là không phù hợp trong hoạt động của mình tại phiên tòa [18] . Nếu sau đó có căn cứ cho thấy khả năng thiên lệch là có thật thì sự kết tội có thể bị hủy [19] . Thẩm phán phải điều tra và nếu cần thiết, giải tán toàn bộ Bồi thẩm đoàn để tránh vi phạm tính công bằng của phiên xử theo Điều 6.1 của ECHR [20] nếu một thành viên bồi thẩm tiết lộ rằng một bồi thẩm khác có những bình luận mang tính phân biệt chủng tộc trong phiên tòa xét xử bị can là người Châu Á.

Nhằm “cân bằng về mặt vũ khí” cho phía bị can, pháp luật quy định bị can có quyền trình bày các tài liệu được nắm giữ bởi cơ quan công tố. Bị can có quyền được đại diện trong việc kiểm tra tất cả chứng cứ, bao gồm các phiên xử để xem xét liệu nhân chứng có thể đưa ra lời khai hay không [21] . Trong truờng hợp nhân chứng là trẻ em, Tòa án có thể xem xét chứng cứ mà không cần sự có mặt của bị cáo nếu Tòa án xét thấy hành vi hoặc sự hiện diện của bị cáo không phù hợp cho việc tiếp tục phiên tòa.

Bị can không bị xét xử hai lần về cùng một tội (double jeopardy). Trường hợp ngoại lệ, theo Bộ luật về điều tra và tố tụng hình sự năm 1996 tại Điều 54 và Điều 55, một bị can được tha bổng có thể bị xét xử lại nếu người này sau đó bị kết tội về một tội phạm liên quan đến việc hăm dọa hay can thiệp với thành viên bồi thẩm hay thành viên bồi thẩm tiềm năng, và Tòa cấp cao nhận thấy có khả năng bị can đã bị kết tội tại phiên tòa thứ nhất nhưng vì có lý do can thiệp hay hăm dọa hoặc trường hợp vụ án có vi phạm nghiêm trọng về mặt chứng cứ dẫn đến kết quả phán quyết đi ngược lại với lợi ích của công lý.

Đối với bị can bị bắt, tạm giữ hay tạm giam, Luật PACE đã đặt ra nhiều thủ tục để bảo vệ họ trong quá trình lấy lời khai, bị giam, giữ bởi cảnh sát.

Nhân chứng (bao gồm cả nhân chứng là chuyên gia).

Theo nguyên tắc chung, nhân chứng có thể là bất kỳ người nào, không có đặc quyền miễn trừ ngoại giao hay Nhà nước và bắt buộc phải cung cấp chứng cứ. Cả công tố lẫn luật sư có quyền bắt buộc triệu tập hay dùng trát của tòa để triệu tập nhân chứng. Việc nhân chứng không đến hay không trả lời câu hỏi mà không có lý do hợp pháp thì bị trừng phạt theo tội khinh thường Tòa án.

Có một số trường hợp đặc biệt, bị cáo có thể là nhân chứng nhưng họ không bị bắt buộc phải cung cấp chứng cứ. Đó là các trường hợp bị can có năng lực nhưng không thể bắt buộc, hoặc vừa không có năng lực vừa không thể bắt buộc (chẳng hạn trẻ em trên 14 tuổi, người chồng hay vợ của người bị cáo buộc)... Tuỳ trường hợp cụ thể khác nhau, người chồng/vợ của bị cáo bị bắt buộc phải cung cấp chứng cứ, tuy nhiên họ cũng có thế cung cấp hoặc có quyền từ chối cung cấp chứng cứ (không có lợi cho bị cáo) khi có đề nghị của Viện công tố hoặc trong trường hợp đồng phạm. Người chồng/vợ cũ của bị cáo có thể và bị bắt buộc phải cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của bị cáo - bên gỡ tội hay Viện công tố (bên buộc tội) về bất kỳ sự kiện gì xảy ra trước hay sau hôn nhân.

Trẻ em cũng có quyền và nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ trừ khi Tòa án cho rằng đứa trẻ không thể đưa ra thông tin để mọi người có thể hiểu được. Có rất nhiều quy định để đảm bảo an toàn cho trẻ em khi cung cấp chứng cứ, chẳng hạn, trẻ em có thể khai báo qua màn hình quay video trực tiếp để khỏi phải xuất hiện trước toà.

Liên quan đến các nhân chứng dễ bị tổn thương, đã có những quy định bảo vệ cho họ trong Luật Chứng cứ hình sự và công lý cho thanh niên năm 1999. Các nhân chứng được bảo vệ bao gồm những người sau đây: Người khiếu nại là trè em trong trường hợp tấn công hay đe dọa gây thương tích cho bất kỳ người nào, bắt cóc, bỏ tù sai, lạm dụng trẻ em, hay một số tội phạm khác chống lại trẻ em. Trẻ em đưa ra chứng cứ chính hay bị kiểm tra chéo chứng cứ theo sự chấp nhận chứng cứ từ băng video, có thể không bị kiểm tra chéo chứng cứ bởi bị can để tránh căng thẳng gây ra bởi môi trường mang tính nghi thức cao hay để tránh đối đầu với người lạm dụng.

Tất cả nhân chứng, trừ trẻ em, phải tuyên thệ, thề tại bục nhân chứng tại phòng xử án trước khi khai báo. Các bên được tự do yêu cầu nhân chứng khai báo trước toà theo đòi hỏi của mình và tuỳ trường hợp, luật sư bào chữa phải hỏi bị cáo trước khi hỏi các nhân chứng khác. Nhân chứng được quyền từ chối trả lời các câu hỏi mà nếu trả lời sẽ dẫn đến việc buộc tội chính mình. Khi khai báo, nhân chứng, kể cả bị cáo, có thể phải sử dụng đến các tài liệu để hồi phục lại trí nhớ của họ. Nếu nhân chứng không thể khai báo (do quên chẳng hạn), tài liệu văn bản có thể được sử dụng là chứng cứ. Những khai báo trước khi xét xử thường không được chấp thuận mà phải khai trực tiếp trước toà. Tuy nhiên, nếu nhân chứng theo yêu cầu của một trong hai bên (buộc tội và gỡ tội) bị Tòa án tuyên là đã khai báo trái ngược, không đúng với nội dung và tình tiết của vụ án đang diễn ra tại toà thì những lời khai trước đó của nhân chứng có thể được sử dụng.

Theo nguyên tắc về tư pháp công khai, thường nhân chứng sẽ đưa ra chứng cứ tại phiên tòa, tất cả các chứng cứ và nhân thân có thể được phổ biến [22] . Tuy nhiên, có một hạn chế liên quan đến nhân chứng là trẻ em và một số trường hợp khác. Thứ nhất, chứng cứ có thể được đưa ra dưới hình thức một bản khai viết tay nếu nhân chứng quá sợ hãi việc phải đưa ra chứng cứ tại Tòa [23] . Thứ hai, nhân chứng được phép trong một số tình huống đặc biệt đưa ra chứng cứ theo cách vô danh, trả lời qua văn bản, đưa ra chứng cử từ phía sau một màn hình dùng thiết bị thay đổi giọng nói, nếu có mối hiểm nguy cho sự an toàn của họ và việc này không gây bất lợi cho bị can, cân bằng giữa lợi ích cần thiết của nhân chứng và quyền công bằng [24] . Thứ ba, có thể hoãn việc công bố một số chứng cứ trong phiên tòa để ngăn ngừa phiên tòa công bằng bị thiên lệch [25] , hay để bảo vệ trẻ em [26] , hay để đảm bảo rằng các đối tượng mà nhân chứng được phép đưa ra chứng cứ vô danh không bị gây khó dễ [27] . Thứ tư, tòa có thể xét xử kín khi mà công lý tư pháp không thể đạt được theo cách mở phiên tòa công khai đối với công chúng [28] . Quyền này ít khi được thực hiện, hầu hết chỉ đối với vụ án liên quan đến an ninh quốc gia hoặc bảo đảm cho nhân chứng và các bên liên quan khỏi những việc rắc rối [29] . Khi Tòa án xử kín, việc công bố các chi tiết và quá trình xét xử có thể cấu thành hành vi khinh thường Tòa án [30] .

Theo pháp luật Anh, nhân chứng có thể là chuyên gia (hay giám định). Tại phiên toà, không có chuyên gia giám định được chỉ định bởi Tòa án mà các bên (buộc tội hay gỡ tội) đều có quyền mời những chuyên gia trong từng lĩnh vực đến để nói về những lĩnh vực mà họ biết cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Việc công nhận vai trò nhân chứng của chuyên gia đã tạo điều kiện cung cấp cho Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn những thông tin chuyên môn ngoài tầm hiểu biết của họ khi xử lý vụ án. Do đó, đối với những thông tin hay tình tiết đã được chứng minh và rõ ràng, sự tham gia của chuyên gia là không cần thiết. Chẳng hạn, chuyên gia về tâm thần học là cần thiết đối với những vụ án mà bị cáo có triệu chứng bị rối loạn tâm thần, còn đối với bị cáo có tình trạng tâm thẩn bình thường thì không cần thiết. Qua xem xét bằng cấp chuyên môn và kinh ngiệm nghề nghiệp, Thẩm phán là người có trách nhiệm công nhận một người có phải là chuyên gia về lĩnh vực mà họ định trình bày hay không để cho phép họ được làm chứng trước toà.

Chuyên gia giám định có quyền và trách nhiệm như những nhân chứng khác nhưng nếu được phép của Tòa án thì báo cáo viết của họ gửi tới toà có giá trị như khi họ trình bày bằng lời trước toà (Điều luật 30 Luật Tư pháp hình sự). Thực tế đã chỉ ra rằng có tới hơn 800 lĩnh vực chuyên môn khác nhau và ngày càng mở rộng hơn dẫn đến nhiều chỉ trích đối với cách thức sử dụng chuyên gia giám định, chẳng hạn chuyên gia sẽ dễ bị định kiến vì họ thường do một bên mời ra toà hoặc bất bình đẳng vì bị cáo thường không có tiền (như Viện công tổ) để trả cho chuyên gia. Do đó, có nhiều ý kiến đề nghị phải cho phép Tòa án chỉ định chuyên gia để tiết kiệm và ngăn chặn tình trạng phiên toà bị các chuyên gia thao túng.

Người bị hại (nạn nhân)

Theo truyền thống, nạn nhân là người bị bỏ quên trong hệ thống tư pháp hình sự. Họ không có một vị trí pháp lý chính thức đặc biệt nào trước toà ngoài việc được gọi ra toà để khai báo như một nhân chứng. Họ không có vai trò gì trong giai đoạn quyết định hình phạt, trừ việc được nhận lệnh đòi bồi thường cho những khoản nhỏ và bắt buộc phải kiện ra toà theo thủ tục tố tụng dân sự cho những bồi thường dân sự... Trong những năm gần đây đã có những cải thiện nhất định cho vị trí pháp lý của nạn nhân. Hiến chương nạn nhân quy định việc truy tố tội phạm đối với một số tội được xem xét trên cơ sở yêu cầu của nạn nhân. Nếu cảm thấy không hài lòng về một quyết định không truy tố, một nạn nhân có thể khiếu nại bằng cách nộp đơn lên Tòa cấp cao để xem xét lại theo thủ tục tư pháp. Nạn nhân trong vụ án hình sự có thể đòi bồi thường về tài chính bằng cách kiện ra tòa theo thủ tục dân sự, là thủ tục mà các tiêu chuẩn về chứng cứ thấp hơn so với tố tụng hình sự. Ngoài ra còn có các quy định về giữ kín thông tin nạn nhân trong một số vụ án như xâm hại tình dục, ngay từ khi bắt đầu đưa đơn tố cáo, trong suốt quá trình tố tụng và cả cuộc đời của nạn nhân sau này. Với nạn nhân là nhân chứng tại phiên tòa, nạn nhân có thể phải đưa ra chứng cứ, trường hợp đặc biệt có cơ chế thỏa thuận đặc biệt cho phép nhân chứng bị tổn thương trình chứng cứ bằng cách ít gây căng thẳng nhất.

IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA TÓ TỤNG

Trong mô hình tố tụng tranh tụng nổi tiếng tại Anh và xứ Wales, 3 chức năng buộc tội - bào chữa - xét xử được ví như là ba đỉnh của một tam giác cân, tại đó vị trí, vai trò của chức năng buộc tội và chức năng bào chữa là hai đỉnh ngang nhau, đỉnh còn lại là chức năng xét xử với vai trò của Thẩm phán như một trọng tàỉ không thiên vị, đảm bảo pháp luật và thủ tục tố tụng được áp dụng một cách đúng đắn.

Trong hệ thống tranh tụng tại nước Anh, Công tố viên là “diễn viên chính” vì Công tố viên phải trình bày vụ án trước tiên cùng với các chứng cứ và nhân chứng của mình trước Bồi thẩm đoàn và Thẩm phán, kiểm tra chéo chứng cứ đưa ra bởi phía luật sư để bảo vệ việc truy tố của mình một cách khách quan và không thiên vị. Như đã trình bày ở phần trên, để phiên tòa xét xử diễn ra công bằng, hiệu quả và không thiên vị, mối quan hệ hợp tác giữa Công tố viên và người bào chữa trước, trong và sau phiên tòa là yếu tố quan trọng, nếu không nói là quyết định, đảm bảo sự thành công của quy trình, thủ tục tố tụng hình sự.

Xuất phát từ nguyên tắc “bình đẳng về mặt quyển năng” trong tố tụng tranh tụng, luật sư bào chữa được tạo điều kiện ngang bằng trong việc trình bày vụ án cùng với các chứng cứ của mình ra trước Bồi thẩm đoàn và Thẩm phán, cũng như trong hoạt động thu thập chứng cứ truớc phiên tòa. Tại phiên tòa xét xử, việc kiểm tra chéo chứng cứ tiến hành bởi luật sư bào chữa đối với nhân chứng và giám định viên, là những người đưa ra chứng cứ bất lợi đối với bị cáo, thì thực hiện dễ dàng hơn rất nhiều so với hệ thẩm vấn [31] . Tương tự như vậy việc tiếp cận hồ sơ, các chứng cứ có được trong vụ án của nhau cũng được hai bên trao đổi, chỉ có những điểm còn mâu thuẫn hay nghi ngờ còn lại mới được đưa ra xem xét cuối cùng tại phiên tòa. Như vậy có thể kết luận, mối quan hệ giữa buộc tội và bào chữa trong tố tụng tranh tụng của Anh có liên quan mật thiết với nhau; tuy khác nhau về mục tiêu nhưng chức năng buộc tội trong tố tụng tranh tụng lại có thể là tiền đề cho chức năng gỡ tội và ngược lại.

Liên quan đến chức năng xét xử trong tố tụng tranh tụng, hệ thống này phụ thuộc rất lớn vào một người ra quyết định thụ động và trung lập để phán quyết đối với tranh chấp được đưa ra bởi các bên đối lập. Thẩm phán không được đưa ra bất kỳ phán quyết nào cho đến khi kết thúc việc tranh tụng và không được tham gia một cách tích cực vào việc thu thập chứng cứ. Hoạt động xét xử trung lập của Tòa án sẽ đảm bảo tính chất công bằng trong hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, cũng đã có những thay đổi trong thời gian qua đối với vai trò của Thẩm phán hình sự Anh. Trong một số trường hợp các Thẩm phán của Anh có thể đặt câu hỏi bổ sung cho nhân chứng và đưa ra bình luận về phần trả lời của họ. Các Thẩm phán đôi khi bị Tòa phúc thẩm phê bình vì đã quá tích cực. Nhiều học giả cho rằng điều này đã đi ngược lại với sự tự do của các bên được trình bày vụ việc theo cách của mình - yếu tố cơ bản của tố tụng tranh tụng cổ điển [32] .

V. CÁC GIAI ĐOẠN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1. Giai đoạn điều tra sơ bộ

Hoạt động điều tra của cảnh sát chù yếu được điều chỉnh bởi Luật Chứng cứ hình sự và cảnh sát năm 1984 (gọi tắt là PACE) sửa đổi và các luật hướng dẫn thực thi. Hầu hết các hơạt động điều tra do cảnh sát thực hiện, gồm: Thu thập chứng cứ, xác minh căn cước, bắt giữ, thẩm vấn và buộc tội người bị tình nghi [33] . Cơ quan công tố Hoàng gia là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và quyết định có truy tố một tội phạm ra toà hay không. Các vụ án sẽ được Viện công tố nhân danh Hoàng gia truy tố ra toà cấp cơ sở và Tòa án trung cấp. Bị cáo được quyền kháng cáo phúc thẩm về việc định tội và lượng hình trong khi VCT cũng có quyền kháng nghị phúc thẩm nhưng bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định.

Thẩm quyền cụ thể của cảnh sát khi tiến hành các biện pháp ngăn chặn như sau:

1.1. Bắt giữ

Bắt giữ là biện pháp ngăn chặn được thực hiện trên những căn cứ do luật quy định.

Về căn cứ bắt: Điều 24 (mới) của PACE quy định rằng cảnh sát có quyền bắt người dựa trên sự nghi ngờ có căn cứ rằng người đó đã thực hiện, đang thực hiện hoặc sẽ thực hiện một tội phạm, nếu cảnh sát có căn cứ hợp lý tin rằng cần thiết phải bắt một người để: (i) làm rõ tên và địa chỉ của người đó; (ii) ngăn ngừa người đó gây ra thương tổn cho chính mình và cho người khác, gây ra thiệt hại hay mất mát về tài sản, hay thực hiện một tội phạm chống lại trật tự công trong tình huống công chúng đang thực hiện hoạt động bình thường mà không thể tránh được sự xâm hại của người đó; (iii) bảo vệ trẻ em hay những người dễ bị tổn thương trước người bị tình nghi; (iv) bảo đảm điều tra nhanh chóng và có hiệu quả về tội phạm mà người đó thực hiện; (v) ngăn ngừa người đó trốn. Đây là các điều kiện cần thiết để thỏa mãn các yêu cầu của Điều 5(1)(c) của ECHR rằng việc tước đoạt tự do bằng biện pháp bắt và tạm giam hợp pháp được phép nếu nó tuân theo những trình tự, thủ tục quy định theo luật.

Khi một người đã bị bắt, phát sinh một số quyền và nghĩa vụ, tùy thuộc vào ai thực hiện việc bắt và việc bắt thực hiện ở đâu. Khi cảnh sát thực hiện việc bắt, người bị bắt phải được đưa đến đồn cảnh sát ngay khi có thể [34] . Luật quy định, người bị bắt phải được chuyển đến đồn cảnh sát chỉ định trong vòng sáu giờ kể từ lúc bắt. Tại đồn cảnh sát, một nhân viên phụ trách việc tạm giữ có trách nhiệm đảm bảo rằng các quy định của PACE và Luật C về giám sát người bị tình nghi được tuân thủ [35] .  Nhân viên phụ trách việc tạm giữ phải quyết định đã có đủ chứng cứ để khởi tố người bị bắt hay chưa [36] , đồng thời, tiến hành các hoạt động cần thiết để bảo quản chứng cứ liên quan đến tội phạm và để thu thập chứng cứ qua việc lấy lời khai người này, ghi lại thông tin về các thủ tục thực hiện liên quan đến người bị tình nghi và căn cứ để giam họ cho đến khi người bị bắt được thả hay được chuyển tới nơi khác.

Trước khi dẫn giải người bị bắt đến đồn cảnh sát, cảnh sát có thể khám. Cảnh sát có quyền khám người bị bắt ngoài đồn cảnh sát (thường khám vũ khí), nếu cảnh sát có căn cứ cho rằng người đó có thể gây nguy hiểm cho chính mình hay người khác [37] . Cảnh sát cũng có quyền khám người bị bắt nếu cảnh sát có căn cứ cho rằng người này có thể đã giấu giếm vật để sử dụng cho việc trốn khỏi nơi giam hoặc chứng cứ liên quan đến tội phạm [38] . Cảnh sát có thể khám nơi ở khi người đó đang hiện diện hoặc ngay sau khi người đó bị bắt, để tìm chứng cứ của tội phạm, nếu cảnh sát có căn cứ hợp lý để tin rằng chửng cứ có trong chỗ ở của người này [39] . Cảnh sát có thể hoãn việc đưa người bị bắt đến đồn cảnh sát nếu sự xuất hiện của người bị bắt ở nơi khác là “cần thiết để thực hiện việc điều tra khi có lý do để hành động ngay” [40] .

Việc giữ người chỉ trong thời hạn 24 giờ. Sau 24 giờ, người bị tạm giữ phải bị khởi tố hay được thả, trừ khi cảnh sát viên cao cấp cho rằng việc tạm giam là cần thiết để bảo đảm chứng cứ truy tố tội phạm, đảm bảo việc điều tra được thực hiện một cách “cẩn trọng và nhanh chóng” [41] thì có thể gia hạn tạm giữ tiếp 12 giờ. Trường hợp đặc biệt, theo Luật khủng bố năm 2000 và năm 2006 Tòa án cho phép tạm giam mà không có khởi tố trong vòng 28 ngày, tạm giam người di dân bất hợp pháp bị tình nghi theo Luật di dân năm 1971 được phép trong 24 giờ kể từ “thời điểm liên quan”, sớm hơn thời điểm bắt hay đến đồn cảnh sát [42] .

Nếu Điều tra viên thấy cần tiếp tục tạm giữ trước khi khởi tố thì phải đưa người bị tạm giữ ra trước Tòa án Magisrtrate (Tòa án quận) để cấp một lệnh tạm giam bổ sung sau 24 giờ. Người bị tình nghi có quyền mời luật sư của mình ngay khi đến đồn cảnh sát. Lệnh tạm giam có thể được gia hạn, nhưng tổng thời gian giam mà không khởi tố không được vượt quá 96 giờ từ “thời điếm liên quan” [43] .

1.2. Dừng phương tiện

Luật PACE quy định nhân viên cảnh sát có quyền dừng phương tiện khi có căn cứ nghi ngờ hợp lý rằng phương tiện có chứa các vật cấm, vật trộm cắp hay một vật phẩm có lưỡi nhọn hay hình sắc trong người bị giữ có khả năng gây thương tích. Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ như quyền dừng và khám tìm vũ khí tấn công nguy hiểm thực hiện trong một địa bàn xác định trong vòng 24 giờ, và có thể gia hạn thêm 6 giờ mà không cần sự nghi ngờ hợp lý, nếu cảnh sát tin rằng cần nhanh chóng làm như vậy để ngăn chặn bạo lực nghiêm trọng tại địa bàn; quyền khám xét các vật cẩm, vật trộm cắp, vật có lưỡi hay vật thể sắc nhọn được dùng để gây thương tích nhằm ngăn ngừa tội phạm khủng bố.

Quyền dừng và khám xét phát sinh từ quyền tạm giữ. Các phương tiện bị dừng có thể chỉ bởi một nhân viên cảnh sát mặc quân phục [44] .Vũ lực hợp lý có thể được sử dụng nếu cần thiết để giúp nhân viên cảnh sát thực thi quyền của mình [45] . Tuy nhiên, cần phải đảm bảo thủ tục, trình tự khám theo quy định [46] .  Nhân viên cảnh sát phải lập biên bản khám [47] và thông báo về việc khám phương tiện khi không có chủ phương tiện.

1.3. Khám xét nơi ở

Lệnh khám xét được ban hành nhằm mục đích tìm kiếm các vật chứng có khả năng là chứng cứ của tội phạm [48] . Theo luật PACE, việc khám xét nơi ở phải cỏ lệnh của Thẩm phán, nhưng theo thông luật, cảnh sát được khám xét nơi ở nểu được sự đồng thuận của người chiếm hữu nhà ở đó, hoặc trong các trường hợp cảnh sát được quyền khám xét mà không cần lệnh. Nếu không có các điều kiện này, việc khám xét là không hợp pháp [49] .

Thủ tục để có lệnh. Hầu hết các lệnh được ban hành bởi Thẩm phán cấp huyện trên cơ sở đơn đề nghị của cảnh sát, kèm theo bản giải thích tóm tắt thông tin và người nộp đơn phải trả lời các câu hỏi của Thẩm phán nhằm xác định cụ thể các vật và người muốn tìm. Điều 15(6) quy định rằng lệnh phải chỉ rõ tên, ngày ban hành, ban hành theo luật nào, nhà nào được khám (nếu lệnh khám một nhà cụ thể) hay tên của người cần điều tra (nếu khám tất cả các nhà).

Thực thi lệnh. Lệnh có hiệu lực trong ba tháng [50] . Về thủ tục, cảnh sát phải trình lệnh cho người chiếm hữu nơi ở và phải cung cấp cho người chiếm hữu nơi ở một bản sao lệnh khám xét [51] .  Người chiếm hữu phải được nhận một “Thông báo về quyền” giải thích về quyền khám xét và phạm vi thẩm quyền theo luật liên quan [52] . Cảnh sát có thể dùng vũ lực hợp lý nếu cần thiết [53] .

Các việc ủy quyền khác liên quan đến việc xâm hại quyền bí mật riêng tư. Việc nghe trộm phương tiện thông tin, bao gồm thư điện tử, có thể được cho phép bởi Bộ trưởng Bộ Nội vụ nếu việc đó là cần thiết vì lợi ích an ninh quốc gia hay để phát hiện và ngăn chặn tội phạm nghiêm trọng, hoặc để bảo vệ hoạt động bình thường của nền kinh tế nước Anh và thực hiện các thỏa thuận tương trợ tư pháp quốc tế nhằm ngăn ngừa và hay phát hiện tội nghiêm trọng [54] . Các thông tin có được từ biện pháp này không thể sử dụng tại Tòa án bởi yêu cầu bảo vệ nguồn và bởi không thể giải thích tại tòa về nguồn chứng cứ thu thập được [55] .  Việc nghe trộm bí mật của hệ thống không cần lệnh và không áp dụng cơ chế pháp luật.

Quyền bí mật riêng tư có nguồn gốc từ quyền được tôn trọng bí mật cá nhân và gia đình, nhà cửa và liên lạc theo Điều 8 ECHR và Luật quyền con người năm 1988. Khi việc cho phép tìm kiếm và lấy tài liệu từ nơi ở riêng tư [56] ,  văn phòng làm việc hay việc thu được các thông tin liên quan đến bí mật cá nhân, các tài liệu báo chí bí mật, cần có sự đồng ý của đại diện chính quyền trung ương [57] (người được bổ nhiệm bởi Thủ tướng, các quyết định của người này được miễn trừ xem xét tư pháp). Giấy phép đặt máy nghe trộm hay bẻ mã khóa được ban hành chỉ khi quan chức có thẩm quyền cho là cần thiết để phát hiện và ngăn ngừa tội phạm nghiêm trọng mà không có cách nào khác có hiệu quả hơn. Tội phạm nghiêm trọng có thể là tội phạm liên quan đến sử dụng vũ lực, dẫn đến việc thu lợi nhuận tài chính lớn và được thực hiện bởi nhiều người vì mục đích chung (có khả năng tạo ra sự phản đối của công chúng lớn) [58] hay có khả năng dẫn đến bản án với hình phạt ba năm tù [59] . Đối với các quyền đơn giản hơn, được chuyển tới cơ quan an ninh (MI5) thực hiện theo Bộ luật về cơ quan tình báo an ninh năm 1994.

Các dạng giám sát khác được điều chỉnh theo Luật về quyền điều tra năm 2000. Việc giám sát xâm nhập (gồm giám sát các cuộc đối thoại và sự di chuyển bằng quan sát, hay sử dụng phương tiện) chỉ có thể được phép bởi Bộ trưởng Nội vụ hay bởi một sỹ quan điều tra cao cấp (với sự đồng thuận của người đại diện chính quyền trung ương), khi cần thiết. Việc giám sát bí mật mang tính không xâm nhập đối với một đối tượng cụ thể (giám sát trực tiếp), như quay phim có thể được thực hiện bởi một sỹ quan cảnh sát có hàm cao cấp và phải bảo đảm yêu cầu về sự cần thiết. Việc sử dụng các nguồn tin do con người mang lại có thể cấu thành sự xâm phạm nghiêm trọng bí mật cá nhân. Chỉ có những người nhất định trong cơ quan điều tra được cho phép thực hiện việc giám sát bên trong nhà người bị tình nghi, yêu cầu bảo vệ người bị tình nghi và nguồn chứng cứ là rất cao [60] .

2. Giai đoạn xét xử

Các phiên tòa hình sự về bản chất là tranh tụng, Công tố viên có trách nhiệm trình bày lời buộc tội bị cáo theo cách thức công bằng và khách quan. Cơ quan công tố phải chứng minh tất cả các yếu tố của tội phạm. Bị cáo không được yêu cầu phải hỗ trợ Công tố viên hay chứng minh sự vô tội của mình. Nếu phiên tòa có Bồi thẩm đoàn diễn ra tại Tòa Crown thì Đoàn bồi thẩm gồm 12 người, có độ tuổi từ 18 - 70 sẽ tham gia phân tích, đánh giá chứng cứ và biểu quyết theo đa số để kết luận là bị cáo có tội hoặc không có tội.

Tòa án cấp cơ sở xét xử hầu hết các vụ án hình sự, chủ yếu là các tội ít nghiêm trọng, bằng thủ tục giản lược. Những vụ án nghiêm trọng khác được xét xử tại Tòa án cấp cơ sở hoặc Tòa án trung cấp và thông thường theo sự lựa chọn của bị cáo. Hội đồng xét xử của Tòa án cấp cơ sở gồm ba Thẩm phán không chuyên cùng một trợ lý Thẩm phán có nhiệm vụ hướng dẫn Thẩm phán không chuyên những vấn đề về luật. Hội đồng xét xử đó có thẩm quyền định tội và quyết định hình phạt. Tại các thành phố lớn, hội đồng xét xử chỉ bao gồm các Thẩm phán chuyên nghiệp. Người bị kết tội có quyền kháng cáo về việc định tội và lượng hình tới Tòa án trung cấp. Cả người bị kết án và VCT đều có quyền kiến nghị lên Tòa án tối cao đối với những vấn đề về việc áp dụng pháp luật của Tòa án trung cấp hoặc Tòa án cấp cơ sở.

Những bị cáo phạm tội nghiêm trọng được xét xử sơ thẩm tại Tòa án trung cấp với hội đồng xét xử gồm một Thẩm phán và một Bồi thẩm đoàn. Những tội nghiêm trọng nhất được xét xử sơ thẩm tại Tòa án tối cao (chi có một Thẩm phán tại phiên sơ thẩm). Kháng cáo, kháng nghị đối với các bản án này sẽ được xem xét tại phiên toà phúc thẩm của toà tối cao với thành phần gồm 3 Thẩm phán. Kháng nghị, kháng cáo giám đốc lên Tòa án tối cao đối với các vấn đề về luật do đòi hỏi từ công chúng chỉ có thể được cho phép nếu được sự chấp thuận của toà phúc thẩm hoặc của chính các thành viên của Tòa án tối cao. Khi đó việc xem xét sẽ được thực hiện bởi một hội đồng gồm 5 Thẩm phán của Tòa án tối cao.

VI. QUYỀN BÀO CHỮA VÀ CƠ CHẾ ĐẢM BẢO

Quyền bào chữa được quy định trong cả thông luật cũng như luật thành văn như Luật Nhân quyền năm 1998 (chuyển hóa ECHR). Quyền này trong tố tụng bảo đảm cả trong giai đoạn điều tra và xét xử.

Quyền được tư vấn và đại diện pháp lý được coi như một trong những quyền cơ bản của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Theo quy định của Luật, kể từ năm 1984, một người bị bắt và bị giữ tại đồn cảnh sát có quyền “được gặp luật sư vào bất kỳ thời điểm nào” [61] . Một người được cảnh sát lấy lời khai mà không bị bắt cũng có quyền có sự trợ giúp tư vấn pháp lý.

Khi một người bị tình nghi yêu cầu tham vấn với luật sư của mình thì cảnh sát phải sắp xếp một cuộc gặp càng sớm càng tốt. Việc cảnh sát không thông báo với người bị tình nghi về quyền được tham vấn với luật sư bào chữa hay không cho phép gặp luật sư theo yêu cầu của người bị tình nghi có thể dẫn đến việc loại trừ chứng cứ có được sau đó.

Quyền được đại diện pháp lý tại phiên tòa được điều chỉnh chủ yếu bởi án lệ và không có quy định pháp luật thành văn rõ ràng nào về đại diện và trợ giúp tư vấn pháp lý. Tòa không có nghĩa vụ yêu cầu thông báo cho bị can quyền này. Trên thực tế, Tòa thường thông báo với bị can không có đại diện quyền gặp tham vấn với luật sư, đặc biệt khi họ có nguy cơ mất tự do trong thời gian bị giam khi hoãn xử, hay sẽ là đối tượng của án giam, về nguyên tắc, không có sự hạn chế về quyền của bị cáo được liên lạc với luật sư của mình.

Trợ giúp pháp lý luôn được đảm bảo cho tất cả các phiên tòa hình sự. Không có cơ chế chính thức nào cho bị can được thông báo về sự có sẵn của các nguồn trợ giúp pháp lý, ngoài những vụ án nhỏ, Tòa án thường khuyên bị can, bị cáo không được đại diện về những luật sư công hay những cơ chế trợ giúp pháp lý và thường hoãn việc xét xử vụ án để bị can, bị cáo tham vấn với luật sư của mình và thực hiện việc nộp đơn xin trợ giúp pháp lý.

VII. TRÁCH NHIỆM CHỨNG MINH TRONG TÓ TỤNG HÌNH SỰ

Là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng tranh tụng, cơ quan công tố phải chứng minh tất cả các yếu tố của tội phạm ngoài bất cứ sự nghi ngờ hợp lý nào, mặc dù gánh nặng buộc tội được đảo ngược liên quan đến một số vấn đề (người bị cáo buộc có thể phải chứng minh về khả năng liên quan đến bất kỳ sự bào chữa nào mà người này đã nhận tội), người bị cáo buộc nhìn chung không bị yêu cầu phải giúp Công tố viên hay chứng minh sự vô tội mình. Như đã nêu tại phần trên, Công tố viên không được phép bỏ các chứng cứ có lợi cho bị cáo.  Trong cả hệ thống tố tụng của Anh, cũng như nhiều nước theo hệ tranh tụng khác, Công tố viên được xem là một bên trong cuộc tranh luận, nhưng không được phép hành động một cách thiên vị [62] .

Trong khi đó, người bào chữa chỉ có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội cho thân chủ của mình mà thôi.

Tài liệu tham khảo

1. C. Rodrigo & B. Cusino, Tranh tụng và tố tụng, Nhà nước pháp quyền và tương lai cho cải cách tư pháp tại Chi Lê, 5 (1988) Tạp chí Luật và thương mại Tây Nam.

2. David Dixon, Clive Coleman và Keith Bothtomley (1990) 17 Tạp chí luật và xã hội.

3. David Feldmean, Luật đề cập tới việc vào nơi ở, khám xét và thu giữ (London, Buttervvorths, 1986).

4. D. J. Feldman và C. J. Miller, Nhân viên pháp luật, Khinh thường và xem xét tư pháp (1997) 11 L.Q.R.

5. D. J. Smith và J. Gray, Cảnh sát và người dân tại London: Báo cáo PSI (Aldershot: Gower, 1985).

6. E. Phillips, Cuộc chiến đổi với dân luật? Thông luật là một mục tiêu chung cho tham vọng toàn cầu về luật pháp và kinh tế, 24 (2007) Tạp chí luật quốc tế Wisconsin.

7. G. Slapper và D. Kelly trong Hệ thống pháp luật nước Anh (xuất bàn lần thứ sáu, Nhà xuất bàn Cavendish, London, 2003).

8. G. V. Kessel, Vượt quá tranh tụng tại phiên tòa hình sự nước Mỹ, 68 (1992) Tạp chí Luật Notre Dame.

9. H. L. Packer, Tòa án, Cảnh sát, và phần chúng ta còn lại, 57 (1966) Tạp chí Luật và tội phạm học.

10. J. D. Jackson và N. K. Kovalev, Xét xử có hội thẩm và nhân quyền tại châu Âu, 13 (2006) Tạp chí Luật Châu Âu Columbia.

11. J. Herrmann, Mô hình cho cải cách phiên tòa hình sự tại Đông Âu - Một cái nhìn so sánh, 127 (1996) Tạp chí Luật xuyên đại dương Saint Louis-Warsaw.

12. J. LI. J. Edward, Tổng trưởng lý, chính trị và lợi ích công (London, Sweet and Maxwell, 1984).

13. Jolowick, Mô hình tổ tụng tranh tụng và tố tụng, 52(2003) Tạp chí luật quốc tế và so sánh hàng quý.

14. L. L. Cavise, Việc chuyền đổi từ mô hình thẩm vấn sang tranh tụng, tại sao nhiều luật sư Mỹ La tinh tương tự, 53 (2007) Tạp chí Luật Wayne.

15. M. Damaska, Chứng cứ nghe nối lại và hệ lụy, 76 (1992) Tạp chí Luật Minnesota.

16. M. A. Glendon et al, Truyền thống pháp luật so sánh, nội dung, các tư liệu tham khảo và các bản án (xuất bản lần thứ 2,1994).

17. Paul Robert và Chris Willmore, Vai trò của chứng cứ khoa học giám định trong tố tụng hình sự, Nghiên cứu số 11 (London, H.M.S.O. 1993).

18. R. R. Strang, Nhiều yếu tố tranh tụng hơn, nhưng không hoàn toàn tranh tụng - Cải cách Bộ luật tố tụng hình sự Indonesia, 32 (2008) Tạp chí Luật Quốc tế Fordham.

19. S.C. Thamn, Pháp chế vả sự tùy nghi, trong Bách khoa về Luật và Xã hội: Quan niệm Hoa kỳ và Thế giới.

20. S. Shertreet, Thẩm phán xét xử, Một nghiên cứu đối với việc bổ nhiệm và kiểm soát Tòa án của Anh 2-9 (1976).

21. S. Foster, Tư pháp, quyền dân sự, nhân quyền (Nhà xuất bản Đại học Edinb.


[1] Thực chất không có sự phân định rõ rệt giữa bị can, bị cáo, một người bị tình nghi sẽ bị coi là bị cáo (the accused) sau khi cảnh sát bắt được họ và dẫn tới một thẩm phán để buộc tội họ đã bị tình nghi phạm một tội nào đó để bắt đầu các hoạt động tố tụng chính thức với người đó, giống như khởi tố bị can ở Việt Nam, từ đây, ND sẽ sử dụng thuật ngữ “bị cáo” đối với những người này - ND

[2]   Bộ trưởng Tư pháp có quyền ra một phán quyết không truy tố và dẫn đến hậu quả là, vụ án (đối với bị cáo) bị đình chỉ. Viện trưởng VCT cũng có quyền tuyên bố trước tòa là không đủ chứng cứ để tiếp tục truy tố tại phiên tòa.

[3]   Nếu vụ án bị đình chỉ, công dân vẫn có thẩm quyền đưa vụ án đó ra tòa nếu được sự đồng ý của thẩm phán với một số điều kiện nhất định-ND.

[4]   Chẳng hạn trong vụ án Hoàng gia kiện B năm 1996, bị cáo bị truy tố ra tòa về tội hiếp dâm và gây thương tích đối với một trẻ em xảy ra trước đó 20 năm, Tòa án đã phán quyết rằng vấn đề thời gian quá lâu không phải là lý do để không nên truy tố và xét xử bị cáo.

[5]   Thẩm phán Scarman tại vụ án Ferguson kiện Hoàng gia, 1979.

[6]   Khái niệm người làm chứng rất rộng, bao gồm bất cứ ai, kể cả bị cáo, người bị hại,…

[7]   Xem M. Damaska, Chứng cứ nghe nói lại và hệ lụy, 76 (1992) Tạp chí Luật minnesota, 425.

[8]   JA. Jolowich, môt hình tố tụng tranh tụng và tố tụng, 52 (2003) Tạp chí Luật quốc tế và so sánh hàng quý , 288.

[9]   Việc bổ nhiệm này có thể lâu dài hoặc chỉ trong một vụ việc, nhất là đối với những luật sư cao cấp-ND.

[10]   NB: Barrister or solicitor. Luật sư cấp thấp chỉ có thể tư vấn luật và ra tòa bào chữa ở tòa án sơ cấp. ND

[11]   Trừ vai trò có thể đứng ra làm chứng cho bên buộc tội và lúc đó họ có quyền và nghĩa vụ của người làm chứng.

[12]   Như trên.

[13]Rex.V.Woodward,[1943]29Crim.App.159.                                                                                                                 

[14]   R. V. Irwin (1987) I W. L. 902, C. A., miêu tả trong Peter Murphy (hiệu đính), thực tiễn hoạt động hình sự của Blackstone 2005 (Nhà xuất bản đại học Oxford, 2004), trang 1768 ghi lại dấu ấn của lập luận này; Sankar v. State of Trinidad and Tobago (1995) 1 WLR 194, P. C.

[15] R. V. McCann (1991) 92 Cr. App. R. 239, c. A.; R. v. Taylor và Taylor (1994) 98 Cr. App. R. 361, C. A;D. J. Feldman và C. J. Miller  Báo chí, Khinh thường Tòa án và sự xem xét lại tư pháp (1997) 113 L. Q. R.36-40..

[16] Luật về Tội khinh thường Tòa án năm 1981, phần 2 và Sch. 1. Thảo luận xem C. J. Miller, Khinh thường Tòa án hiệu đính lần thứ hai (Nhà xuất bàn Oxíord, Clarendon 1989). N. V. Lowe và B. E. Sufrin , Borrie và Lowe Khinh thuờng Tòa án hiệu đính lần thứ ba (London: Nhà xuất bản Buttenvorth, 1995); Feldman, Tự do cá nhân và nhân quyền tại nước Anh và xứ Wales, trang 749 - 765.

[17]   Xem Luật về Bồi thẩm đoàn 1974.

[18] Xem hướng dẫn của Tổng Chướng lý về thực hành quyền công tố tronẸ việc yêu cầu “dừng hoạt động” cùa thành viên nhât định cùa bôi thẩm đoàn, thể hiện trong (1989) 88 Cr. App. R. 123.

[19] R. V. Gough (1993) A. c. 646, H. L.

[20] Sander V. United Kingdom (2000) Crim. L. p.. 767, Eur. Ct. H. R.

[21]   Đối với Tòa án cấp huyện Magistrate xem Luật Tòa án Magistrate 1980, điều 4(3). Với Tòa dựa trên cáo trạng xem Lawrence V. R. (1933) A. c. 699, p. c. trang 708.

[22] Scott v. Scott (1913) A.C. 417, H.L; feldman, Quyền tự do cá nhân và nhân quyền, trang 765 - 781.

[23] Bộ luật tư pháp hình sự năm 1988, Điều 23.

[24] Xem Tổng Chưởng lý V. Leveller Magazine (1979) A. C. 440, h. L.; R. V. Watford Magistrate’s Court, ex parte Lenman (1993) Crim. L. R. 388, D. C. ; R. v. Taylor (1994) T..L R. 484, C.A ; Gibert Marcus, Nhân chứng bí mật (1990) P. L. 207 - 233.

[25] Luật khinh thường Tòa án 1981, Điều 4.

[26] Luật tré em và người chưa thành niên năm 1933, Điều 39 (sửa đổi).

[27] Luật khinh thường Tòa án năm 1981, Điều 11. Xem Clive Walker, Ian Cram và Debra Brogarth, Báo về thủ tục tại Tòa Crowwn và Luật khinh thường Tòa án 1981 (1992) 55 M.L.R. 647 - 669.

[28] Scott v. Scott (1913) A. c. 417, H. L.

[29] R. v. Reigate Justices, ex parte Argus Nevvspaper Ltd. (1983) 147 J. P. 385, D. C.; R. v. Malvem Justice, ex parte Evans (1988) Q. B. 540, D. C.

[30] Luật về thực hiện công năm 1960, Điều 12.

[31] J. Herrmann, Mô hình cho cải cách phiên tòa hình sự tại Đông Âu - Một cái nhìn so sánh, 127 (1996) Tạp chí Luật xuyên đại dương Saint Louis- Warsaw, 141.

[32] JA. Jolowick, Mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng, 52(2003) Tạp chí luật quốc tế và so sánh hàng quý, 288.

[33] Gằn giống với khới tố bị can (ND).

[34] PACE Điều 27, Điều 61.

[35] Khi người bị bắt được đưa đến đồn cành sát không được chỉ định, một nhân viên khác - nếu cần thiết, sỹ quan thực hiện việc bắt - phài thực hiện các nghĩa vụ như nhân viên phụ trách việc giữ. Xem PACE, Điều 36(4), (7). Như hình dung, điều này có thể nảy sinh một số khó khăn trong việc xung đột về mặt lợi ích.

[36] PACE Điều 37(7).

[37] PACE Điều 32(1), (8).

[38] PACE Điều 32(2)(a)(5)(9).

[39] PACE Điều 32(2)(b)(6). Ghi chú rằng phần (7) liên quan đến giới hạn cho phép cùa việc khám nơi ờ bao gồm hai hay nhiều đơn nguyên tách biệt.

[40] PACE Điều 30 (10).

[41] PACE Điều 42.

[42] PACE Điều 41.

[43] PACE Điều 43, Điều 44.

[44] PACE Điều 2(9)(b).

[45] PACE Điều 117.

[46] Luật A, đoạn 3.1 - 3.3.

[47] PACE Điều 3.

[48] R. V. Cành sát trường vùng Warickshire, ex parte Fitzpatrick (1998) I All E. R. 65, c. A.

[49] Entick V. Carrington (1765) 2 Wils 275. Xem chung tại David Feldmean, Luật đề cập tới việc vào nơi ờ, khám xét và thu giữ (London, Buttervvorths, 1986).

[50] PACE, Điều 16(3), được sửa đổi bằng Luật cành sát và tội phạm có tổ chức nghiêm trọng năm 2005, Điều 114(8) (a).

[51] PACE Điều 16(5); R. V. Longman (1988) I W. L. R. 609, C. A.

[52] Luật B đoạn 5.7.

[53] PACE Điều 117.

[54] Các quy định cùa Luật thẩm quyền điều tra năm 2000, Điều 5.

[55] Các quy định cùa Luật thẩm quyền điều tra năm 2000, Điều 17.

[56] Luật cành sát năm 1997, Điều 92, Điều 93.

[57] Luật cành sát năm 1997, Điều 97.

[58] Luật cành sát năm 1997, Điều 97.

[59] Luật cành sát năm 1997, Điều 93(2)(4).

[60] Luật về các quy định điều tra năm 2000, Điều 29.

[61] PACE năm 1984, Điều 58.

[62] J. Herrmann, Mô hình cho cài cách phiên tòa hình sự tại Đông Âu - Một cái nhìn so sánh, 127 (1996) Tạp chí Luật xuyên đại dương Saint Louis- Warsaw, 140.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi