Một số định hướng chung, cơ bản sửa đổi, bổ sung BLTTDS, BLTTHS, LTTHC

I. YÊU CẦU CỦA VIỆC SỬA ĐỔI CÁC LUẬT TỐ TỤNG

Theo Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, năm 2014 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015, TAND tối cao được phân công chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan chuẩn bị dự án BLTTDS (sửa đổi), Luật TTHC (sửa đổi); phối hợp với VKSND tối cao và các cơ quan hữu quan chuẩn bị dự án BLTTHS (sửa đổi).

Các dự án luật này sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua trong năm 2015. Đây là những đạo luật cơ bản, rất quan trọng, trực tiếp liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nhân dân riêng; liên quan đến yêu cầu duy trì và bảo vệ trật tự xã hội; bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ công lý; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Vì vậy, việc xây dựng các dự án luật này phải bảo đảm tính thống nhất với các luật khác trong hệ thống pháp luật của nước ta, trong đó, cần lưu ý các yêu cầu chủ yếu sau đây:

1. Thể chế hoá các chủ trương, đường lối, quan điểm về cải cách tư pháp của Đảng.

Chiến lược cải cách tư pháp đã được định hướng trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”; Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/03/2014 của Bộ Chính trị, cụ thể là:

- Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, với mục tiêu là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao;

- Hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, theo hướng kế thừa những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn và tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tiến bộ của mô hình tố tụng tranh tụng, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; kết hợp chặt chẽ việc đổi mới thủ tục tố tụng tư pháp với việc cải cách thủ tục hành chính tư pháp phù hợp với hoạt động tư pháp;

- Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật;

- Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến Toà án, Toà án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn;

- Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính; đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án; xây dựng cơ chế bảo đảm cho mọi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành;

- Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp;

- Tăng quyền và trách nhiệm cho Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình;

- Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư;

- Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định;

- Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ;

- Xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các hoạt động tư pháp;

- Tiếp tục nghiên cứu làm rõ vấn đề lý luận về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xác định rõ nội hàm và xây dựng cơ chế để Tòa án nhân dân thực hiện có hiệu quả quyền tư pháp;

- Cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu những giá trị chung của nhân loại phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế.

  1.  Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp và triển khai thi hành các quy định mới của Luật tổ chức TAND.

Về TAND, Chương VIII Hiến pháp năm 2013 quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”;

TAND được tổ chức theo 4 cấp, bao gồm: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm và lựa chọn ban hành án lệ để các Thẩm phán, Hội thẩm nghiên cứu, áp dụng trong xét xử; việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm; Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm; trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án phát hiện và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; bảo đảm quyền được suy đoán vô tội đối với bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.

Những quy định nêu trên cần được tiếp tục cụ thể hóa trong các luật tố tụng để hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện; bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật.

3. Khắc phục những tồn tại, bất cập trong quá trình giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Việc xây dựng các dự án luật tố tụng (sửa đổi) phải được tiến hành trên cơ sở tổng kết thực tiễn nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc, bất cập, kế thừa những quy định còn phù hợp, đang phát huy tác dụng.

Thực tiễn công tác xét xử cho thấy, trong các luật tố tụng hiện hành, các quy định về thẩm quyền xét xử của từng cấp Tòa án chưa thực sự hợp lý; quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng chưa đầy đủ, chưa có quy định về quyền tiếp cận, trao đổi chứng cứ giữa các bên trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính; nội hàm của khái niệm tranh tụng chưa được làm rõ và quy định cụ thể; thủ tục hỏi, tranh luận tại phiên tòa chưa bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng; thủ tục giám đốc thẩm và các căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm còn có những bất cập cần được bổ sung, sửa đổi; hiệu lực thi hành các bản án, quyết định của Toà án chưa bảo đảm, chưa đáp ứng được sự mong đợi của người dân và toàn xã hội, đặc biệt là các bản án, quyết định hành chính v.v...

Những tồn tại, bất cập nêu trên cần được tổng kết, thảo luận để có những sửa đổi, bổ sung hợp lý nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp đã đặt ra.

II. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN SỬA ĐỔI CÁC LUẬT TỐ TỤNG

Để thực hiện được các yêu cầu nêu trên, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các dự án luật tố tụng, thiết nghĩ cần lưu ý một số vấn đề lớn, cơ bản sau đây:

1. Điều chỉnh lại thẩm quyền xét xử của từng cấp Tòa án để phù hợp với mô hình tổ chức Tòa án 4 cấp theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

Theo mô hình Tòa án 4 cấp, TAND tối cao không xét xử phúc thẩm mà chỉ thực hiện nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm; TAND cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án thuộc phạm vi lãnh thổ đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị; TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thuộc phạm vi lãnh thổ; TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có nhiệm vụ xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ, việc thuộc thẩm quyền của Toà án.

Như vậy, thẩm quyền xét xử của từng cấp Tòa án trong tố tụng cũng phải được cân nhắc, điều chỉnh lại để bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trong hệ thống pháp luật. Chẳng hạn, đối với các vụ án hành chính, Toà Hành chính thuộc TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần được giao nhiệm vụ thụ lý, xét xử sơ thẩm các khiếu kiện đối với UBND và Chủ tịch UBND cấp huyện; TAND cấp cao sẽ xét xử phúc thẩm các vụ án này nếu có kháng cáo, kháng nghị. Thiết kế quy định luật tố tụng theo hướng này, hoàn toàn phù hợp và đảm bảo thực hiện đúng đắn nguyên tắc “độc lập xét xử” của Tòa án đã được quy định rõ trong Hiến pháp năm 2013.

2. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về TAND là cơ quan thực hiện quyền tư pháp

Đây là nội dung rất quan trọng, trong đó phải thể hiện được những quy định về trình tự, thủ tục và những phương thức cụ thể để Tòa án thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn mà Tòa án được giao theo Luật tổ chức TAND năm 2014; đặc biệt là trình tự, thủ tục phát hiện và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; quy trình tuyển chọn, ban hành án lệ để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật; nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử; bổ sung trình tự, thủ tục và những trường hợp Tòa án tiến hành kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ khi giải quyết các vụ án hình sự; xử lý các hành vi coi thường Tòa án, cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án v.v...

3. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm

Bảo đảm nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một trong những yêu cầu quan trọng nhất để Tòa án nhân dân thực hiện có hiệu quả quyền tư pháp, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung các luật tố tụng theo hướng quy định cụ thể những hành vi bị coi là can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm (như: gây sức ép; tác động bằng những lợi ích vật chất hoặc tinh thần; đưa tin sai sự thật về việc giải quyết vụ án...). Cùng với việc quy định về vấn đề này, phải có những chế tài kỷ luật, chế tài hành chính, chế tài hình sự nghiêm khắc để xử lý, ngăn chặn và phòng ngừa những hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.

Để đảm bảo cho Tòa án độc lập xét xử, cần xem xét, sửa đổi vấn đề giới hạn xét xử của Tòa án trong các vụ án hình sự.  Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành lại quy định: Khi xét xử sơ thẩm, “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử”. Nếu tội danh mà Viện Kiểm sát truy tố mâu thuẫn với kết quả tranh tụng tại phiên tòa thì điều luật này mặc nhiên trái với quy định của Hiến pháp 2013: “Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa được bảo đảm”, trái với các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”.

Trên thực tế, trong quá trình xét xử, Tòa án phát hiện các bị cáo đã phạm một tội khác có mức án cao hơn mức mà Viện Kiểm sát truy tố, nhưng Tòa án vẫn phải tuyên bị cáo phạm tội theo tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố có mức án thấp hơn. Do đó, đã gây sự hoài nghi cho xã hội, khiến dư luận không đồng tình, nhất là đối với các tội phạm về tham những, tội phạm có tổ chức. Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung quy định trên theo hướng không nên giới hạn phạm vi phán quyết của Hội đồng xét xử theo cáo trạng truy tố, vì như vậy dẫn đến hạn chế sự quyết định đúng pháp luật của Tòa án. Qua tranh tụng tại phiên Tòa, xem xét toàn diện vụ án, nếu Hội đồng xét xử nhận thấy có đầy đủ căn cứ chứng minh bị cáo phạm tội có mức án nặng hơn hoặc nhẹ hơn mức án mà cáo trạng truy tố, thì Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật, tuyên bị cáo phạm tội theo đúng hành vi của bị cáo và bản chất thực của vụ án.

Mặt khác, thông qua quá trình xét xử, tranh tụng tại Tòa án, Hội đồng xét xử phát hiện bị cáo có hành vi phạm tội mới, thì Tòa án có quyền khởi tố vụ án ngay tại phiên tòa để tiến hành điều tra làm rõ, giải quyết triệt để vụ án. Nếu chứng cứ chứng minh chưa đầy đủ, Tòa án có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tự mình thu thập, xác minh chứng cứ để làm rõ tội phạm. Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc “độc lập xét xử” và nguyên tắc “đảm bảo tranh tụng của Tòa án” theo nội dung Hiến định.

Thêm vào đó, để bảo đảm địa vị pháp lý của Thẩm phán, Hội thẩm trong việc thực hiện quyền tư pháp cần bổ sung vào nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nội dung mới, đó là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân không bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự, bồi thường thiệt hại đối với quan điểm, quyết định được đưa ra khi thực hiện quyền hạn xét xử, trừ trường hợp cố ý vi phạm theo quy định của luật. Việc xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Th��m phán phải có ý kiến của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia. Đây là chế định được ghi nhận trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới và cũng là cơ chế pháp lý để Thẩm phán, Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật và căn cứ vào niềm tin nội tâm của mình trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ khi thực hiện nhiệm vụ xét xử.

4. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Bảo đảm tranh tụng trong xét xử là một trong những yêu cầu quan trọng của cải cách tư pháp và đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013. Theo quy định tại khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp thì việc tranh tụng phải được bảo đảm trong xét xử chứ không chỉ tại phiên tòa. Để tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc này trong các luật tố tụng, trước tiên, cần phải làm rõ nội hàm của “tranh tụng” để thể hiện trong các quy định về quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; phạm vi tranh tụng kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc vụ án; trách nhiệm của Tòa án, Thẩm phán và Hội thẩm trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự, hướng dẫn các bên tranh tụng về trình tự, thủ tục thu thập, trình bày, trao đổi chứng cứ, thời hạn giao nộp chứng cứ khi giải quyết vụ án.

Qua nghiên cứu pháp luật trong nước và kinh nghiệm quốc tế, cho thấy tranh tụng trong xét xử là quá trình tố tụng mà các đương sự trong vụ án tự mình, nhờ luật sư hoặc người khác thực hiện việc thu thập, trình bày, cung cấp tài liệu, chứng cứ, tham gia phiên toà, phiên họp và các hoạt động tố tụng khác do Toà án tiến hành; đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng trong quá trình Toà án xem xét, giải quyết vụ án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Để bảo đảm tranh tụng trong xét xử, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; đặc biệt là quyền thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ; quyền tiếp cận chứng cứ của các đương sự trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính; quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự; tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa về thủ tục và thời hạn để Luật sư (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự) tham gia tố tụng; các bên đương sự được quyền đề nghị Tòa án triệu tập nhân chứng mà họ cho rằng sẽ góp phần bảo vệ quan điểm, lập luận của họ. Khi tiến hành xét xử, Thẩm phán chủ tọa phải là người điều hành việc tranh tụng và bảo đảm rằng các bên đương sự phải nêu quan điểm, lập luận của mình trong từng vấn đề đã được xác định; không được hạn chế thời gian tranh tụng tại phiên tòa.

5. Sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Về thẩm quyền và phương thức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, cần sửa đổi lại theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 để phù hợp với thẩm quyền của từng cấp Tòa án trong mô hình Tòa án 4 cấp. Theo đó, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng gồm 5 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Thẩm phán; Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng 3 Thẩm phán hoặc toàn thể Ủy ban Thẩm phán. Cùng với việc sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm, các căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và cách thức tổ chức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cũng cần được bổ sung, làm rõ.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 của Hiến pháp năm 2013 thì: “TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Với mô hình Tòa án 4 cấp thì TAND tối cao chỉ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm mà không xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Như vậy, phải nhìn nhận giám đốc thẩm, tái thẩm là một cấp xét xử. Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ đặt ra yêu cầu “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” mà không quy định “Thực hiện chế độ 2 cấp xét xử” như trong luật tố tụng hiện hành.

Với nhận thức như vậy, cần sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng Hội đồng giám đốc thẩm có thể sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu có đủ căn cứ, để khắc phục tình trạng vụ án bị kéo dài do phải xét xử sơ thẩm, phúc thẩm lại nhiều lần. Việc quy định Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cũng là điều kiện để Tòa án nhân dân tối cao ban hành và phát triển án lệ theo tinh thần cải cách tư pháp và đã được thể chế hóa trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Bên cạnh đó, cũng cần cân nhắc và quy định thời hạn nộp đơn đề nghị giám đốc thẩm và thời hạn giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm để bảo đảm cho các vụ việc được giải quyết liên tục.

Một vấn đề khác cần được nghiên cứu, thảo luận, đóng góp ý kiến đó là quy định về lệ phí nộp đơn đề nghị giám đốc thẩm. Vấn đề đặt ra là có nên quy định về loại lệ phí này hay không? Nếu quy định thì nên quy định thế nào để bảo đảm quyền lợi của người đã nộp lệ phí, đồng thời cũng bảo đảm tính khả thi trong việc xem xét và giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm? Nếu quy định thì quy định trong cả 03 luật tố tụng, hay chỉ nên cân nhắc trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính? Trường hợp có quy định về lệ phí nộp đơn đề nghị giám đốc thẩm thì việc giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm có thể quy định theo hướng:

Trong thời hạn 03 tháng (hoặc 01 tháng), kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà người nộp đơn nộp lệ phí giám đốc thẩm thì Tòa án phải thụ lý giải quyết đơn và trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày nhận được đơn, Tòa án phải mở phiên họp xét đơn của đương sự. Trường hợp xét thấy có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm thì báo cáo người có thẩm quyền kháng nghị xem xét, kháng nghị. Trường hợp không có căn cứ kháng nghị thì bác đơn đề nghị.

Trường hợp đương sự nộp đơn nhưng không nộp lệ phí giám đốc thẩm, hoặc trường hợp sau khi Tòa án bác đơn đề nghị mà đương sự tiếp tục có đơn thì việc xem xét giải quyết đơn thực hiện theo quy định chung về thời hạn giám đốc thẩm. Trường hợp cơ quan, tổ chức có yêu cầu giám đốc thẩm thì không phải nộp lệ phí và thời hạn giải quyết thực hiện theo quy định chung về thời hạn giám đốc thẩm.

Liên quan đến vấn đề nêu trên, ở một số quốc gia có quy định về thủ tục phúc thẩm lần 2 được áp dụng trong xét xử. Đây cũng là vấn đề mới, có thể tham khảo và thể hiện trong các luật tố tụng của Việt Nam để khắc phục những tồn tại, bất cập trong việc giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm thời gian qua. Theo định hướng này, có thể thiết kế thủ tục phúc thẩm lần 2 do Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp cao giải quyết đối với những bản án phúc thẩm lần 1 của các Tòa chuyên trách thuộc TAND cấp cao.

6. Về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao

Khoản 1 Điều 104 của Hiến pháp quy định: “TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam”. Khoản 4 Điều 22 của Luật tổ chức TAND năm 2014 cũng đã quy định: “Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao là quyết định cao nhất, không bị kháng nghị”.

Để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, đồng thời vẫn bảo đảm có cơ chế để xem xét, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức bị vi phạm thì cần cân nhắc lại quy định hiện hành về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao theo hướng tiếp tục kế thừa quy định hiện hành về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Tuy nhiên, khi xem xét lại quyết định này theo thủ tục đặc biệt, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chỉ kết luận về tính hợp pháp của quyết định mà Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ban hành; xác định trách nhiệm bồi thường và quyền của đương sự theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

7. Về thủ tục xét xử rút gọn

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 103 của của Hiến pháp năm 2013, bên cạnh thủ tục tố tụng chung, Tòa án có thể xét xử, giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với các vụ việc có những tiêu chí nhất định. Như vậy, trong mô hình tố tụng mới, cần quy định về thủ tục rút gọn; cần cụ thể hóa các tiêu chí của các vụ án mà Tòa án có thể giải quyết theo thủ tục rút gọn theo hướng không chỉ rút gọn về thời hạn giải quyết, mà còn rút gọn cả về trình tự, thủ tục, thành phần hội đồng xét xử; bảo đảm cho vụ việc được giải quyết nhanh gọn và hiệu quả.

Nên chăng, có thể thiết kế hai phương án: Các vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn không có kháng cáo, kháng nghị và các vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục chung. Cần cân nhắc kỹ về tiêu chí của các vụ án theo cả hai phương án trên, làm sao đảm bảo tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, bị cáo nhưng vẫn tạo được điều kiện thuận lợi cho Tòa án nhân dân giải quyết các vụ việc được nhanh, gọn, tiết kiệm thời gian, công sức và kinh phí của Nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân.

8. Về bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án

Cần sửa đổi, bổ sung trong các luật tố tụng để làm rõ hơn nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án; trách nhiệm và biện pháp xử lý đối với người vi phạm, đặc biệt là trong tố tụng hành chính để khắc phục những tồn tại, bất cập trong công tác thi hành án hiện nay.

Bên cạnh các dự án luật nêu trên, theo chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, trong năm 2015 Quốc hội sẽ xem xét, cho ý kiến đối với dự án BLDS và BLHS (sửa đổi). Đây là các bộ luật cơ bản, có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật, có liên quan chặt chẽ đến hoạt động xét xử của các Tòa án.

Định hướng chung của việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các dự án luật này phải đáp ứng các yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là các quyền chính trị, dân sự, kinh tế... Vấn đề đặt ra đối với việc sửa đổi, bổ sung các bộ luật này phải tạo ra hành lang pháp lý an toàn và thuận lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước, đặc biệt là yêu cầu về xây dựng đổi mới nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, tăng cường hội nhập quốc tế, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, điều chỉnh và xử lý có hiệu quả các tranh chấp và tội phạm trong bối cảnh hiện nay của đất nước.

Với các định hướng cơ bản nêu trên, TAND tối cao yêu cầu TAND, Tòa án quân sự các cấp, các đơn vị trực thuộc TAND tối cao tổ chức thực hiện tốt kế hoạch của Chính phủ, kế hoạch của TAND tối cao về việc nghiên cứu, tham gia đóng góp ý kiến đối với các dự án BLDS, BLHS (sửa đổi); góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, tương thích với các luật tố tụng trong nước, phù hợp với quy định cơ bản của pháp luật quốc tế trong bối cảnh đất nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng với các quốc gia trong khu vực và thế giới./.

Nguồn: http://toaan.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi