Chế định bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao một số nước trên thế giới

Bài viết này nhằm giới thiệu mô hình bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao của một số quốc gia trên thế giới. Bằng phương pháp phân tích và so sánh với chế định hiện hành tại Việt Nam, bài viết rút ra một số bài học kinh nghiệm, đồng thời đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện chế định bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam phù hợp với  Hiến pháp mới 2013, Dự thảo Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) theo tinh thần Chiến lược cải cách tư pháp tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Trước hết, cần lưu ý một số điểm. Thứ nhất, khái niệm Tòa án tối cao trong bài viết là nhằm đề cập đến Tòa án cấp cao nhất có thẩm quyền chung của quốc gia (Tòa phá án Pháp, Tòa án tối cao Nhật, Mỹ, Tòa án tối cao liên bang Đức…) Hệ thống tòa án tại các nước được tổ chức rất khác nhau. Những nước theo thông luật (Mỹ, Úc…) và Nhật Bản chỉ có một hệ thống Tòa án duy nhất, đứng đầu là Tòa án tối cao. Trong khi đó, ở nhiều quốc gia theo truyền thống dân luật (Đức, Pháp, Nga…), khái niệm “hệ thống Tòa án quốc gia” phải được hiểu là bao gồm nhiều “tiểu hệ thống” song song tồn tại, bao gồm Tòa án có thẩm quyền chung, Tòa án hành chính, Tòa án hiến pháp… mà đứng đầu mỗi tiểu hệ thống này là một “Tòa án tối cao”; các Tòa án tối cao có vị trí ngang nhau trong bộ máy nhà nước. (Ví dụ, Đức có 5 tiểu hệ thống Tòa án, Hàn Quốc có 2 tiểu hệ thống Tòa án…). Qui trình bổ nhiệm thẩm phán của các tiểu hệ thống này tại mỗi quốc gia có những điểm khác biệt. Bài viết này chỉ tập trung vào qui trình bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao của “tiểu hệ thống” Tòa án có thẩm quyền chung ở một số nước dân luật, và Tòa án tối cao (duy nhất) ở một vài nước khác theo truyền thống thông luật.

Thứ hai, phạm vi thẩm quyền, chức năng, tổ chức, phương thức hoạt động… của Tòa án tối cao có ảnh hưởng đến số lượng, qui trình bổ nhiệm, tiêu chuẩn Thẩm phán. Thẩm quyền này lại do các luật tố tụng và luật nội dung qui định. Ở nhiều nước theo truyền thống thông luật và Nhật Bản, ngoài việc xét xử các vụ án dân sự, hình sự thông thường, Tòa án có thẩm quyền chung thực hiện còn thực hiện cả chức năng giải thích hiến pháp. Ngược lại, ở đa số các nước theo dân luật, chức năng giải thích hiến pháp thường được trao cho một “Tòa án” hoặc “Cơ quan bảo hiến” khác (Tòa án hiến pháp liên bang Đức, Tòa án Hiến pháp Hàn Quốc, Hội đồng Nhà nước Pháp….). Cùng với sự khác biệt về thủ tục tố tụng, điều này lý giải sự khác biệt lớn về số lượng, cấu phần và quyền đề xuất ứng cử viên thẩm phán của Tòa án tối cao giữa các quốc gia theo thông luật (có một hệ thống Tòa án duy nhất) và dân luật (có thể có nhiều tiểu hệ thống Tòa án).

Thứ ba, là sự chuyển đổi nghề nghiệp trong các thành viên nghề luật (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư…). Tại các nước thông luật, “luật sư” là thuật ngữ chung chỉ những người tốt nghiệp đại học luật và làm những công việc trong lĩnh vực luật pháp. Trong sự nghiệp của một cá nhân, người đó có thể chuyển đổi tương đối dễ dàng và thường xuyên từ nghề này sang nghề khác, và họ vẫn được coi là luật sư. Ngược lại, trong truyền thống dân luật, có một điều kiện ngay từ đầu sự nghiệp là ứng cử viên phải tốt nghiệp các khóa đào tạo chuyên môn về nghề nghiệp mình định theo đuổi. Việc chuyển đổi có thể thực hiện được trên lý thuyết, nhưng rất ít diễn ra trên thực tế bởi cá nhân họ phải mất nhiều thời gian làm lại – kiến thức và kinh nghiệm của họ ở vị trí cũ không tạo ra lợi thế cạnh tranh cho họ ở vị trí mới. Do vậy, về lý thuyết, nguồn ứng cử viên Thẩm phán Tòa án tối cao là tương đối rộng, nhưng trên thực tế tại đa số các nước dân luật, do ảnh hưởng của qui trình bổ nhiệm, có thể nhận xét một số lượng lớn Thẩm phán Tòa án tối cao đều có kinh nghiệm làm thẩm phán tại các Tòa án cấp dưới trước đó.

Có 4 hình thức tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán nói chung trên thế giới. Thứ nhất là phương pháp bổ nhiệm dựa trên đề xuất của cơ quan hành pháp hoặc lập pháp (Úc, New Zealand trước đây…) Qui trình này bị coi là khép kín, không mở rộng nguồn bổ nhiệm và dần dần bị thay thế bằng cơ chế Hội đồng tuyển chọn. Thứ hai, chương trình bổ nhiệm sau các chương trình đào tạo chính thức (Châu Âu lục địa, Nhật Bản, Hàn Quốc…) Đặc trưng của hình thức này là ứng cử viên phải được đào tạo đặc biệt trước khi được bổ nhiệm thẩm phán. Ưu điểm của hệ thống này là minh bạch, chế định tuyển chọn dựa trên phẩm chất rõ ràng, có thể bổ nhiệm được các thẩm phán trẻ có xuất thân đa dạng hơn, nhưng chế định này có lẽ không phù hợp với truyền thống thông luật. Thứ ba là hình thức bầu cử Thẩm phán (một số bang của Mỹ, hoặc bầu thẩm phán cho các Tòa án không phải là tòa án thông thường). Ưu điểm của hình thức này là nó buộc thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước những người bầu ra mình. Nhược điểm của nó là người bầu có thể không hiểu biết đầy đủ về trình độ, năng lực của thẩm phán dẫn đến trình độ thẩm phán thấp. Hình thức này nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của bài viết. Cuối cùng, là cơ chế Hội đồng tuyển chọn. Đây là cơ chế xuất hiện trên thế giới không lâu, được nhiều nước theo cả truyền thống thông luật và dân luật áp dụng, thay thế cho các cơ chế truyền thống. Cơ chế này tăng cường sự công khai, minh bạch, bảo đảm tính đa dạng trong nguồn thẩm phán, giảm được những ảnh hưởng bên ngoài không cần thiết vào quá trình bổ nhiệm. Qua đó tăng cường lòng tin của công chúng vào quá trình bổ nhiệm và tiếp theo, vào Tòa án.

I. GIỚI THIỆU QUI TRÌNH BỔ NHIỆM THẨM PHÁN TÒA ÁN TỐI CAO MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1. CỘNG HÒA PHÁP

Toà phá án là cơ quan xét xử cao nhất trong ngạch tư pháp. Toà phá án bao gồm 6 Toà chuyên trách: 1 Toà hình sự, 3 Toà dân sự, 1 Toà thương mại, 1 Toà lao động. Toà phá án có190 Thẩm phán.

Qui trình bổ nhiệm: Theo nguyên tắc, Thẩm phán ngạch tư pháp do Tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Thẩm phán tối cao hoặc của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Chánh án và các Thẩm phán Toà phá án, Chánh án các Toà án phúc thẩm, Chánh án các Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng do Hội đồng Thẩm phán tối cao lựa chọn ứng cử viên và trình lên Tổng thống bổ nhiệm.

Hội đồng Thẩm phán tối cao được thành lập theo Luật ngày 30-8-1883, nhưng mãi đến năm 1946 mới được ghi nhận trong Hiến pháp ngày 27-10-1946. Theo quy định tại Điều 65 của Hiến pháp, Hội đồng Thẩm phán tối cao do Tổng thống làm Chủ tịch và Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Phó Chủ tịch. Qua nhiều lần cải tổ, đến năm 2008 Hội đồng có cơ cấu như sau: Bộ phận chuyên trách về Thẩm phán có 6 thành viên, gồm 5 Thẩm phán và 1 Công tố viên do Chánh án Toà phá án làm Chủ tịch; bộ phận chuyên trách về Công tố viên có 6 thành viên, gồm 5 Công tố viên và 1 Thẩm phán, do Công tố viên trưởng Toà phá án làm Chủ tịch. Ngoài các thành viên nói trên, thành viên của cả hai bộ phận còn bao gồm 8 thành viên khác không thuộc ngành Toà án: 1 thành viên của Tham chính viện do Đại hội đồng của Tham chính viện bầu ra, 1 luật sư do Chủ tịch Hội đồng luật sư quốc gia bổ nhiệm trên cơ sở ý kiến thông qua của Đại hội đồng của Hội đồng luật sư quốc gia, 6 cá nhân có phẩm chất nổi bật được Tổng thống, Chủ tịch Hạ viện và Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm theo cặp 1 nam - 1 nữ.

Nhiệm kỳ: Trong số 190 Thẩm phán Tòa phá án, có 120 Thẩm phán có nhiệm kỳ đến tuổi nghỉ hưu (65 tuổi), 70 Thẩm phán còn rất trẻ có nhiệm kỳ 10 năm (hết nhiệm kỳ 10 năm sẽ về làm Thẩm phán ở Toà án cấp dưới).

2. LIÊN BANG ĐỨC[1]

Toà án tối cao liên bang là Toà án có vị trí cao nhất của hệ thống Toà án có thẩm quyền chung. Tính đến tháng 6-2010, Toà án tối cao liên bang có 423 người trong đó có 127 Thẩm phán làm việc tại 12 ban (có thể gọi là Toà) dân sự, 5 ban hình sự, 1 ban hỗ trợ. Các cộng tác viên gồm 50 Thẩm phán thuộc hệ thống Toà án thẩm quyền chung của 16 bang hỗ trợ các ban xét xử này. Các Thẩm phán này được biệt phái đến công tác tại Toà án tối cao liên bang với thời gian thông thường là 3 năm.

Qui trình bổ nhiệm:  Ứng cử viên Thẩm phán phải là người đã vượt qua kỳ thi tư pháp quốc gia lần thứ hai, phải nộp đơn lên Bộ Tư pháp bang đề nghị được làm Thẩm phán. Nếu được chấp nhận, họ sẽ được bổ nhiệm làm “Thẩm phán thử việc”, thời gian thử việc là 5 năm kể từ ngày bổ nhiệm; nếu họ đã là công chức, thời gian thử việc là 2 năm. Sau khi kết thúc thời gian thử việc, Thẩm phán thử việc có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán chính thức. Việc bổ nhiệm Thẩm phán ở các bang rất khác nhau. Nhìn chung, Bộ trưởng Bộ Tư pháp bang có vai trò quyết định trong việc bổ nhiệm Thẩm phán của Toà án thẩm quyền chung.

Thẩm phán các Toà án liên bang (bao gồm Thẩm phán Tòa án tối cao) do Tổng thống bổ nhiệm theo đề cử của Bộ trưởng Bộ Tư pháp liên bang và Ủy ban tuyển chọn Thẩm phán liên bang. Ủy ban này gồm 32 thành viên, 16 người là đại diện các Bộ trưởng tư pháp Bang, 16 người còn lại do Quốc hội bầu.

Nhiệm kỳ: Các Thẩm phán đều được bổ nhiệm đến tuổi nghỉ hưu (65 tuổi).

3. NHẬT BẢN

Toà án tối cao gồm Chánh án và 14 Thẩm phán, được chia thành 3 Hội đồng xét xử, mỗi Hội đồng gồm 5 Thẩm phán. Để giúp các Thẩm phán Toà án tối cao trong công tác xét xử có khoảng 30 chosakan là những Thẩm phán Toà án địa phương cấp tỉnh ưu tú, có kinh nghiệm được luân chuyển đến Toà án tối cao.

Qui trình bổ nhiệm:

·  Chánh án Toà án tối cao do Hoàng đế bổ nhiệm theo đề nghị của Nội các. Thẩm phán Toà án tối cao do Nội các bổ nhiệm và Hoàng đế phê chuẩn. Chánh án Toà án tối cao ngang cấp với Thủ tướng, Thẩm phán Toà án tối cao ngang cấp với Bộ trưởng, Tổng Công tố (tương đương Viện trưởng Viện kiểm sát nhân nhân tối cao Việt Nam).

Thẩm phán Toà án tối cao là những người có tầm hiểu biết rộng, có kiến thức sâu về pháp luật và từ 40 tuổi trở lên. Trong số 15 Thẩm phán Toà án tối cao thì ít nhất phải có 10 Thẩm phán được chọn trong số các Thẩm phán, Công tố viên, Luật sư, Giáo sư, Phó Giáo sư xuất sắc trong các khoa luật. Những Thẩm phán còn lại không nhất thiết phải là luật gia.[2]

Thẩm phán Tòa án tối cao do Nội các bổ nhiệm. Khi có Thẩm phán về hưu, Chánh án sẽ thông báo cho Nội các ứng cử viên thay thế. Thẩm phán các Tòa án cấp dưới cũng do Nội các bổ nhiệm, căn cứ vào danh sách chỉ định của Tòa án tối cao. Nói cách khác, việc bổ nhiệm Thẩm phán chính là do Tòa án tối cao quyết định, Nội các chỉ hợp thức hóa bằng việc bổ nhiệm. Thẩm phán được bổ nhiệm nhiệm kỳ 10 năm. Đối với Thẩm phán Tòa án tối cao, nếu người dân không đồng ý với một Thẩm phán nào đó ngay sau khi bổ nhiệm, thì có thể bỏ phiếu miễn nhiệm Thẩm phán dưới hình thức bỏ phiếu bất tín nhiệm của toàn dân (hơn 50% phản đối). Trên thực tế, chưa có Thẩm phán Tòa án tối cao nào bị miễn nhiệm dưới hình thức này.

Nhiệm kỳ: Thẩm phán Toà án tối cao nghỉ hưu ở tuổi 70.

4. HÀN QUỐC

Toà án tối cao gồm Chánh án và 13 Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán làm Bộ trưởng Bộ Quản lý Toà án quốc gia. Thẩm phán này không có chức năng xét xử. Do đó, chỉ có Chánh án và 12 Thẩm phán thực hiện chức năng xét xử, 12 Thẩm phán chia thành 3 Hội đồng xét xử.

Giúp việc cho các Thẩm phán Toà án tối cao trong hoạt động xét xử là các Thẩm phán giỏi của Toà án cấp dưới được tuyển chọn làm việc luân phiên tại Toà án tối cao.

Qui trình bổ nhiệm:

Chánh án Toà án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội. Các Thẩm phán Toà án tối cao do Chánh án Toà án tối cao đề nghị Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội.

Để bổ nhiệm Thẩm phán Toà án tối cao, Ban tư vấn về bổ nhiệm Thẩm phán Toà án tối cao được thành lập và nằm trong Toà án tối cao. Ban có 6 đến 8 thành viên, gồm: Chánh án Toà án tối cao nhiệm kỳ trước, một Thẩm phán có vị trí cao nhất trong số các Thẩm phán hiện có của Toà án tối cao, Bộ trưởng Bộ Quản lý Toà án quốc gia, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Hàn Quốc, Chủ tịch Hiệp hội Giáo sư luật Hàn Quốc và 2 thành viên bổ sung do Chánh án Toà án tối cao bổ nhiệm nếu thấy cần thiết. Ban tư vấn sẽ có ý kiến về các ứng viên Thẩm phán Toà án tối cao, nhưng những ý kiến này không có giá trị ràng buộc Chánh án Toà án tối cao trong việc đề nghị Tổng thống bổ nhiệm.

Nhiệm kỳ:  Nhiệm kỳ của Chánh án và Thẩm phán Toà án tối cao là 6 năm. Giới hạn tuổi của Chánh án Toà án tối cao là 70 và không được đảm nhiệm 2 nhiệm kỳ liên tiếp. Thẩm phán Toà án tối cao ở tuổi 65 có thể được tái bổ nhiệm thêm một nhiệm kỳ.

5. INDONESIA

Toà án tối cao có 51 Thẩm phán trong đó có một Chánh án và một Phó Chánh án; được chia thành 8 Toà mỗi Toà 6 Thẩm phán, do một Thẩm phán có thâm niên cao nhất làm Chánh toà.

Qui trình bổ nhiệm: Thẩm phán Toà án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm trong số các ứng viên do Nghị viện quốc gia đề nghị. Những ứng viên này do Nghị viện quốc gia lựa chọn trong số các ứng viên do Uỷ ban tư pháp đề xuất.

Uỷ ban Tư pháp Indonesia được thành lập và bắt đầu hoạt động từ năm 2005. Điều 24B Hiến pháp hiện hành quy định:

1. Uỷ ban Tư pháp hoạt động độc lập và có quyền đề xuất việc bổ nhiệm Thẩm phán Toà án tối cao. Uỷ ban Tư pháp có các quyền khác liên quan đến việc bảo đảm và bảo vệ danh dự, phẩm giá và tư cách (tốt) của các Thẩm phán.

2. Thành viên Uỷ ban Tư pháp phải có kiến thức và kinh nghiệm về pháp luật, có tính chính trực và nhân cách hoàn hảo.

3. Thành viên của Uỷ ban Tư pháp do Tổng thống bổ nhiệm và bãi nhiệm với sự chấp thuận của Nghị viện quốc gia.

4. Thành phần, chức vụ và tư cách thành viên của Uỷ ban Tư pháp do luật điều chỉnh.

Luật số 22 năm 2004 về Uỷ ban Tư pháp xác định Uỷ ban có 7 thành viên lấy từ đội ngũ các cựu Thẩm phán, luật sư, giảng viên luật và thành viên cộng đồng. Trong đó có một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch do các thành viên khác bầu chọn.

Chánh án, Phó Chánh án Toà án tối cao do các Thẩm phán Toà n tối cao bầu chọn và Tổng thống bổ nhiệm. Chánh toà các Toà (8 Toà) của Toà án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm trong số các Thẩm phán Toà án tối cao theo đề nghị của Chánh án Toà án tối cao.

Nhiệm kỳ: Các Thẩm phán được bổ nhiệm cho đến tuổi về hưu. Thẩm phán Toà án tối cao về hưu ở tuổi 70.

6. THÁI  LAN

Toà án tối cao bao gồm Chánh án, tối đa 6 Phó Chánh án, Thư ký và một số Thẩm phán. Chánh án Toà án tối cao cũng là người đứng đầu các Toà án Công lý. Hội đồng xét xử của Toà án tối cao có ít nhất 3 Thẩm phán.

Qui trình bổ nhiệm: Thẩm phán chuyên nghiệp được Hội đồng tư pháp tuyển dụng và được Quốc vương bổ nhiệm. Ngoài những tiêu chuẩn nhất định như có quốc tịch Thái Lan, ít nhất 25 tuổi, đã vượt qua kỳ thi của Hiệp hội luật sư Thái Lan để trở thành luật sư bào chữa, và có ít nhất hai năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật, thì ứng viên phải thi đỗ kỳ thi mang tính cạnh tranh rất cao do Hội đồng tư pháp tổ chức. Khi được tuyển dụng, họ phải được đào tạo nghề Thẩm phán ít nhất một năm. Những ứng viên đã hoàn thành khoá học đạt kết quả sẽ được Hội đồng tư pháp phê chuẩn và đệ trình Quốc vương để bổ nhiệm là Thẩm phán mới vào nghề (Thẩm phán ít kinh nghiệm). Việc tuyên thệ long trọng trước Quốc vương là một yêu cầu bắt buộc trước khi đảm nhận trọng trách Thẩm phán.

Theo các quy định của Luật bổ nhiệm và giữ vị trí Thẩm phán cao cấp, thì Thẩm phán có thể là Thẩm phán cao cấp khi họ ít nhất 60 tuổi và đã phục vụ trong ngành Toà án ít nhất 20 năm và cũng đã vượt qua được việc đánh giá về sự phù hợp trong công việc. Một Thẩm phán đạt tiêu chuẩn và mong muốn trở thành Thẩm phán cao cấp phải thể hiện ý định của mình bằng văn bản gửi cho Chánh án Toà án tối cao.

Thẩm phán cao cấp không thể được bổ nhiệm giữ chức vụ hành chính của Toà án, như chức vụ Chánh án hoặc thậm chí thực hiện nhiệm vụ như một Chánh án. Hơn nữa, Thẩm phán cao cấp bị cấm được bầu để trở thành Uỷ viên của Hội đồng tư pháp hoặc Uỷ ban hành chính tư pháp, nhưng có quyền bỏ phiếu trong việc bầu các Uỷ viên đó.

Nhiệm kỳ: Thẩm phán cao cấp đảm nhiệm công việc của Thẩm phán cho đến khi họ 70 tuổi.

7. HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

Tòa án tối cao Hoa Kỳ có 09 Thẩm phán.

 

Qui trình bổ nhiệm: Phần lớn các Thẩm phán Tòa án tối cao xuất thân từ những gia đình có hoạt động đảng phái rất tích cực và khoảng 1/3 trong số họ có quan hệ với các luật gia và liên hệ chặt chẽ với các gia đình có truyền thống phục vụ trong ngành tư pháp.  Tất cả các Thẩm phán Tòa án tối cao đều đã học luật, đã từng hành nghề luật và nhiều người trong số họ đã làm Thẩm phán của Tòa án nào đó trước khi được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án tối cao. Và hầu hết trong số họ đều cùng định hướng chính trị với Tổng thống bổ nhiệm họ.

Hiến pháp và luật không quy định về các tiêu chuẩn cần thiết để một người có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán liên bang. Tuy nhiên, có ít nhất bốn yếu tố sau, mặc dù không chính thức, song hết sức thiết yếu:

-       Năng lực chuyên môn: Thông thường các Thẩm phán liên bang thường được bổ nhiệm trong số các luật sư nổi bật về khả năng chuyên môn.

-       Phẩm chất chính trị: Hầu hết những ứng cử viên cho vị trí Thẩm phán đều phải có thành tích nhất định về hoạt động chính trị vì hai lý do. Thứ nhất, vị trí Thẩm phán vẫn được coi là một phần của hệ thống chính trị bảo trợ; những người đã phục vụ trong đảng phái thường có nhiều khả năng được bổ nhiệm làm Thẩm phán liên bang hơn. Thứ hai, Thẩm phán tương lai thường phải có một số hoạt động chính trị, bởi nếu không thì Tổng thống, các Thượng nghị sỹ hoặc lãnh đạo đảng phái tại địa phương - những người đề cử ứng cử viên thẩm phán, sẽ không biết đến họ.

-       Khẳng định sự mong muốn: Một số Thẩm phán tương lai đã tự mình tiến hành những chiến dịch vận động kín đáo hoặc ít nhất cũng phát tín hiệu rằng họ đã sẵn sàng để phục vụ tại Tòa án.

-       Yếu tố may mắn: Là thành viên của một đảng thích hợp tại thời điểm phù hợp hoặc được những nhà môi giới quyền lực chú ý tới tại đúng thời điểm cần thiết thường góp phần đáng kể để giúp một người trở thành Thẩm phán. Sự may mắn cũng quan trọng như là năng lực chuyên môn của người đó.

Tất cả thẩm phán liên bang (bao gồm Thẩm phán Tòa án tối cao) đều do  Tổng thống bổ nhiệm sau khi tham khảo ý kiến theo đúng quy trình với đội ngũ chuyên gia cao cấp của Nhà Trắng, Văn phòng Chưởng lý, một số Thượng nghị sỹ và các nhà hoạt động chính trị khác. Cục điều tra liên bang (FBI) thường tiến hành kiểm tra an ninh theo thủ tục. Sau khi việc bổ nhiệm được công bố công khai, các nhóm lợi ích khác nhau có thể vận động ủng hộ hoặc chống lại ứng cử viên. Tương tự, Ủy ban của Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ đánh giá phẩm chất và năng lực của ứng cử viên. Ủy ban tư pháp của Thượng viện tiến hành cuộc điều tra để xem xét xem ứng cử viên có phù hợp với vị trí này hay không. Việc bổ nhiệm sẽ được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Thượng viện, phê chuẩn theo đa số phiếu đơn thuần.

Tổng thống: Về mặt kỹ thuật, Tổng thống đề cử tất cả các ứng cử viên vào chức vụ Thẩm phán, tuy nhiên, về mặt lịch sử, Tổng thống thường quan tâm nhiều hơn tới việc bổ nhiệm các Thẩm phán Tòa án tối cao.

Bộ Tư pháp: Hỗ trợ cho Tổng thống trong quy trình tuyển lựa Thẩm phán là hai vị trí then chốt do Tổng thống bổ nhiệm trong Bộ Tư pháp - Chưởng lý Hoa Kỳ và Phó Chưởng lý. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là tìm kiếm các ứng cử viên phù hợp với những tiêu chuẩn chung do Tổng thống đặt ra để bổ nhiệm. Khi đã tìm được, Bộ Tư pháp sẽ tiến hành thẩm tra kỹ lưỡng từng ứng cử viên một. Họ có thể đề nghị FBI điều tra về đặc điểm, tính cách và xuất thân của ứng cử viên; họ thường đọc các bản sao của mọi bài báo hoặc bài phát biểu mà ứng cử viên đã viết hoặc đánh giá về các ý kiến được nêu ra của một Thẩm phán đương nhiệm; họ có thể kiểm tra với lãnh đạo đảng chính trị ở địa phương để xác định rằng ứng cử viên là một người trung thành với đảng và có xu hướng ủng hộ những quan điểm chính sách công chủ yếu của Tổng thống.

Các nhóm lợi ích: Một số nhóm gây áp lực tại Hoa Kỳ đại diện cho đời sống chính trị trị thường vận động ủng hộ hoặc chống lại việc đề cử Thẩm phán. Họ  không ngần ngại thúc giục Tổng thống rút lại đề cử nếu các giá trị chính trị và xã hội của người được đề cử khác với họ, hoặc vận động Thượng viện ủng hộ đề cử người mà họ ưa thích. 

Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ (ABA): Ủy ban tư pháp liên bang thuộc Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ đóng một vai trò thiết yếu trong việc đánh giá năng lực chuyên môn của các ứng cử viên dựa trên ba tiêu chuẩn: khí chất của Thẩm phán, năng lực chuyên môn và tính liêm chính. Một ứng cử viên được Ủy ban phê chuẩn sẽ được xếp loại là “đủ điều kiện” hoặc “rất có khả năng”, trong khi những người không được chấp nhận sẽ được phê là “không đủ điều kiện”.

Ủy ban tư pháp của Thượng viện: Ủy ban Tư pháp của Thượng viện phải xem xét tất cả những vị trí đề cử vào chức vụ Thẩm phán liên bang và đưa ra khuyến nghị cuối cùng trước toàn thể Thượng viện. Như vậy, vai trò của Ủy ban này là thẩm tra các cá nhân được đề cử vào chức vụ Thẩm phán, chứ không phải là nêu tên của những ứng cử viên tiềm năng. Ủy ban tổ chức các buổi điều trần về tất cả những vị trí đề cử, trong đó việc nghe các nhân chứng trình bày và thảo luận đều được tiến hành không công khai. Các buổi điều trần về việc bổ nhiệm Thẩm phán quận thường chỉ mang tính hình thức. Tuy nhiên, phiên điều trần của Ủy ban đối với việc đề cử các Thẩm phán Tòa phúc thẩm và Tòa án tối cao thực sự là một quy trình nghiêm túc.

Thượng viện: Bước cuối cùng trong quy trình bổ nhiệm các Thẩm phán liên bang là việc có được đa số phiếu của Thượng viện. Các tài liệu ghi chép cho thấy rằng Tổng thống thường thành công nhất trong việc thuyết phục Thượng viện chấp thuận việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao khi các ứng cử viên có lai lịch, phẩm chất không gây tranh cãi và thiên hướng chính trị ôn hòa, và khi đảng của Tổng thống đồng thời kiểm soát Thượng viện, hoặc ít nhất đa số trong Thượng viên có cùng những quan điểm và giá trị cơ bản với Tổng thống.

Nhiệm kỳ:  Thẩm phán ngừng thực hiện những nhiệm vụ xét xử của mình khi nghỉ hưu theo nguyện vọng hoặc do tình trạng sức khỏe yếu kém hay qua đời, hoặc khi họ chịu sự kỷ luật.

8. CANADA

Tòa án tối cao Canada là Tòa án có thẩm quyền cao nhất tại Canada, gồm có Chánh án và tám Thẩm phán đại diện cho các vùng của đất nước, trong đó phải có ít nhất ba Thẩm phán đại diện đến từ Quebec (là bang duy nhất tại Canada theo truyền thống pháp luật dân luật)[3]. Đơn yêu cầu Tòa án tối cao phúc thẩm phải được hội đồng 03 Thẩm phán Tòa án tối cao xem xét, nếu đáp ứng các điều kiện trên mới được đưa ra xét xử.

Qui trình bổ nhiệm:

Thẩm phán Tòa án tối cao, Tòa Thượng thẩm liên bang, Tòa sơ thẩm liên bang, Tòa án thuế, các Tòa án cấp cao bang/vùng lãnh thổ (sơ thẩm và phúc thẩm) do Toàn quyền Canada bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Chính phủ liên bang.

Bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao được thực hiện theo đúng quy định, trong số 9 Thẩm phán Tòa án tối cao phải có 3 Thẩm phán đến từ bang Quebec, 3 Thẩm phán đến từ bang Ontario, 2 Thẩm phán đến từ khu vực phía Tây Canada và 1 Thẩm phán đến từ khu vực Đại Tây Dương. Quy trình bổ nhiệm Thẩm phán tối cao dựa trên cơ sở đề xuất của Thủ tướng lên Hội đồng Bộ trưởng. Gần đây, quy trình bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao được bổ sung thêm một bước với sự ra đời của một Ủy ban cố vấn đặc biệt cho mỗi lần bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao. Ủy ban này sẽ xem xét danh sách 7 ứng viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đề xuất và đưa ra danh sách đề xuất 3 ứng viên để Thủ tướng chọn một ứng viên để bổ nhiệm. Ngoài ra, vào tháng 2 năm 2006, một thủ tục khác được giới thiệu trong quy trình bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao là một Ủy ban Nghị viện được phép phỏng vấn ứng viên đã được Thủ tướng lựa chọn trước khi ứng viên đó chính thức được bổ nhiệm.

Nhiệm kỳ: Thẩm phán do chính quyền liên bang bổ nhiệm công tác đến độ tuổi 75.

9. ÚC

Tòa án tối cao là Tòa án có thẩm quyền cao nhất tại Úc, có 7 Thẩm phán, trong đó 1 người là Chánh án.

Qui trình bổ nhiệm

Khi cần bổ sung Thẩm phán, Bộ trưởng Bộ Tư pháp liên bang sẽ thông báo công khai về việc tuyển chọn Thẩm phán. Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng có thể gửi công văn cho các Tòa án liên bang để thông báo có đề cử ai không. Sau khi nhận được hồ sơ của các ứng cử viên, một Hội đồng tuyển chọn sẽ xem xét hồ sơ và phỏng vấn cứng cử viên đó. Hội đồng tuyển chọn bao gồm: Chánh án Tòa án tối cao Úc đã nghỉ hưu, Chánh án Tòa án Liên bang, Thẩm phán Tòa án Liên bang đã nghỉ hưu, Thư ký Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Sau khi xem xét hồ sơ và phỏng vấn, Hội đồng sẽ làm báo cáo gửi cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp về ứng viên được lựa chọn. Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ đề nghị lên Thủ tướng, Thủ tướng sẽ chuyển cho Toàn quyền liên bang ra quyết định bổ nhiệm.

Nhiệm kỳ: Tất cả Thẩm phán đều được bổ nhiệm đến tuổi 70 (tuy nhiên, có thể xin nghỉ hưu sớm). Chánh án Tòa án tối cao và Chánh án Tòa án liên bang do các Thẩm phán của Tòa đó bầu lên.

10. TRUNG QUỐC

Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc có hơn 340 Thẩm phán. Tòa án nhân dân tối cao có 05 Tòa hình sự, 03 Tòa dân sự, Tòa sở hữu trí tuệ, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa xét khiếu nại, 02 Tòa hộ tịch, Tòa giao thông vận tải.

Qui trình bổ nhiệm Thẩm phán

Theo quy định tại Điều 9 Luật Thẩm phán thì điều kiện để trở thành Thẩm phán bao gồm là công dân Trung Quốc, trên 23 tuổi, tôn trọng Hiến pháp, có trình độ nghiệp vụ giỏi và phẩm chất tốt, có sức khỏe, đã công tác 01 năm đối với người có trình độ pháp luật chuyên nghiệp tốt nghiệp Học viện cao đẳng luật hoặc tốt nghiệp cao đẳng không chuyên về luật; đối với người có bằng thạc sỹ hoặc tiến sỹ luật thì không yêu cầu về thời gian công tác.

Những người đủ điều kiện trên đây và đạt kết quả cao trong kỳ thi sẽ được lựa chọn để bổ nhiệm làm Thẩm phán hoặc Thẩm phán phụ thẩm (Điều 12 Luật Thẩm phán).

Các chức vụ Chánh án, Phó Chánh án, Ủy viên Ủy ban Thẩm phán, Chánh tòa, Phó Chánh tòa được chọn trong số những Thẩm phán ưu tú (Hàng năm, các Thẩm phán Trung Quốc phải qua kỳ sát hạch. Kết quả sát hạch chia làm 03 loại: ưu tú, xứng đáng với chức vụ, không xứng đáng với chức chức vụ (Điều 22 Luật Thẩm phán)).

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, nhiệm kỳ của Chánh án trùng với nhiệm kỳ Quốc hội và Chánh án không được giữ cương vị này quá hai nhiệm kỳ (Điều 62 và Điều 123 Hiến pháp). Các Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, các Chánh tòa, Phó Chánh tòa, Ủy viên Ủy ban Thẩm phán, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự do Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (Điều 11 và Điều 35 Luật Tổ chức Tòa án).

Nhiệm kỳ: Pháp luật chỉ quy định nhiệm kỳ đối với Chánh án còn các chức vụ từ Phó Chánh án trở xuống không quy định nhiệm kỳ. Điều đó có nghĩa là Thẩm phán được bổ nhiệm đến khi nghỉ hưu, tuy nhiên, nếu Thẩm phán thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 13 Luật Thẩm phán thì sẽ bị bãi miễn, như: qua sát hạch không còn xứng đáng với chức vụ, phạm tội, vi phạm pháp luật…

11. LIÊN BANG NGA

Tòa án tối cao liêng bang Nga là Tòa án cao nhất trong hệ thống tòa án có thẩm quyền chung. Sau khi hệ thống Toà án kinh tế sáp nhập vào hệ thống Toà án thẩm quyền chung (ngày 06/02/2014), Toà án tối cao Liên bang Nga có 170 Thẩm phán.

Qui trình bổ nhiệm Thẩm phán liên bang

Công dân Nga đủ 25 tuổi trở lên, có trình độ đại học luật, có 5 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực pháp lý, đã thi đỗ kỳ thi tuyển chức danh Thẩm phán, có thể được bổ nhiệm Thẩm phán quận. Người có đủ tiêu chuẩn nêu trên, đủ 30 tuổi trở lên với 7 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực pháp lý, có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán ở tòa án cao nhất của các chủ thể liên bang. Người có đủ tiêu chuẩn trên, từ 35 tuổi trở lên với 10 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực pháp lý có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án tối cao liên bang.

Thẩm phán Tòa án tối cao Liên bang Nga do Hội đồng liên bang (Thượng viện) bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga, mà đề nghị này dựa trên đề xuất của Chánh án Tòa án tối cao Liên bang Nga.

Các Thẩm phán liên bang khác do Tổng thống Liên bang Nga bổ nhiệm theo để nghị của Chánh án Tòa án tối cao Liên bang Nga.

Nhiệm kỳ: Các Thẩm phán được bổ nhiệm đến tuổi nghỉ hưu là 70 tuổi. Thẩm phán có thâm niên không dưới 10 năm và đang nghỉ hưu được coi là Thẩm phán danh dự. Thẩm phán đó có thể được mời thực hiện hoạt động xét xử với tư cách Thẩm phán theo quy định của Luật liên bang.

Các Chánh án (Phó Chánh án) các cấp Tòa án liên bang được bổ nhiệm với thời hạn 6 năm. Một người có thể được bổ nhiệm nhiều lần làm Chánh án (Phó Chánh án) của cùng một Tòa án, nhưng không quá hai lần liên tiếp.

12. BULGARY

Toà phá án tối cao có khoảng 100 Thẩm phán, bao gồm các Toà: Hình sự, Thương mại, Dân sự và Toà Hình sự về các vụ án đặc biệt. Toà phá án tối cao thường xét xử với Hội đồng gồm 3 Thẩm phán, trừ các trường hợp có quy định khác của pháp luật.

Bổ nhiệm Thẩm phánCông dân Bun-ga-ri, có trình độ đại học luật, sau khi thi đỗ vào Học viện Tư pháp quốc gia, tốt nghiệp khoá học 9 tháng, sẽ được bổ nhiệm làm Thẩm phán trong thời gian 2 năm. Trong thời gian này các Thẩm phán mới tiếp tục được các Thẩm phán có nhiều kinh nghiệm giúp đỡ nâng cao kỹ năng nghiệp vụ. Các Thẩm phán có kinh nghiệm sẽ đánh giá công việc của các Thẩm phán mới. Trên cơ sở đánh giá này, Hội đồng tư pháp tối cao sẽ bổ nhiệm Thẩm phán (mới) đó làm Thẩm phán chính thức.

Chánh án Toà phá án tối cao được bổ nhiệm một lần duy nhất với nhiệm kỳ 7 năm. (Tổng thống bổ nhiệm, bãi nhiệm trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Tư pháp tối cao).

Nhiệm kỳ: Thẩm phán được bổ nhiệm đến tuổi nghỉ hưu là 65 tuổi (Điều 129 khoản 3 điểm 1 Hiến pháp).

13. HUNGARY

Tòa án Công lý – Tòa án có thẩm quyền cao nhất tại Hungary, có tất cả 191 Thẩm phán. Hội đồng xét xử của Toà án Công lý khi xem xét lại các bản án dã có hiệu lực bao gồm 3 Thẩm phán; đối với các vụ án phức tạp, Hội đồng có thể bao gồm 5 Thẩm phán.

Chánh án Toà án Công lý do Quốc hội bầu trong số Thẩm phán Toà án Công lý với nhiệm kỳ 9 năm theo đề nghị của Tổng thống. Việc bầu Chánh án Toà án Công lý phải được ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội tán thành (Điều 26, khoản 3 Hiến pháp).

Qui trình bổ nhiệm Thẩm phán:

Người đã làm Thư ký Toà án ít nhất một năm, từ 30 tuổi trở lên, công bố minh bạch tài sản, có đủ sức khoẻ về thể chất và tinh thần, về nguyên tắc, sẽ được bổ nhiệm làm Thẩm phán. Quy trình bổ nhiệm Thẩm phán như sau:

- Chánh án các Toà án thông báo cho Chủ tịch Văn phòng Toà án quốc gia khi có vị trí công tác trống cần bổ nhiệm.

- Chủ tịch Văn phòng Toà án quốc gia thông báo về việc tuyển dụng Thẩm phán vào các vị trí này.

Hội đồng tư pháp xem xét các hồ sơ, cho ý kiến về các ứng viên và đánh giá thông qua việc cho điểm trong thang điểm bổ nhiệm Thẩm phán. Thang điểm này được quy định tại Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và hành chính công.

- Chánh án Toà án nơi bổ nhiệm Thẩm phán sẽ đề xuất danh sách các ứng viên bổ nhiệm Thẩm phán lên Chủ tịch Văn phòng Toà án quốc gia: Chánh án các Toà án chỉ được đề xuất bổ nhiệm những ứng viên được Hội đồng tư pháp xếp ở vị trí thứ nhất, thứ hai, thứ ba. Ngoài ra, khi Chánh án đề xuất bổ nhiệm các ứng viên được xếp ở vị trí thứ hai và thứ ba, Chánh án phải gửi kèm theo một văn bản giải thích cho lựa chọn của mình.

- Chủ tịch Văn phòng Toà án gửi đề xuất lên Tổng thống để bổ nhiệm Thẩm phán. Chủ tịch Văn phòng Toà án có thể có ý kiến khác về thứ tự các hồ sơ so với ý kiến của Hội đồng tư pháp và có thể ủng hộ các ứng viên xếp ở vị trí thứ hai và thứ ba nhưng phải nói rõ lý do bằng văn bản cho lựa chọn của mình.

Trong trường hợp bổ nhiệm Thẩm phán Toà án Công lý, Chánh án Toà án Công lý sẽ là người đánh giá ứng viên và gửi đề xuất lên Tổng thống để bổ nhiệm.

- Tổng thống là người bổ nhiệm Thẩm phán.

Nhiệm kỳ:  Thẩm phán được bổ nhiệm lần đầu tiên có nhiệm kỳ 3 năm. Công việc của Thẩm phán được đánh giá trước khi kết thúc nhiệm kỳ tạm thời này, nếu đạt yêu cầu sẽ  được bổ nhiệm đến tuổi nghỉ hưu là 70 tuổi. Việc đánh giá thứ hai sau 3 năm Thẩm phán được bổ nhiệm chính thức và sau đó được đánh giá 8 năm một lần và lần cuối cùng là 6 năm trước khi Thẩm phán đến tuổi nghỉ hưu. Ngoài ra, có thể có các đợt đánh giá đột xuất. Nếu Thẩm phán bị đánh giá là không phù hợp với vị trí của mình thì sẽ bị miễn nhiệm theo quy định  về quy trình miễn nhiệm.

II. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ  KIẾN NGHỊ

1. QUI CHẾ BỔ NHIỆM THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HIỆN HÀNH TẠI VIỆT NAM

Ứng cử viên Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được tuyển chọn thông qua Hội đồng tuyển chọn thẩm phán TANDTC (Điều 24 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân). Hội đồng này bao gồm Chủ tịch là Chánh án TANDTC, các thành viên là đại diện Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương Hội luật gia Việt Nam (khoản 1, Điều 26 PLTPVHTTAND). Danh sách thành viên Hội đồng do Chánh án TANDTC đề xuất và phải được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Hội đồng có chức năng tuyển chọn và đề xuất người có đủ điều kiện làm thẩm phán TANDTC và Tòa án quân sự Trung ương theo đề nghị của Chánh án TANDTC để trình Chủ tịch nước bổ nhiệm. Cơ quan giúp việc cho Hội đồng là Vụ Tổ chức-Cán bộ TANDTC (Điều 3, Quyết định số 16/2003/TCCB ngày 17-02-2003 của Chánh án TANDTC).

Tiêu chuẩn chung để được bổ nhiệm làm Thẩm phán được cụ thể hóa tại khoản 1, điều 5 PLTPVHTTAND và Thông tư liên tịch 01/2011/TTLT-TANDTC-BQP-BNV ngày 20-10-2011. Có thể phân chia thành nhóm tiêu chí về phẩm chất, bao gồm: (i) trình độ chuyên môn: tốt nghiệp đại học luật và được đào tạo nghiệp vụ xét xử, kinh nghiệm công tác thực tiễn, năng lực xét xử; và nhóm tiêu chí về nhân thân: công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm chính và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, đủ sức khỏe.

Qui trình tuyển chọn gồm các bước chuẩn bị nhân sự, đánh giá qua phiên họp Hội đồng tuyển chọn và đề nghị bổ nhiệm (TTLT 01).

2. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

a. Bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng

Có thể thấy tất  cả các thiết chế đều đánh giá rất cao vị trí và vai trò của Thẩm phán trong bộ máy nhà nước, đặc biệt là Thẩm phán Tòa án tối cao. Mặc dù không công khai thừa nhận, nhưng thực tế việc bổ nhiệm Thẩm phán đều có tiêu chuẩn chính trị và theo xu hướng của Đảng cầm quyền. Như vậy, có thể khẳng định rằng không có việc phi chính trị hóa các Tòa án trên thế giới.

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhấn mạnh trong điều 4, Hiến pháp 2013. Theo định hướng hiện tại của Luật tổ chức Tòa án án nhân dân (sửa  đổi), Thẩm phán TANDTC đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc gia, trong xây dựng và bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người. Họ phải là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, có thái độ kiên quyết đấu tranh với những người, những hành vi gây phương hại đến Đảng, đến Tổ quốc và nhân dân, bảo vệ công lý. Do vậy, việc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong qui trình tuyển chọn, bổ nhiệm, đánh giá Thẩm phán TANDTC là hết sức cần thiết.

b. Số lượng Thẩm phán Tòa án tối cao

Hiện tại, TANDTC được biên chế 120 thẩm phán. Với những dự kiến thay đổi cơ cấu tổ chức Tòa án nhân dân theo tinh thần Luật tổ chức tòa án nhân dân (sửa đổi), theo đó TANDTC tập trung vào nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, phán triển án lệ…; thành lập các Tòa án cấp cao khu vực, kết hợp với định hướng sửa đổi các bộ luật tố tụng hiện hành, có thể thấy số lượng thẩm phán TANDTC là từ 13-17 người là phù hợp.

c. Về tiêu chuẩn Thẩm phán TANDTC

Mặc dù có những khác biệt nhất định về tiêu chuẩn nhân thân và tiêu chuẩn phẩm chất, có thể thấy khuynh hướng chung trên toàn thế giới là bổ nhiệm dựa trên năng lực. Việt Nam giống mô hình của các nước theo truyền thống dân luật ở chỗ ứng cử viên thẩm phán phải đáp ứng tiêu chuẩn đào tạo nghiệp vụ xét xử. Các thẩm phán Việt Nam đa số đều đã tốt nghiệp đại học luật. Đây là yếu tố tiền đề bảo đảm chất lượng của thẩm phán khi được bổ nhiệm lần đầu.

Đối với ứng cử viên thẩm phán TANDTC, việc đánh giá thường xuyên kết quả hoạt động của họ một cách rõ ràng, hợp lý cần phải được tiến hành một cách cẩn trọng nhằm bảo đảm chất lượng khâu tuyển chọn.

d. Đề xuất ứng cử viên Thẩm phán Tòa án tối cao

Ở nhiều nước, quyền đề xuất ứng cử viên Thẩm phán Tòa án tối cao được trao cho Chánh án Tòa án tối cao (Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Hungary) hoặc Tòa án tối cao (Nhật Bản);

- Ở những nước mà Hội đồng tuyển chọn thẩm phán được quyền đề xuất, vai trò của Tòa án trong Hội đồng tuyển chọn thẩm phán rất lớn. Điều này được thể hiện ở chỗ thành viên đại diện cho Tòa án chiếm tỷ lệ đáng kể trong thành viên Hội đồng (Pháp: 5/12, Hàn Quốc: 3/6 hoặc 5/8, Úc: 3/4)[4]. Cấu trúc này dựa trên cơ sở là chính các thẩm phán là người đánh giá năng lực của ứng cử viên thẩm phán tốt nhất, chính xác nhất. Tỷ lệ đại diện tòa án cao giúp tránh được tình trạng bỏ sót những ứng cử viên đáng giá do không đánh giá đầy đủ, chính xác năng lực của họ. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm này từ quốc tế.

- Qui trình bổ nhiệm thẩm phán ở các nước có những điểm khác biệt như đã phân tích. Tuy nhiên, các thể chế đều đánh giá vị trí của thẩm phán rất cao, nhất là vị trí đặc biệt của Thẩm phán Tòa án tối cao, dù công khai hay không công khai thừa nhận nhưng thực tế việc bổ nhiệm thẩm phán đều có tiêu chuẩn chính trị và theo xu hướng Đảng cầm quyền hoặc người đứng đầu quốc gia. Đối với thẩm phán  Tòa án tối cao, các nước đều có quy trình bổ nhiệm rất chặt chẽ, do Quốc hội phê chuẩn, được nguyên thủ quốc gia hay nhà Vua bổ nhiệm. Ở một số nước, có qui trình thông qua Thượng nghị viện, ứng cử viên Thẩm phán tối cao phải điều trần (từng ứng cử viên Thẩm phán Tòa án tối cao phải điều trần). Điểm này là chế định khác biệt với thể chế chính trị nước ta, do Hiến pháp năm 2013 sửa đổi đã qui định rằng: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giới thiệu, Quốc hội phê chuẩn và Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Vì vậy, quy trình bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao  có thể tiến hành theo các bước sau: Hội đồng tuyển chọn và giám sát Thẩm phán quốc gia do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm Chủ tịch, có nhiệm vụ tuyển chọn, đề xuất các ứng cử viên Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; danh sách các nhân sự đề xuất được Hội đồng tuyển chọn và giám sát Thẩm phán quốc gia thông qua cơ quan có thẩm quyền quản lý nhân sự của Đảng, sau đó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn; căn cứ Nghị quyết của Quốc hội, Chủ tịch nước ra quyết định bổ nhiệm.

đ. Nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án tối cao

Phần lớn các quốc gia, kể cả Trung Quốc, Thẩm phán Tòa án tối cao được bổ nhiệm một lần đến tuổi nghỉ hưu. Những Thẩm phán đã nghỉ hưu vẫn có thể được mời tham gia xét xử (như ở Liên bang Nga) hoặc làm Thẩm phán bán thời gian như ở Úc, Canada,  Pháp... Những ứng cử viên thẩm phán Tòa án tối cao phải là những người có năng lực tốt, có uy tín cao trong xã hội, có nhiều kinh nghiệm công tác và được các thế lực cầm quyền ủng hộ. Thông thường, họ được bổ nhiệm vào chức vụ này ở độ tuổi 50. Với cơ chế đánh giá và giám sát hoạt động của họ rất chặt chẽ, vì vậy việc tái bổ nhiệm sau mỗi nhiệm kỳ ngắn là không cần thiết và có thể gây ra những tác động bất lợi ảnh hưởng đến sự độc lập xét xử của họ.

Thêm vào đó, thẩm phán là nghề đặc thù, yêu cầu phải được đào tạo bài bản, công phu, phải liên tục tích lũy những kiến thức và kỹ năng thực tiễn chuyên môn sâu qua quá trình công tác trước khi được xem xét bổ nhiệm. Các Thẩm phán Tòa án tối cao thường được bổ nhiệm vào chức danh này ở độ tuổi tương đối cao. Vì vậy, không nên áp dụng tuổi hưu như công chức hành chính cho các Thẩm phán Tòa án tối cao, bởi vì nếu làm như vậy, thời gian cống hiến của họ không được nhiều. Trong khi sức khỏe thể lực và trí lực của họ còn bảo đảm, việc để họ nghỉ hưu sớm có thể gây lãng phí nguồn lực trí tuệ quí mà bản thân họ và cả hệ thống Tòa án dầy công tích lũy. Vì vậy, ở nước ta cũng nên áp dụng chế định bổ nhiệm suốt đời và qui định độ tuổi nghỉ hưu là từ 65 đến 70 đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là phù hợp.

e. Chức danh thủ trưởng Cơ quan quản lý Tòa án

Tham khảo mô hình tổ chức của nhiều hệ thống Tòa án trên thế giới, có thể thấy một điểm khác biệt quan trọng là khác với các mô hình trước đây theo đó hệ thống Tòa án cấp dưới thuộc thẩm quyền quản lý hành chính của Bộ Tư pháp, ngày nay, mô hình quản lý hành chính Tòa án thường theo hai phương án: (i) do Tòa án tối cao quản lý toàn bộ; hoặc (ii) việc quản lý hành chính Tòa án được giao cho một cơ quan độc lập tương đối trực thuộc hoặc bên cạnh Tòa án. Mô hình này nhằm mục tiêu tập trung công tác quản lý hành chính trong tổ chức và hoạt động của Tòa án vào một cơ quan tương đối độc lập với Chính phủ và cơ quan lập pháp. Làm như vậy có thể bảo đảm được sự độc lập tương đối của Tòa án, cũng như tiết kiệm nguồn lực tư pháp để sử dụng vào những công tác chuyên môn quan trọng hơn, đồng thời tăng cường chất lượng quản lý hành chính các Tòa án.

Theo mô hình này, công tác quản lý hành chính Tòa án thường được giao cho một cơ quan chuyên biệt (Bộ quản lý hành chính tòa án Hàn Quốc) thuộc Tòa án tối cao, hoặc cho một cơ quan tương đối độc lập (Tổng cục quản lý hành chính tòa án Nga do một Tổng cục trưởng đứng đầu và chịu trách nhiệm trước Chánh án Tòa án tối cao). Nhiệm vụ chính của cơ quan này là chịu trách nhiệm quản lý các công tác hành chính (phi tố tụng như nhân sự về công chức hành chính, kinh phí, cơ sở vật chất…) một cách chuyên môn, nhằm phục vụ hiệu quả  công tác xét xử của tòa án và các thẩm phán chuyên nghiệp. Như vậy, người lãnh đạo cơ quan này (Bộ trưởng Bộ quản lý Tòa án Hàn Quốc, Tổng cục trưởng Tổng cục quản lý Tòa án Nga, hay Chủ tịch Văn phòng Tòa án tối cao) có địa vị rất quan trọng, được pháp luật qui định tương đương với Bộ trưởng,  bởi lẽ người giữ chức vụ này chịu trách nhiệm lớn là bảo đảm cơ sở  vật chất, ngân sách, điều kiện làm việc,  môi trường hoạt động cho toàn bộ hệ thống Tòa án trên toàn quốc, đặc biệt là phục vụ và hỗ trợ trực tiếp cho công tác xét xử, bảo đảm rằng công việc xét xử tại Tòa án tất cả các cấp diễn ra suôn sẻ, thông suốt.

Phương hướng sửa đổi Luật tổ chức Tòa án nhân dân của chúng ta cũng theo hướng này. Dựa trên bản chất nhiệm vụ công việc, các tòa án các cấp sẽ tập trung vào công tác xét xử, còn nhiệm vụ chăm lo công tác hành chính, cơ sở vật chất, nhân sự, đào tạo…. được giao chuyên biệt cho một hệ thống cơ quan chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao. Với việc chuyên môn hóa này, các Thẩm phán và cán bộ Tòa án có chuyên môn luật có điều kiện tập trung toàn tâm, toàn lực vào công tác xét xử nhằm bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng xét xử, đem công lý đến cho người dân, bởi vì phần họ không còn phải đầu tư quá nhiều thời  gian và công sức vào công việc hành chính đơn thuần. Thêm vào đó, việc chuyên môn hóa này cũng nâng cao chất lượng quản lý hành chính Tòa án vì khi đó, công tác hành chính do những cán bộ được đào tạo chuyên môn tương ứng phụ trách; họ có kiến thức và trình độ chuyên môn phù hợp trong quản lý hành chính. Với chức năng, nhiệm vụ và trọng trách như vậy, người đứng đầu hoặc phụ trách cơ quan quản lý hành chính Tòa án là rất quan trọng và cần xác định ngang hàng cấp Bộ trưởng, như trong qui định pháp luật của các nước (có thể phân công một Phó Chánh án không tham gia vào các Hội đồng xét xử giám đốc thẩm mà chỉ tham gia phiên họp toàn thể của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Điều 102, Hiến pháp 2013 đã khẳng định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện “quyền tư pháp”, với nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Để thực hiện những nhiệm vụ cao cả này, Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) cũng cần có những thay đổi cần thiết tương ứng. Qua nghiên cứu qui chế bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao tại một số nước lựa chọn theo các hệ thống pháp luật khác nhau, bài viết này đưa ra những phân tích và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chế định bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam theo hướng bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tinh gọn, hoàn thiện cơ chế đề xuất ứng cử viên Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kéo dài nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hỗ trợ công tác cải cách hành chính tư pháp trong hệ thống Tòa án thông qua việc bảo đảm vị trí, chức năng và vai trò của người đứng đầu, chịu trách nhiệm về quản lý hành chính tư pháp trong hệ thống Tòa án… phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra./.


 


 

[1] Bài viết không đề cập qui trình bổ nhiệm Thẩm phán tòa án tối cao bang tại các nước theo thể chế liên bang.

[2] Tại những nước mà hệ thống Tòa án duy nhất có chức năng giải thích Hiến pháp, do thẩm quyền này, nguồn ứng cử viên thẩm phán Tòa án tối cao về lý thuyết rộng hơn, thẩm quyền giới thiệu ứng cử viên cũng rộng hơn. Tương tự, cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án Hiến pháp ở các nước có Tòa án Hiến pháp độc lập cũng khác cơ chế bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao có thẩm quyền chung. Ví dụ, Tòa án Hiến pháp Hàn Quốc có 9 thẩm phán, 03 người do Chánh án Tòa án tối cao giới thiệu, 03 người do Chính phủ giới thiệu, và 03 người do Quốc hội giới thiệu để Tổng thống bổ nhiệm.

[3] Tại các nước liên bang có hệ thống pháp luật hỗn hợp, gồm cả truyền thống dân luật và thông luật, qui trình bổ nhiệm thẩm phán có tính đến cả yếu tố này,  phản ánh qua nguồn và tỷ lệ thẩm phán đại diện cho các truyền thống luật khác nhau. Bài viết không đi sâu vào đặc trưng này.

[4] Ngoài ra, có thể tham khảo thêm: Ý: 21/33, Tây Ba Nha: 13/21, Bồ Đào Nha: 9/17. Bộ Tư pháp New Zealand, Bổ nhiệm thẩm phán: Hội đồng bổ nhiệm tư pháp của New Zeland? Tháng 4/2004.

Nguồn: http://toaan.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi