Những quy định mới về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong Luật Tố tụng hành chính

Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (Pháp lệnh TTGQCVAHC) (được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các năm 1998 và năm 2006) quy định Viện kiểm sát có vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (Điều 10) và là cơ quan tiến hành tố tụng; Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng. Khi thực hiện chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn: Khởi tố vụ án hành chính đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 18); triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (các Điều 24, 25 và Điều 33); tham gia phiên toà xét xử vụ án hành chính (các Điều 18, 43 và Điều 63); thực hiện các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật.

Sau 14 năm thi hành Pháp lệnh TTGQCVAHC, vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật Tố tụng hành chính (Luật này được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2010, Chủ tịch Nước ký lệnh công bố ngày 07/12/2010 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2011). Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC) đã kế thừa và phát triển các quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta từ trước đến nay, thể chế hoá các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp trong hoạt động giải quyết các vụ án hành chính. Trong đó, tiếp tục quy định và có nhiều nội dung đổi mới quan trọng liên quan đến vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính.

1. Về địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính

Theo quy định của Luật TTHC, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính được khẳng định rõ: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng hành chính, có chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật (Điều 23 và Điều 34).

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 cũng quy định rõ, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hành chính là một khâu công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 3).

Căn cứ vào các quy định của Luật TTHC và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, có thể xác định một số đặc điểm của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính như sau:

Thứ nhất, phạm vi kiểm sát các vụ án hành chính của Viện kiểm sát là từ khi Toà án tiến hành thủ tục thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án;

Thứ hai, đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính là sự tuân thủ pháp luật của Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án và của những người tham gia tố tụng.

Thứ ba, mục tiêu của hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính là; bảo đảm việc giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật, kịp thời; qua đó, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

2. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính

Các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính cụ thể như sau:

Một là, kiểm sát việc thụ lý vụ án hành chính của Toà án (khoản 1 Điều 21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân);

Hai là, tham gia phiên toà, phiên họp giải quyết vụ án hành chính ở các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thủ tục đặc biệt theo quy định của Luật TTHC (các Điều 23, 130, 170, 194, 220 và Điều 238 Luật TTHC);

Ba là, tham gia hỏi người khởi kiện, người bị kiện và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (các Điều 160, 204, 223 và Điều 238 Luật TTHC);

Bốn là, kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà, phiên họp của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng (khoản 1 và khoản 2 Điều 40 Luật TTHC và khoản 5 Điều 21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân);

Năm là, kiểm sát các bản án và quyết định giải quyết vụ án hành chính của Toà án (khoản 4 Điều 40 Luật TTHC và khoản 6 Điều 21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân);

Sáu là, kiến nghị với Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án về việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 70 Luật TTHC);

Bảy là, yêu cầu Toà án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án (khoản 3 Điều 78 Luật TTHC);

Tám là, thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án để phục vụ việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (khoản 3 Điều 78 Luật TTHC);

Chín là, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính của Toà án theo quy định của Luật TTHC (các Điều 181, 212 và Điều 235 Luật TTHC);

Mười là, yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (Điều 213 Luật TTHC); quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án khi đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 213, 235 Luật TTHC);

Mười một là, thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiến nghị với Toà án nhân dân khắc phục những vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án hành chính nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật (Điều 22 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân);

Mười hai là, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kiến nghị với Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao khi có căn cứ xác định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết định đó (Điều 239 Luật TTHC).

3. Về những điểm mới của Luật Tố tụng hành chính liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính

So với Pháp lệnh TTGQCVAHC năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung các năm 1998, 2006), vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hành chính theo Luật TTHC có một số thay đổi, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật TTHC không quy định quyền khởi tố vụ án hành chính của Viện kiểm sát đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất liên lạc hành vi dân sự (quyền này hiện đang được quy định tại Điều 18 Pháp lệnh TTGQCAHC); thay vào đó, khoản 3 Điều 23 Luật TTHC quy định "đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, nếu họ không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi người đó cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó".

Thứ hai, Luật TTHC không quy định quyền thu thập chứng cứ của Viện kiểm sát như: Quyền triệu tập người làm chứng, quyền trưng cầu giám định, quyền yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Viện kiểm sát (hiện đang được quy định tại các Điều 24, 25, 33 Pháp lệnh TTGQCVAHC); thay vào đó, Luật TTHC chỉ quy định "Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án". Viện kiểm sát chỉ tự mình thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Toà án (khoản 3 Điều 78). Chúng tôi cho rằng, việc Luật TTHC không quy định các quyền của Viện kiểm sát trong việc triệu tập người làm chứng, quyền trưng cầu giám định, quyền yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… là phù hợp với nguyên tắc về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hành chính, theo đó, nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ thuộc về người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Thứ ba, Luật TTHC quy định phân biệt nội dung phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm vụ án hành chính (Pháp lệnh TTGQCVAHC và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định chung ở tất cả các thủ tục xét xử là "Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án"), cụ thể là:

- Tại phiên toà sơ thẩm, Điều 160 Luật TTHC quy định "Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án".

- Tại phiên toà phúc thẩm, khoản 3 Điều 204 Luật TTHC quy định "Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm"; tại phiên họp giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính của Toà án cấp sơ thẩm, khoản 3 Điều 207 Luật TTHC quy định "Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm và phát biểu ý kiến về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định".

- Tại phiên toà giám đốc thẩm, khoản 3 Điều 223 Luật TTHC quy định "Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án".

Thứ tư, Luật TTHC quy định thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; trong đó, quy định Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kiến nghị với Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao khi có căn cứ xác định có vi phạm pháp luật nghiêm trong hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định. Đây là một quy định hoàn toàn mới trong tố tụng tư pháp nói chung và tố tụng hành chính nói riêng.

Luật TTHC cũng quy định rõ, khi có kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo báo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị; trường hợp Hội đồng Thẩm phán không nhất trí với kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do; phiên họp của Hội đồng Thẩm phán xem xét kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi