Kiến nghị hoàn thiện dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính


 

Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC)  là khung pháp lý tạo điều kiện cho các cơ quan hành chính, người được Nhà nước trao quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật (VPPL) của các tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; đồng thời, đây cũng là chế định pháp luật được định lượng tương đối cụ thể mức độ VPPL của các hành vi, xác định ranh giới giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự, tránh hiện tượng lạm quyền, hình sự hoá các quan hệ pháp luật hành chính.

Qua hơn 20 năm triển khai thực hiện kể từ ngày Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 được ban hành và qua hai lần thay đổi bằng Pháp lệnh XLVPHC năm 1995, năm 2002 chothấy, tình trạng VPPL nói chung, đặc biệt là VPPL hành chính rất đa dạng, phức tạp, thay đổi theo sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, do vậy, Pháp lệnh XLVPHC  năm 2002 tuy đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2007, 2008, song một số quy định của Pháp lệnh đã tỏ ra bất cập, cần phải được sửa đổi một cách toàn diện cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. 

1. Quy định xử lý vi phạm hành chính trong các văn bản pháp luật

Hiện nay, trên lĩnh vực XLVPHC có các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh (chưa tính đến các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, các bộ) sau: Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008; Luật Cạnh tranh (từ Điều 117 đến Điều 119) Luật Quản lý thuế năm 2006 (từ Điều 103 đến Điều 115) và Luật Chứng khoán năm 2006 (từ Điều 118 đến Điều 130). Do vậy, việc xây dựng Luật XLVPHC sẽ đi theo hai hướng:

- Nếu các quy định pháp luật XLVPHC trên lĩnh vực thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế… đã được quy định trong Luật Quản lý thuế, hoặc các quy định về xử lý VPPL trong Luật Chứng khoán, Luật Cạnh tranh còn phù hợp, tiếp tục được thực hiện thì các quy định có liên quan đến các nội dung này trong Dự thảo Luật XLVPHC[1] (Dự thảo ngày 15/3/2011) phải tôn trọng, tránh xung đột pháp luật. Ví dụ, trong Luật Quản lý thuế quy định: người nộp thuế có hành vi chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và bị xử phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp[2], hoặc đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định và bị phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn[3]. Các quy định về cách tính mức phạt nói trên chưa được quy định trong Pháp lệnh XLVPHC năm 2002; nên Luật XLVPHC phải xác định là có nên có quy định mới hay vẫn theo các quy định đã có tại các Luật khác.

Nếu thấy các quy định pháp luật XLVPHC được quy định trong Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý thuế, Luật Chứng khoán không còn phù hợp thì bãi bỏ và xây dựng các quy định mới.

Hai hướng tiếp cận này vẫn chưa được thể hiện rõ trong Dự thảo Luật XLVPHC. Đề nghị  Ban soạn thảo Luật XLVPHC xem xét, bổ sung.

2. Xem xét áp dụng và định danh lại nhóm “các biện pháp xử lý hành chính khác”

Việc không đưa vào Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 các biện pháp như giáo dục tại xã, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính nhưng sau đó lại đưa các biện pháp này vào Pháp lệnh XLVPHC năm 1995, 2002 (biện pháp quản chế hành chính đã bị bãi bỏ năm 2007) đã được sự quan tâm của nhiều tổ chức, cá nhân. Bản chất các biện pháp này mang đậm nét của “biện pháp tư pháp” thuộc phạm vi quy định của BLHS. Do vậy, đề nghị nên xem xét một cách nghiêm túc việc loại bỏ hoàn toàn hoặc một số biện pháp trong các biện pháp này ra khỏi phạm vi quy định của luật hành chính. Theo chúng tôi, trong tương lai chỉ nên giữ lại biện pháp giáo dục tại địa phương cấp xã với tư cách là biện pháp cưỡng chế hành chính nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân cư vào việc thực hiện giáo dục các đối tượng, nhất là người chưa thành niên. Đồng thời phải đưa vào trong Luật XLVPHC những quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, người có thẩm quyền trong việc giám sát, thực hiện biện pháp giáo dục tại cấp xã. Đây là biện pháp mang ý nghĩa nhân đạo, có tính giáo dục cao, cần được phát huy trong thực tế.

Nếu tiếp tục giữ lại nhóm biện pháp này trong Dự thảo Luật XLVPHC, chúng tôi đề nghị cần định danh lại nhóm “các biện pháp xử lý hành chính khác” làcác biện pháp xử lý hành chính đặc biệt” vì:

 (i) về mặt ngữ nghĩa, “khác” là: a) không giống, có thể phân biệt được với nhau khi so sánh;ví dụ: hai chiếc áo khác màu. b) không phải là cái đã biết, đã nói đến, tuy là cùng loại; ví dụ: cho tôi lấy cốc khác[4].Như vậy, khi nói đến “các biện pháp xử lý hành chính khác”, phải được đặt trong bối cảnh pháp luật thực định là Pháp lệnh XLVPHC để phân biệt với XLVPHC bằng các hình thức xử phạt chính: cảnh cáo, phạt tiền; hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp như: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép… Khi đứng riêng lẻ, độc lập thì cụm từ “Các biện pháp xử lý hành chính khác” không đảm bảo về mặt ngữ nghĩa.

(ii) Tính chất “đặc biệt” của các biện pháp này thể hiện ở các nội dung sau:

- Về đối tượng bị xử lý: Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức; còn biện pháp xử lý hành chính khác chỉ được áp dụng đối với cá nhân là người Việt Nam.

- Về thẩm quyền áp dụng: Có nhiều chức danh có quyền xử phạt, đó là những người có thẩm quyền của cơ quan quản lý hành chính có thẩm quyền chung và cả cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn…; trong khi đó, đối với biện pháp xử lý hành chính khác chỉ có ba chức danh thuộc cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền chung có thẩm quyền ra quyết định áp dụng, đó là: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

- Về trình tự, thủ tục ban hành quyết định: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo trình tự, thủ tục phức tạp hơn so với việc xử phạt vi phạm hành chính, do nhiều tổ chức, người có thẩm quyền tham gia vào quá trình xét duyệt hồ sơ để tiến hành quyết định áp dụng biện pháp tương ứng với hành vi vi phạm; đặc biệt là có sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh…

- Về hậu quả pháp lý và việc hạn chế quyền công dân đối với đối tượng bị áp dụng: Hậu quả pháp lý và việc hạn chế quyền công dân mặc dù có tác động đến tâm lý, tư tưởng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính song chủ yếu là điều chỉnh tác động đến quan hệ tài sản, hạn chế quyền kinh doanh của đối tượng vi phạm nhưng chưa hạn chế đến quyền nhân thân, ngoại trừ trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc bảo đảm việc XLVPHC; còn việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác một số quyền cơ bản của công dân bị hạn chế, thể hiện ở các điểm như: yêu cầu người chấp hành biện pháp giáo dục tại cấp xã có tổng số thời gian vắng mặt không được quá một phần ba thời gian được giáo dục; hoặc đối với việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh thể hiện mức độ nghiêm khắc đối với việc hạn chế một số quyền công dân như các đối tượng phải lao động, học tập và sinh hoạt dưới sự quản lý của các cơ sở, việc lao động phải hoàn thành theo định mức quy định; hạn chế việc gặp người thân, gửi thư, nhận quà; không được về thăm gia đình trong thời gian chấp hành quyết định[5]...

Điều 1 Dự thảo Luật XLVPHC ngày 15/3/2011 quy định“…XLVPHC, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính...”. Như vậy, cụm từ  “các biện pháp xử lý hành chính khác” như trong Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC 2002 được thay bằng cụm từ “áp dụng các biện pháp xử lý hành chính”. Việc sửa đổi này tuy đảm bảo về mặt ngữ nghĩa nhưng vẫn chưa làm rõ được bản chất pháp lý của chế định pháp luật; do vậy, chúng tôi đề nghị trong Dự thảo cần quy định: “XLVPHC, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đặc biệt”.

3. Thẩm quyền áp dụng xử phạt vi phạm hành chính

Cần làm rõ về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, để chỉ ra tại sao nhân viên, lãnh đạo của cơ quan nhà nước này có thẩm quyền, còn đối với cơ quan khác lại không có. Bên cạnh đó, chúng tôi đề nghị cần khảo sát, tổng hợp trong quá trình áp dụng pháp luật, để xác định tính khả thi của quy định pháp luật. Ví dụ, nếu như trong Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 quy định Thẩm phán chủ toạ phiên toà có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 1.000.000 đồng[6] thì trong Pháp lệnh XLVPHC 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2008, thẩm quyền của Thẩm phán chủ toạ phiên toà có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 2.000.000 đồng; ngoài ra còn quy định thêm các chức danh khác như Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phá sản, Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Toà án quân sự khu vực, Chánh án Toà án quân sự quân khu và tương đương, Chánh án Toà án nhân dân tối cao có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền lên đến từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng tuỳ theo từng chức danh cụ thể; đồng thời, các chức danh trên đều có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính[7]. Quy định như vậy, song thực tiễn áp dụng cho thấy, hầu như các Thẩm phán, Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh chưa thực hiện thẩm quyền này của mình[8], nếu như trong khi xét xử có xảy ra tình trạng gây rối trật tự công cộng tại phiên toà mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Tình trạng các cá nhân được trao quyền nói trên từ chối thực thi quyền của mình, theo chúng tôi, vì các lẽ sau:

(i) Thẩm quyền Nhà nước trao cho các chức danh trên chủ yếu là thẩm quyền để thực hiện hoạt động xét xử do pháp luật tố tụng quy định. Trong khi đó, quan hệ pháp luật phát sinh giữa họ và người có hành vi VPPL tại phiên toà mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự là quan hệ pháp luật hành chính; do vậy, khi quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người có hành vi VPPL tại phiên toà, các chức danh này phải nhân danh thẩm quyền hành chính, nên phải dự liệu các hệ lụy pháp lý phát sinh như: tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nếu đối tượng vi phạm không chấp hành; tự mình giải quyết khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính nếu bị đối tượng bị xử phạt khiếu nại với các bước: gặp gỡ, đối thoại, ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, hoặc trở thành đương sự (người bị kiện) trong vụ án hành chính[9]. Với những hệ lụy pháp lý “rắc rối” phải giải quyết khi thực hiện thẩm quyền hành chính của mình tại phiên toà như thế, sẽ làm tốn rất nhiều thời gian, công sức và điều chắc chắn là sẽ ảnh hưởng nhiều đến nhiệm vụ chuyên môn là chức năng tố tụng theo quy định pháp luật, cho nên, họ chọn “giải pháp an toàn” là “từ chối” thẩm quyền của mình.

(ii) Trong các phiên toà, nhất là phiên toà xét xử các vụ án hình sự, thường có lực lượng cảnh sát nhân dân tham gia bảo vệ phiên toà; do vậy, nếu có tình huống phát sinh như một số phần tử quá khích gây rối trật tự phiên toà, các chiến sĩ cảnh sát bảo vệ sẽ xử lý theo quy định thẩm quyền hoặc Trưởng Công an, Chủ tịch UBND các cấp sẽ xử lý theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình nếu hành vi vi phạm vượt quá thẩm quyền của chiến sĩ cảnh sát.

Do vậy, chúng tôi đề nghị cần rà soát lại các chức danh có thẩm quyền áp dụng xử phạt vi phạm hành chính theo hướng:

- Bỏ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các chức danh tố tụng của Toà án nhân dân các cấp trong Luật XLVPHC để họ tập trung vào chức năng chính là giải quyết, xét xử các vụ án theo quy định pháp luật;

- Mở rộng thẩm quyền áp dụng xử phạt vi phạm hành chính đối với một số chức danh thuộc cơ quan hành chính nhà nước có phát sinh vi phạm hành chính của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi chức năng được pháp luật quy định, để đảm bảo một trong những nguyên tắc quan trọng của XLVPHC là: mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc XLVPHC phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật[10].

Liên quan đến nội dung trên về tiêu chuẩn, trình độ của người áp dụng pháp luật, chúng ta có thể thấy rằng, các chức danh thực hiện chức năng tố tụng như: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, pháp luật đều quy định trình độ pháp lý của họ tương đương với cử nhân luật[11]; tuy vậy, các chức danh có quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác như: giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh mà các biện pháp ấy in đậm dấu ấn của “biện pháp tư pháp”, hạn chế quyền tự do của con người, thì pháp luật chưa quy định yêu cầu về trình độ, kiến thức pháp lý của các cá nhân được trao quyền. Thực tế cho thấy, họ xuất thân từ nhiều ngành chuyên môn trong các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, được bầu cử vào cơ quan hành chính nhà nước (đối với Chủ tịch UBND các cấp) hoặc được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, công chức thừa hành trong các cơ quan chuyên môn của cơ quan hành chính, kiến thức về pháp luật nói chung, kiến thức pháp luật hành chính nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu trong việc đánh giá hành vi vi phạm của các đối tượng để áp dụng quy định pháp luật phù hợp. Do vậy, chúng tôi đề nghị, cần có kế hoạch bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho các đối tượng nói trên, đồng thời quy định ngay trong Luật XLVPHC tiêu chuẩn về trình độ pháp lý của người có thẩm quyền ban hành quyết định XLVPHC để hạn chế đến mức thấp nhất việc áp dụng pháp luật chưa chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Hiện nay trong Dự thảo Luật XLVPHC, về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính vẫn giữ nguyên như trong Pháp lệnh XLVPHC 2002, chỉ có sự thay đổi về mức xử phạt bằng tiền, áp dụng biện pháp bổ sung, khắc phục hậu quả đối với một số chức danh, còn những nội dung nêu trên chưa được đề cập. Đây là vấn đề mà Ban soạn thảo cần quan tâm xem xét trong quá trình tiếp thu, hoàn thiện Dự thảo.

4. Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định tại Điều 67 Pháp lệnh XLVPHC 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) thì chỉ có 13 nhóm chức danh có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế và có nhiệm vụ tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt của mình và của cấp dưới. Như vậy, đối với các quyết định xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh: Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, nhân viên Hạt kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt phúc kiểm lâm sản, Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động; nhân viên thuế vụ, Trạm trưởng Trạm thuế, Đội trưởng đội thuế, Chi cục trưởng Chi cục thuế; Chấp hành viên Thi hành án dân sự, Trưởng Thi hành án dân sự cấp huyện (nay là Chi cục trưởng Chi cục thi hành án dân sự cấp huyện) mà các tổ chức, cá nhân không chịu chấp hành thì người có thẩm quyền cấp trên có trách nhiệm tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt. Qua thực tiễn áp dụng cho thấy, do địa bàn hành chính của cơ quan cấp trên xa, điều động lực lượng để tổ chức cưỡng chế rất tốn kém… đồng thời, nếu các đối tượng bị cưỡng chế khiếu nại quyết định cưỡng chế và sau đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định quyết định xử phạt vi phạm hành chính là trái pháp luật, thì ai là người chịu trách nhiệm bồi thường: người ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hay người ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính?

Để khắc phục tình trạng nêu trên, chúng tôi đề nghị xác định thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo hướng: Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thì có quyền cưỡng chế các đối tượng vi phạm không chịu chấp hành phải thi hành quyết định xử phạt của chính mình ban hành; cơ quan cảnh sát, các cơ quan khác có liên quan có trách nhiệm hỗ trợ trong quá trình cưỡng chế; đồng thời người ban hành quyết định cưỡng chế chịu trách nhiệm pháp lý về quyết định hành chính của mình. Trong trường hợp nội dung cưỡng chế liên quan đến nhiều địa phương thì người có thẩm quyền cấp trên mới có trách nhiệm tổ chức cưỡng chế; người ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại (nếu có) phát sinh trong quá trình các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện quyết định xử phạt và quyết định cưỡng chế.

Về thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế nêu trên, trong Điều 93 của Dự thảo Luật XLVPHC chỉ bổ sung: Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện; còn đối với hai chức danh Chi cục trưởng Chi cục Thuế và Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm vẫn chưa được quy định thẩm quyền này. Chúng tôi đề nghị, Ban soạn thảo Luật XLVPHC cần nghiên cứu, khảo sát thực tiễn để bổ sung trong Dự thảo tiếp theo.

5. Thẩm quyền quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần chấp hành còn lại của quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác

Theo quy định tại Điều 70, Điều 72; Điều 95, Điều 99 Pháp lệnh XLVPHC 2002 thì Chủ tịch UBND cấp xã có quyền áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, quyết định miễn thời hạn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định giáo dục tại cấp xã theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có liên quan; Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền quyết định đưa người vào cơ sở chữa bệnh, quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở chữa bệnh. Với quy định trên, chúng ta có thể hiểu là người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, đưa người vào cơ sở chữa bệnh thì cũng có thẩm quyền quyết định việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần thời gian còn lại phải chấp hành biện pháp bị áp dụng theo từng trường hợp cụ thể.

Tuy vậy, theo Điều 77, Điều 81; Điều 86, Điều 90 của Pháp lệnh XLVPHC 2002 thì Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền quyết định đưa người vào trường giáo dưỡng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục; song thẩm quyền quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục lại thuộc về Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng trên cơ sở đề nghị của Hiệu trưởng Trường giáo dưỡng hoặc Giám đốc cơ sở giáo dục.

Chúng tôi nghĩ rằng, việc phân cấp về thẩm quyền nêu trên chưa phù hợp với lý luận về quyết định hành chính nhà nước cá biệt, đó là quyết định do cơ quan hành chính nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức được uỷ quyền hành pháp ban hành nhằm giải quyết các công việc cụ thể gồm các giai đoạn: giai đoạn xây dựng và ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước (gồm các bước: điều tra nghiên cứu, thu thập thông tin và xử lý thông tin; soạn thảo quyết định; thông qua quyết định); giai đoạn tổ chức thực hiện quyết định (gồm các bước: triển khai quyết định; tổ chức lực lượng thực hiện quyết định) và giai đoạn kiểm tra việc thực hiện quyết định[12].

Như vậy, giai đoạn đưa đối tượng chấp hành quyết định của người có thẩm quyền đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục chỉ là một giai đoạn trong cả quá trình xây dựng, ban hành, tổ chức, kiểm tra việc thực hiện quyết định quản lý hành chính nhà nước, mà trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục là tổ chức có trách nhiệm triển khai thực hiện quyết định quản lý hành chính nhà nước. Do vậy, việc giao cho Cục trưởng Cục quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng quyết định việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục là chưa thống nhất với các quy định tương tự trong trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã. Bên cạnh đó, vấn đề này chưa phù hợp với việc phân định thẩm quyền gữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung (UBND các cấp) và cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền riêng (Bộ Công an) mà Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng là cơ quan tham mưu cho Bộ Công an. Đối chiếu trong Dự thảo Luật XLVPHC thì Điều 95(18), Điều 95(32) quy định về thẩm quyền theo nội dung đã nêu vẫn không có gì thay đổi. Vì thế, chúng tôi đề nghị cần xây dựng thẩm quyền quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần chấp hành còn lại của quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác theo hướng: người nào có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác thì có thẩm quyền nêu trên, vì thẩm quyền này phái sinh từ thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác và là một trong những giai đoạn của việc thực hiện quyết định hành chính của người có thẩm quyền./.  

 

[2]Khoản 1 Điều 106 Luật Quản lý thuế năm 2006.

[3] Điều 108 Luật Quản lý thuế  năm 2006.

[4] Viện Ngôn ngữ học 2000, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 488.

[5] ThS. Lê Ngọc Thạnh, Sự cần thiết phải định danh lại cho nhóm “Các biện pháp xử lý hành chính khác, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 2/2009, tr. 21.

[6]Điều 40 Pháp lệnh XLVPHC năm 2002. 

[7]Điều 40 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC  năm 2008 .

[8] Theo Báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong các năm từ năm 2002 - 2009, chưa thể hiện việc các thẩm phán chủ toạ phiên toà áp dụng thẩm quyền của mình trong việc xử phạt vi phạm hành chính.

[9]Điều 43, Điều  46, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005.

[10] Điều 3, Pháp lệnh XLVPHC  năm 2002.

[11] Điều 30 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004;  Điều 2 Pháp lệnh về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002; Điều 5 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002.

[12] Phạm Hồng Thái - Đinh Văn Mậu (2003), Tìm hiểu pháp luật Luật Hành chính Việt Nam, trang 316.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi