Hình thức xử phạt và biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên trong Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính

Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính1 (gọi tắt là Dự thảo Luật) đã dành riêng một phần (phần thứ năm) với 02 chương, 09 điều để quy định về những nét đặc thù trong việc xử lý hành chính (XLHC) đối với người chưa thành niên (NCTN) vi phạm hành chính (VPHC), trong đó, chủ yếu tập trung quy định về các vấn đề liên quan đến nguyên tắc xử lý, các hình thức xử phạt và biện pháp XLHC áp dụng đối với NCTN vi phạm cũng như các biện pháp thay thế xử lý VPHC đối với NCTN. Ngoài ra, Dự thảo Luật cũng có một số điều khoản nằm rải rác trong các chương, mục khác quy định liên quan đến NCTN, ví dụ: các điều 22, 27, 96, 104 quy định về các hình thức xử phạt và các biện pháp XLHC; các điều 97 - 102, 105 - 113 quy định về trình tự, thủ tục áp dụng và thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Còn những vấn đề khác thì được áp dụng theo quy định chung như đối với người đã thành niên vi phạm. Tinh thần này hoàn toàn phù hợp với các định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật được xác định trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó có việc “hoàn thiện pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”.


Như chúng ta đã biết, NCTN có những đặc điểm riêng về sự phát triển tâm sinh lý. Việc họ vi phạm pháp luật (VPPL) thường do nhiều yếu tố khác tác động, thậm chí bản thân họ chưa nhận thức được hết sự nguy hiểm, tính trầm trọng cũng như hậu quả của hành vi mình thực hiện, do vậy, việc XLHC đối với các em phải có những nét đặc thù, khác với người đã thành niên vi phạm. Hơn nữa, do các em còn trẻ, tương lai còn dài nên việc xử lý cũng cần phải tính đến việc tạo cho các em cơ hội sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời. Chính vì vậy mà Công ước Quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế khác đã ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản trong việc xử lý NCTN VPPL, như: vì lợi ích tốt nhất của NCTN; việc xử lý chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa lỗi lầm, phát triển lành mạnh; biện pháp giam giữ chỉ được áp dụng cuối cùng khi không còn biện pháp thích hợp nào khác và trong thời hạn ngắn nhất có thể… Những nguyên tắc này đã được Dự thảo Luật ghi nhận và cụ thể hóa tại Điều 1552.

Tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của NCTN không chỉ được thể hiện trong các nguyên tắc xử lý VPHC mà còn thể hiện ngay trong hệ thống các chế tài xử lý áp dụng đối với NCTN vi phạm, bao gồm các hình thức xử phạt và các biện pháp XLHC.

1. Các hình thức xử phạt hành chính

Theo quy định tại Điều 21 của Dự thảo Luật, có 07 hình thức xử phạt VPHC áp dụng chung đối với các đối tượng VPHC. Đó là: 1) cảnh cáo; 2) phạt tiền; 3) tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; 4) tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC; 5) buộc lao động phục vụ cộng đồng; 6) trục xuất; 7) buộc học tập các quy định pháp luật liên quan đến vi phạm. Tuy nhiên, đối với NCTN mà VPHC thì Dự thảo Luật (khoản 1 Điều 156) xác định chỉ áp dụng 04 trong số các hình thức xử phạt nêu trên. Đó là: cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC và buộc lao động phục vụ cộng đồng.

1.1. Cảnh cáo là sự khiển trách công khai của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức hoặc của một cá nhân đối với người VPPL hoặc có hành vi, việc làm sai trái. Theo các điều 21, 22 của Dự thảo Luật, cảnh cáo là một hình thức xử phạt chính nhẹ nhất được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức VPHC nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với VPHC do NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản. Quy định này được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 155 và khoản 2 Điều 156 của Dự thảo Luật, theo đó, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi VPHC chỉ bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo, còn đối với NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi VPHC thì ưu tiên áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Đây là quy định mới so với Pháp lệnh Xử lý VPHC hiện hành, nhằm bảo đảm nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất cho NCTN vi phạm.

1.2. Phạt tiền là một hình thức xử lý vi phạm do cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với cá nhân, tổ chức VPPL nhằm tước bỏ một khoản tiền nhất định của cá nhân, tổ chức vi phạm đó để sung công quỹ nhà nước. Theo Điều 21 của Dự thảo Luật, phạt tiền là một hình thức phạt chính và được coi là hình thức phạt chủ yếu trong xử phạt VPHC. Hình thức phạt tiền được áp dụng phổ biến hơn với đa số VPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Do phạt tiền tác động trực tiếp đến lợi ích vật chất, kinh tế của cá nhân, tổ chức vi phạm, gây cho họ hậu quả bất lợi về tài sản nên hình thức xử phạt này có hiệu quả rất lớn trong việc đấu tranh phòng, chống VPHC. Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 155 và Điều 156 của Dự thảo Luật thì việc áp dụng hình thức phạt tiền đối với NCTN vi phạm có những điểm đặc thù, thể hiện ở chỗ:

- Phạt tiền không áp dụng đối với NCTN vi phạm ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (tức là trẻ em vi phạm).

- Mức phạt tiền áp dụng đối với NCTN vi phạm không quá một phần hai mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên.

- Trường hợp NCTN không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay.

1.3. Tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC là hình thức xử phạt VPHC được Pháp lệnh Xử lý VPHC quy định và Dự thảo Luật tiếp tục kế thừa có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

Theo quy định tại Điều 26 của Dự thảo Luật, tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC là việc chuyển sang sở hữu nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến VPHC.

Theo quy định của Pháp lệnh Xử lý VPHC hiện hành thì tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC được áp dụng là hình thức phạt bổ sung cho hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng biện pháp này cho thấy, quy định trên là quá cứng nhắc, không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, để khắc phục bất cập này, Dự thảo Luật đã quy định tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC có thể được áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung.

Nhìn chung, việc áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC đối với NCTN VPHC không có gì khác biệt so với người đã thành niên vi phạm.

1.4. Buộc lao động phục vụ cộng đồng là một hình thức xử phạt VPHC mới được Dự thảo Luật bổ sung bên cạnh hai hình thức xử phạt chính mà Pháp lệnh Xử lý VPHC đã quy định là cảnh cáo và phạt tiền. Việc bổ sung thêm hình thức xử phạt này nhằm đa dạng hóa các hình thức xử phạt VPHC, đồng thời, tạo cơ hội cho người vi phạm thông qua lao động phục vụ cộng đồng để giác ngộ và sửa chữa lỗi lầm của mình.

Theo quy định tại Điều 21 và Điều 27 của Dự thảo Luật, buộc lao động phục vụ cộng đồng là hình thức xử phạt áp dụng đối với cá nhân VPHC tại nơi cư trú nhằm buộc họ thực hiện các công việc phục vụ lợi ích chung tại địa phương nơi người vi phạm cư trú. Thời gian buộc lao động phục vụ cộng đồng tối đa đến 24 giờ và người bị xử phạt không được trả công đối với công việc thực hiện. Hình thức xử phạt này có thể được áp dụng là hình thức xử phạt chính độc lập hoặc là hình thức xử phạt bổ sung cho hình thức xử phạt chính khác. Điều đáng lưu ý là hình thức xử phạt này chỉ được áp dụng khi có đủ 02 điều kiện sau đây: một là, VPHC thuộc lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông; hai là, hành vi vi phạm được thực hiện tại xã, phường, thị trấn nơi người vi phạm cư trú. Như vậy có thể thấy, phạm vi áp dụng hình thức xử phạt “Buộc lao động phục vụ cộng đồng” là khá hẹp. Hình thức xử phạt này không áp dụng khi hành vi VPHC không thuộc một trong các lĩnh vực nêu trên hoặc tuy hành vi thuộc các lĩnh vực nêu trên nhưng xảy ra ngoài nơi cư trú của người vi phạm.

Do hình thức xử phạt này có liên quan đến quyền và nghĩa vụ lao động, cho nên, quy định về đối tượng áp dụng hình thức xử phạt này được cân nhắc rất kỹ trên cơ sở đối chiếu với các quy định có liên quan của Bộ luật Lao động về độ tuổi của người lao động. Căn cứ vào kết quả so sánh, đối chiếu này, khoản 3 Điều 27 và điểm d khoản 1 Điều 156 của Dự thảo Luật đã xác định hình thức xử phạt buộc lao động phục vụ cộng đồng chỉ áp dụng đối với NCTN từ đủ 16 tuổi trở lên. NCTN VPHC từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không áp dụng hình thức xử phạt này. Thêm vào đó, xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi và khả năng tâm sinh lý của các em, Dự thảo Luật cũng xác định rõ việc lao động phục vụ cộng đồng phải phù hợp với độ tuổi và mức độ phát triển của NCTN và không được làm ảnh hưởng đến sức khoẻ thể chất, tinh thần hoặc làm ảnh hưởng tới thời gian học tập của các em và thời gian mà NCTN vi phạm thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng được xác định là “không quá một phần hai thời gian lao động áp dụng đối với người thành niên”.

 Điều đáng lưu ý, Dự thảo Luật (khoản 4 Điều 27) nghiêm cấm buộc đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt này phải làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của người đó.

Việc áp dụng các hình thức xử phạt cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC, buộc lao động phục vụ cộng đồng đối với NCTN vi phạm được thực hiện theo thẩm quyền và thủ tục chung quy định tại Chương II và Chương III thuộc phần thứ hai của Dự thảo Luật như đối với người đã thành niên vi phạm.


2. Các biện pháp xử lý hành chính


Điều 157 của Dự thảo Luật quy định 02 biện pháp XLHC áp dụng đối với NCTN vi phạm. Đó là: biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

2.1. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

2.1.1. Theo quy định tại các điều 95, 96 và 98 của Dự thảo Luật thì giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp XLHC do Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn quyết định áp dụng để giáo dục, quản lý tại nơi cư trú đối với 05 đối tượng sau đây với thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng đồng:

- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự (BLHS).

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại BLHS.

- Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng.

- Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định.

- Người trên 55 tuổi đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội có tính chất thường xuyên nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nhìn vào đối tượng áp dụng của biện pháp này chúng ta dễ dàng nhận thấy, nói chung, giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp XLHC chủ yếu áp dụng đối với NCTN vi phạm. Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng áp dụng biện pháp này đối với người đã thành niên vi phạm hành chính.

So với quy định tại Điều 23 của Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002 thì đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã có sự điều chỉnh cơ bản theo hướng cụ thể hóa một bước đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo độ tuổi trên cơ sở tham khảo quy định tại Điều 8 và Điều 12 của BLHS về phân loại tội phạm và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đồng thời, điều chỉnh nâng độ tuổi của đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn do nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng từ đủ 12 tuổi (theo Pháp lệnh Xử lý VPHC) lên đủ 14 tuổi.

2.1.2. Việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với NCTN vi phạm được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 97 đến Điều 99 của Dự thảo Luật như đối với người đã thành niên vi phạm. Riêng hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với NCTN thì ngoài các yêu cầu chung còn phải có thêm nhận xét của nhà trường nơi NCTN đang học tập, ý kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ.

2.1.3. Nhìn chung, việc thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn áp dụng đối với NCTN vi phạm được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 99 đến Điều 102 của Dự thảo Luật như đối với người đã thành niên vi phạm.

Thực tiễn thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với NCTN trong thời gian vừa qua cho thấy, việc áp dụng biện pháp này đối với NCTN chưa thực sự hiệu quả vì NCTN bị áp dụng không nhận được những hỗ trợ toàn diện và có chất lượng do Pháp lệnh Xử lý VPHC chưa quy định rõ về cách thức thi hành quyết định áp dụng biện pháp này, nội dung giáo dục, giúp đỡ NCTN trong quá trình thi hành quyết định... nên hầu hết các địa phương chưa có cách thức và biện pháp thi hành phù hợp. Hiện nay, việc giám sát, giáo dục NCTN chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn chủ yếu do lực lượng Công an tại địa phương thực hiện. Để góp phần khắc phục tình trạng này, Dự thảo Luật (Điều 99) đã quy định rõ, sau khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức được giao giáo dục, quản lý người vi phạm có trách nhiệm:

- Tổ chức việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

- Phân công người trực tiếp giúp đỡ người được giáo dục;

- Lập hồ sơ theo dõi và định kỳ báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã về việc thực hiện quyết định giáo dục tại cấp xã của người được giáo dục.

- Giúp đỡ, động viên người được giáo dục trong cuộc sống, giúp đỡ họ tìm kiếm việc làm hoặc đề xuất với UBND cấp xã tạo điều kiện, tìm kiếm việc làm cho họ.

Dự thảo Luật giao nhiệm vụ cho người được phân công giúp đỡ phải có kế hoạch quản lý, giáo dục, giúp đỡ người được giáo dục và được hưởng khoản kinh phí hỗ trợ cho việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ theo quy định của Bộ Tài chính.

Bên cạnh đó, Dự thảo Luật cũng quy định người được giáo dục phải cam kết bằng văn bản về việc chấp hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đồng thời giao trách nhiệm cho gia đình của người đó phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức được giao quản lý, giáo dục trong việc quản lý, giáo dục người vi phạm là con em của mình.

Việc miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với NCTN được thực hiện theo quy định tại Điều 101 của Dự thảo Luật.

2.2. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

2.2.1. Theo quy định tại các điều 103, 104 và 107 của Dự thảo Luật thì đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp XLHC chỉ áp dụng đối với NCTN vi phạm hành chính với thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng do Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh quyết định áp dụng đối với 04 đối tượng sau đây:

- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại BLHS.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại BLHS.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại BLHS mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này mà không có nơi cư trú nhất định.

Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng không áp dụng đối với người không có năng lực trách nhiệm hành chính; phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.

Dự thảo Luật đã kế thừa các quy định hiện hành của Pháp lệnh Xử lý VPHC về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng áp dụng đối với NCTN VPHC, đồng thời có bổ sung mới so với quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002 thể hiện ở 04 điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đã có sự điều chỉnh cơ bản theo hướng cụ thể, chính xác hơn và loại trừ những trường hợp phạm tội của NCTN trên cơ sở tham khảo quy định tại Điều 8 và Điều 12 của BLHS về phân loại tội phạm và tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, Dự thảo Luật đã thu hẹp phạm vi áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, theo đó, Dự thảo Luật đã bỏ việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với hai đối tượng: người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng quy định tại BLHS; người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý quy định tại BLHS mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định.

Thứ ba, Dự thảo Luật đã điều chỉnh nâng độ tuổi của đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng do thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định từ đủ 12 tuổi (theo Pháp lệnh Xử lý VPHC) lên đủ 14 tuổi.

Thứ tư, Dự thảo Luật đưa ra quy định loại trừ, theo đó, biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng không áp dụng đối với NCTN là nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Quy định này là nhằm bảo vệ lợi ích của trẻ là con của người vi phạm.

2.2.2. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với NCTN vi phạm được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 105 đến Điều 107 của Dự thảo Luật.

2.2.3. Việc thi hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 108 đến Điều 113 của Dự thảo Luật, trong đó cần lưu ý hai điểm sau đây:

Một là, người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được hoãn chấp hành biện pháp này khi người đó đang ốm nặng, đang có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; được tạm đình chỉ chấp hành khi đang chấp hành biện pháp này mà bị ốm nặng và được đưa về gia đình điều trị.

Người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng có trách nhiệm trình diện với chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc; khi đi khỏi nơi cư trú phải có sự đồng ý của các cơ quan, tổ chức này.

Trong thời gian được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, nếu đối tượng có hành vi VPPL về an ninh và trật tự, an toàn xã hội hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng sẽ bị hủy bỏ và người đó bị đưa trở lại vào trường giáo dưỡng.

Hai là, người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được miễn chấp hành biện pháp này khi người đó đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang trong thời gian hoãn chấp hành biện pháp này mà có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công.

2.2.4. Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật, cũng có ý kiến đề nghị chuyển giao thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp XLHC, trong đó có biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với NCTN vi phạm từ UBND sang cho Tòa án nhân dân, vì cho rằng, xét về bản chất thì các biện pháp XLHC là những biện pháp cưỡng chế Nhà nước hạn chế quyền tự do dân chủ của công dân. Do vậy, cần được xem xét quyết định theo một trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp chặt chẽ, bảo đảm khách quan, chính xác theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp. 

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, đây là một vấn đề lớn liên quan đến chủ trương cải cách tư pháp của Đảng. Vì vậy, cần có thời gian nghiên cứu thấu đáo, toàn diện để từ đó đề xuất những quy định pháp luật thiết thực, mang tính khả thi cao. Hơn nữa, việc chuyển giao này đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và tổ chức thực hiện (thủ tục tố tụng, nhân lực, tổ chức bộ máy, cơ sở pháp lý) cho nên cần có lộ trình thích hợp trong một số năm nữa để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc chuyển giao này. Trên tinh thần đó, chúng tôi đồng tình với phương án được thể hiện trong Dự thảo Luật là vẫn tiếp tục giao cho UBND thực hiện thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp XLHC, trong đó có biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với NCTN vi phạm nhưng có sửa đổi, bổ sung về trình tự, thủ tục nhằm tạo cơ hội cho đối tượng bị xử lý và đại diện hợp pháp của họ được giải thích, biện hộ cho hành vi của mình, góp phần bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch, công bằng, chính xác và hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp XLHC.    

Tóm lại, việc áp dụng các hình thức xử phạt cũng như các biện pháp XLHC đối với NCTN vi phạm dù được thực hiện theo quy định nào của Dự thảo Luật thì cũng phải tuân theo nguyên tắc áp dụng hình thức xử phạt được quy định tại khoản 3 Điều 21 là “Đối với mỗi VPHC, cá nhân, tổ chức vi phạm chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính. Hình thức xử phạt bổ sung chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính” và các nguyên tắc xử lý đối với NCTN VPHC quy định tại Điều 155 của Dự thảo Luật, đặc biệt là nguyên tắc bao trùm, xuyên suốt “Trong quá trình xem xét xử lý NCTN VPHC, người có thẩm quyền XLVPHC phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho NCTN”3.

(1)Dự thảo 5.
(2) Xem Điều 155, Dự thảo 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi