- Hoạt động áp dụng pháp luật nội dung trong giải quyết các khiếu kiện hành chính ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

Lời mở đầu:     

Từ khi Tòa án nhân dân các cấp được giao thẩm quyền giải quyết án hành chính (năm 1997), thực tế đã cho thấy, hoạt động xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp và cải cách hành chính theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng đề ra. Trong thời gian 15 năm hoạt động, các Tòa án nhân dân đã giải quyết hàng nghìn vụ án hành chính, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và cơ quan Nhà nước; đồng thời thông qua hoạt động xét xử của mình, các Tòa án đã có những kiến nghị thích hợp, góp phần thúc đẩy hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước đi vào nề nếp, đạt hiệu quả hơn; do vậy, vị thế của ngành Tòa án cũng được nâng cao hơn. Bên cạnh mặt tích cực đó, hoạt động xét xử của các Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính cũng còn tồn tại các hạn chế nhất định. Đó là tỷ lệ các bản hành chính của Tòa án các cấp bị hủy, bị cải sửa còn cao. Bên cạnh việc vi phạm các quy định tố tụng hành chính, thì tình trạng các Tòa án ra các bản án hành chính không đúng quy định của pháp luật nội dung cũng còn nhiều. Trong phạm vi chuyên đề này, tác giả sẽ đi nghiên cứu về thực trạng hoạt động áp dụng pháp luật nội dung trong giải quyết các khiếu kiện hành chính ở Việt Nam trong thời gian qua; nêu rõ các sai sót thường gặp trong việc áp dụng pháp luật nội dung khi giải quyết các khiếu kiện hành chính; phân tích các nguyên nhân của những sai sót đó; đồng thời đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hạn chế tỷ lệ các bản án hành chính bị hủy, bị sửa do việc áp dụng pháp luật nội dung không đúng của Tòa án các cấp.

I. Thực trạng hoạt động áp dụng pháp luật nội dung trong giải quyết các khiếu kiện hành chính ở Việt Nam

1. Tình hình giải quyết án hành chính trong thời gian qua

Việc áp dụng pháp luật nội dung vào việc giải quyết vụ án hành chính, chính là việc Tòa án sau khi xác minh thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ cần thiết của vụ án, sẽ đối chiếu với các quy định tương ứng của pháp luật để xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp luật quy định nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước. Hay nói cách khác, đây là hoạt động chứng minh các vấn đề nội dung vụ án, đó là: quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện có bị ảnh hưởng bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính hay không? Yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện có căn cứ hợp pháp hay không (bao gồm yêu cầu khởi kiện đòi hủy quyết định hành chính, yêu cầu tuyên bố quyết định hành chính trái pháp luật và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại).

Thực tiễn xét xử thời gian qua, các Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết hàng nghìn vụ án hành chính (trong đó, các vụ án hành chính về các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai chiếm khoảng 70%, tiếp đến là các khiếu kiện về xử phạt vi phạm hành chính, khiếu kiện về quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế,…). Cụ thể:

Năm 2009: Toà án nhân dân các cấp đã thụ lý 1.557 vụ án; đã giải quyết, xét xử được 1.299 vụ, đạt 83.4%. Trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm  869 vụ; theo thủ tục phúc thẩm 403 vụ và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 27 vụ.

Năm 2010: Toà án nhân dân các cấp đã thụ lý 1.651 vụ án; đã giải quyết, xét xử được 1.398 vụ, đạt 85%. Trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 976 vụ; theo thủ tục phúc thẩm 402 vụ và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 20 vụ.

Năm 2011: Toà án nhân dân các cấp đã thụ lý vụ án; 2323 vụ án; đã giải quyết, xét xử được 1.790 vụ, đạt 77%, tăng hơn cùng kỳ năm trước392 vụ; trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 1236 vụ; theo thủ tục phúc thẩm 535 vụ và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 18 vụ.

Năm 2012: Toà án nhân dân các cấp đã thụ lý 6.177 vụ án; đã giải quyết, xét xử được 4.742 vụ, đạt 48,57%, tăng hơn cùng kỳ năm trước 2.952 vụ; trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 3.834 vụ; theo thủ tục phúc thẩm 878 vụ và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 30 vụ.

(Các số liệu thống kê án được tính theo năm công tác từ ngày 01/10 năm trước đến hết ngày 30/9 hàng năm).

Thông qua việc xét xử các vụ án hành chính, Tòa án các cấp đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức và cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, trong số các vụ án hành chính đã xét xử nêu trên, số án bị Tòa án cấp trên hủy hoặc sửa vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể và xảy ra ở hầu hết các loại khiếu kiện, trong đó nhiều nhất là các khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai, xử phạt vi phạm hành chính và quản lý nhà nước về thuế. Cụ thể:

- Trong năm 2009:  Về xét xử phúc thẩm, các Tòa án đã giải quyết sửa án do án sơ thẩm sai là 56 vụ, hủy án do án sơ thẩm sai là 49 vụ/ tổng số 403 vụ án đã giải quyết. Trong số này, các Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy, sửa án sơ thẩm do án sơ thẩm sai là 79 vụ/tổng số 321 vụ đã giải quyết; các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao sửa án, hủy án sơ thẩm do án sơ thẩm sai là 26 vụ/tổng số 82 vụ đã giải quyết.

Về xét xử giám đốc thẩm, các Tòa án đã giải quyết 27 vụ, hủy án cả 27 vụ. Trong đó, Tòa án cấp tỉnh giải quyết 3 vụ; Tòa án tối cao giải quyết 24 vụ.

Tính tỷ lệ trên tổng số án đã giải quyếtthì: Tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ là 6,92% (do nguyên nhân chủ quan là 5,85% và do nguyên nhân khách quan là 1,07%), bị sửa là 4,77% (do nguyên nhân chủ quan là 4,31% và do nguyên nhân khách quan là 0,46%). So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ tăng 2,33% và tỷ lệ bị sửa giảm 1,23%.

 - Trong năm 2010: Về xét xử phúc thẩm, các Tòa án đã giải quyết sửa án do án sơ thẩm sai là 77 vụ, hủy án do án sơ thẩm sai là 54 vụ/ tổng số 402 vụ án đã giải quyết. Trong số này, các Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy và sửa án sơ thẩm do án sơ thẩm sai là 99 vụ/tổng số 331 vụ đã giải quyết; các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao sửa án, hủy án sơ thẩm do án sơ thẩm sai là 32 vụ/tổng số 71 vụ đã giải quyết.

Về xét xử giám đốc thẩm: Các Tòa án đã giải quyết 20 vụ/33 vụ, hủy án 18 vụ (trong đó: Hủy quyết định giám đốc thẩm, giữ nguyên quyết định giám đốc thẩm của Tòa án cấp dưới: 01 vụ; hủy án để xét xử sơ thẩm lại: 13 vụ; hủy án để xét xử phúc thẩm lại: 04 vụ). Trong đó, Tòa án cấp tỉnh giải quyết hủy án 01 vụ; Tòa án tối cao giải quyết hủy án 17 vụ.

Tính tỷ lệ trên tổng số án đã giải quyết thì: Tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ là 6,15% (do nguyên nhân chủ quan là 5,15% và do nguyên nhân khách quan là 1%), bị sửa là 6,22% (do nguyên nhân chủ quan là 5,5% và do nguyên nhân khách quan là 0,72%). So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ do nguyên nhân chủ quan giảm 0,7%, bị sửa do nguyên nhân chủ quan tăng 1,19%.

- Trong năm 2011: Về xét xử phúc thẩm, các Tòa án đã giải quyết sửa án do án sơ thẩm sai là 64 vụ, hủy án do án sơ thẩm sai là 51 vụ/ tổng số 535 vụ án đã giải quyết. Trong số này, các Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy, sửa án sơ thẩm do án sơ thẩm sai là 88 vụ/tổng số 453 vụ đã giải quyết; các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao sửa án, hủy án sơ thẩm do án sơ thẩm sai là 27 vụ/tổng số 82 vụ đã giải quyết.

Về xét xử giám đốc thẩm, các Tòa án đã giải quyết 18 vụ/27 vụ đã thụ lý, hủy án cả 18 vụ (trong đó: Hủy bán án và đình chỉ việc giải quyết vụ án: 03 vụ; hủy bán án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm: 04 vụ; hủy quyết định giám đốc thẩm, giữ nguyên quyết định giám đốc thẩm của Tòa án cấp dưới: 02 vụ; hủy án để xét xử sơ thẩm lại: 08 vụ; hủy án để xét xử phúc thẩm lại: 01 vụ). Trong đó, Tòa án cấp tỉnh hủy án 01 vụ; Tòa án tối cao giải quyết hủy án 17 vụ.

Tính tỷ lệ trên tổng số án đã giải quyết thì: Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 4,5% (do nguyên nhân chủ quan 3,9% và do nguyên nhân khách quan 0,6%); bị sửa là 8,5% (do nguyên nhân chủ quan 3,4% và do nguyên nhân khách quan 5,1%). So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy do nguyên nhân chủ quan giảm 1,25%, bị sửa do nguyên nhân chủ quan giảm 2,1%.

- Trong năm 2012:Về xét xử phúc thẩm, các Tòa án đã giải quyết sửa án do án sơ thẩm sai là 126 vụ, hủy án do án sơ thẩm sai là 116 vụ/ tổng số 878 vụ án đã giải quyết. Trong số này, các Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy, sửa án sơ thẩm do án sơ thẩm sai là 192 vụ/tổng số 740 vụ đã giải quyết; các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao sửa án, hủy án sơ thẩm do án sơ thẩm sai là 50 vụ/tổng số 138 vụ đã giải quyết.

Về xét xử giám đốc thẩm: Các Tòa án đã giải quyết 30 vụ/33 vụ đã thụ lý, trong đó hủy án 27 vụ (cụ thể: Hủy án có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án: 02 vụ; hủy án phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm: 05 vụ; hủy án để xét xử sơ thẩm lại: 12 vụ; hủy án để xét xử phúc thẩm lại: 08 vụ). Trong đó, Tòa án cấp tỉnh hủy án 03 vụ/04 vụ đã giải quyết; Tòa án tối cao giải quyết hủy án 24 vụ/26 vụ đã giải quyết).

Tính tỷ lệ trên tổng số án đã giải quyết thì: Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 3,5% (do nguyên nhân chủ quan 3% và do nguyên nhân khách quan 0,5%); bị sửa là 3,1% (do nguyên nhân chủ quan 2,7% và do nguyên nhân khách quan 0,4%). So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy do nguyên nhân chủ quan giảm 0,9%, án bị sửa do nguyên nhân chủ quan giảm 0,7%.

Nhìn vào số liệu các vụ án hành chính mà các Tòa án nhân dân đã giải quyết trong thời gian qua, thấy rằng tỷ lệ án hành chính bị hủy hoặc sửa do áp dụng sai pháp luật nội dung cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong số các vụ án đã giải quyết (cụ thể: tất cả các bản án hành chính bị sửa do nguyên nhân chủ quan nêu trên đều là do áp dụng không đúng pháp luật nội dung khi giải quyết; ngoài ra, trong số bản án bị hủy do nguyên nhân chủ quan thì số án bị hủy do áp dụng không đúng pháp luật nội dung cũng chiếm tỷ lệ đáng kể).  Tỷ lệ án bị hủy, sửa có giảm theo hàng năm, tuy nhiên mức giảm không đáng kể và tỷ lệ án bị hủy, sửa vẫn còn cao.

Về tỷ lệ án hành chính bị hủy, sửa có đặc thù là do số liệu án hành chính thụ lý hàng năm không nhiều nên bị hủy 01 vụ dẫn đến tỷ lệ cao. Mặt khác, nếu có nhiều người khởi kiện đối với cùng một nội dung của quyết định hành chính trong cùng một dự án thu hồi đất, đền bù hỗ trợ, tái định cư mà trong đó có 01 vụ án Tòa án xét xử sai thì có nghĩa là sẽ có nhiều bản án sai sẽ bị hủy, sửa (tương ứng với số lượng người khởi kiện), nhưng xét về bản chất thì đó chỉ là 01 nội dung tranh chấp.

Chính tỷ lệ án hành chính bị hủy, sửa không nhỏ nêu trên đã góp phần làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan Tòa án, gây ra các khiếu kiện kéo dài (đặc biệt trong lĩnh vực quản lý đất đai), làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của các địa phương nói riêng và của cả nước nói chung.

2. Một số sai sót thường gặp khi áp dụng pháp luật nội dung trong việc giải quyết án hành chính

Áp dụng pháp luật nội dung trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là một quá trình phức tạp của Tòa án (mà cụ thể là của Hội đồng xét xử). Để có thể có được bản án hành chính đúng pháp luật, khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án thì quá trình áp dụng pháp luật nội dung vào giải quyết vụ án hành chính cần tuân thủ triệt để và chính xác theo các bước (giai đoạn) sau:

- Phân tích, đánh giá các tình tiết, các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện, khách quan, chính xác và trong mối liên hệ mật thiết với nhau;

- Lựa chọn quy phạm pháp luật nội dung phù hợp và phân tích làm rõ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng;

- Ban hành bản án, quyết định hành chính.

Nghiên cứu các bản án hành chính của các Tòa án nhân dân các cấp, đặc biệt là các bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật bị khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thấy rằng việc áp dụng không đúng pháp luật nội dung trong việc giải quyết vụ án hành chính trong thực tiễn liên quan đến việc không tuân thủ triệt để, chính xác các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật nội dung đã nêu trên và thể hiện ở các mặt như sau: Có căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án đánh giá không có căn cứ pháp lý; Không có (hoặc chưa có đủ) căn cứ pháp lý ban hành quyết định nhưng Tòa án đánh giá có căn cứ pháp lý; Tòa án đánh giá không đúng về trình tự, thủ tục hoặc thẩm quyền ban hành quyết định hành chính và Tòa án ban hành phần quyết định trong bản án hành chính không đúng pháp luật.

2.1 Sai sót liên quan đến việc phân tích, đánh giá các tình tiết khách quan của vụ án

Những tình tiết khách quan của vụ án hành chính được phản ánh qua hệ thống chứng cứ, tài liệu do các bên đương sự, Viện Kiểm sát cung cấp hoặc do Tòa án xác minh, thu thập. Hệ thống chứng cứ này bao gồm những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ mới được xuất trình tại phiên tòa. Theo quy định pháp luật tố tụng hành chính (các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và Luật tố tụng hành chính năm 2010) thì khi xét xử, Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe ý kiến của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, đối chiếu các ý kiến này với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và kết quả hỏi tại phiên tòa. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Tòa án xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và nội dung các văn bản pháp luật mà cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước dùng làm căn cứ ban hành các quyết định hành chính hoặc để thực hiện (hoặc không thực hiện) hành vi hành chính bị khởi kiện có phù hợp với thực tế khách quan và đúng pháp luật hay không, từ đó để có căn cứ quyết định chấp nhận (một phần hay toàn bộ) yêu cầu của người khởi kiện hay bác yêu cầu khởi kiện. Những tình tiết đã được chứng minh, những chứng cứ, căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án phải được thể hiện trong bản án. Phần quyết định của bản án phải phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án. Nếu phần quyết định trong bản án mang tính chất phiến diện một chiều, chỉ nghiêng về người khởi kiện hoặc người bị kiện, chỉ dựa vào suy luận chủ quan mà không dựa vào các chứng cứ đã được chứng minh, xem xét tại phiên tòa thì không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, làm cho bản án, quyết định của Tòa án không đúng pháp luật.

Thực tế xét xử thời gian qua cho thấy, có những vụ án hành chính do Thẩm phán xem xét, đánh giá chứng cứ không đầy đủ, khách quan, toàn diện nên có trường hợp có căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án đánh giá không có căn cứ pháp lý; ngược lại có trường hợp không có hoặc chưa có đủ căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án lại đánh giá có đủ căn cứ pháp lý.

- Ví dụ 1 (vềtrường hợp có căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án đánh giá không có căn cứ pháp lý):

Thửa đất số 77, tờ bản đồ số 8 (theo Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ), có diện tích 1.225m2 tại xã DN, huyện DX, tỉnh QN (theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ là thửa số 455, tờ bản đồ số 6) là đất thổ cư có nguồn gốc của gia đình ông Phạm Ngọc H quản lý, sử dụng từ trước năm 1975. Cuối năm 1986, gia đình ông H chuyển sang thị xã HA sinh sống, nhưng vẫn thường xuyên về chăm sóc cây và trồng mới một số loại cây trên thửa đất này.

Bà Phạm Thị T là chủ hộ và cùng con là ông Phạm Văn B có nhà ở ổn định từ năm 1975 đến nay tại thửa đất số 84, tờ bản đồ số 8, xã DN có diện tích 1.515m2 đất thổ cư (theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ). Thời điểm thực hiện kê khai, đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ, thửa đất số 84 này của gia đình bà T là thửa đất số 456, tờ bản đồ số 6, xã DN. Năm 1994-1995, thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, bà T kê khai diện tích 1.225m2 đất T thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 8, xã DN (nguyên là thửa đất của gia đình ông H sử dụng nêu trên), còn ông Phạm Văn B (con trai bà T và cùng chung hộ khẩu với bà T) kê khai và đăng ký quyền sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.515m2 đất thổ cư (thửa đất của bà T nêu trên). Ngày 10/8/1995, Ủy ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G695365 cho hộ bà T diện tích 1.617m2 đất, trong đó có 1.225m2 đất T thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 8 và 392m2 đất lúa màu thuộc thửa 83, tờ bản đồ số 8, xã DN.

Ngày 26/12/2006, Ủy ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 1827/QĐ-UBND thu hồi của hộ bà T 1.225m2 đất ở thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 8. Lý do thu hồi: Do giao quyền sử dụng đất sai đối tượng sử dụng tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G695365 ngày 10/8/1995. Cùng ngày, Ủy ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 1828/QĐ-UBND công nhận quyền sử dụng 1.225m2 đất trên cho ông H và ngày 03/01/2007, Ủy ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 977327 cho hộ ông H.

Ngày 19/5/2008, bà Phạm Thị T có đơn khiếu nại.

Ngày 16/12/2008, Ủy ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 2372/QĐ-UBND về việc hủy Quyết định số 1827/QĐ-UBND ngày 26/12/2006, điều chỉnh cho hộ bà T được sử dụng thửa số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN.

Ngày 16/01/2009, ông H khiếu nại việc Ủy ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.225m2 cho hộ bà T.

Ngày 13/10/2009, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 2233/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông H, có nội dung: việc cấp 1.225m2 đất cho hộ bà T là không đúng đối tượng, không đúng nguồn gốc; việc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H là chưa có đủ cơ sở.

Ngày 10/11/2009, ông Phạm Ngọc H có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân huyện DX xem xét lại Quyết định số 2233/QĐ-UBND ngày 13/10/2009 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện DX.

Ngày 01/12/2009, Uỷ ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 2936/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G695365 ngày 10/8/1995 của hộ bà T vì cấp không đúng đối tượng đối với diện tích 1.225m2; giao diện tích đất nêu trên cho Uỷ ban nhân dân xã DN quản lý, sử dụng.

Ông B (con trai bà T) có đơn khiếu nại, sau đó khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện DX yêu cầu xử hủy Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của Uỷ ban nhân dân huyện DX.

Ngày 04/6/2010, Uỷ ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 1123/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 2936/QĐ-UBND, có nội dung: hủy bỏ điểm 2 Điều 1 quyết định số 2936/QĐ-UBND (có nội dung "giao diện tích đất nêu trên cho UBND xã DN quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật”) vì Uỷ ban nhân dân huyện DX chưa thu hồi diện tích 1.225m2 nên việc giao diện tích đất nêu trên cho Uỷ ban nhân dân xã DN quản lý, sử dụng là không đúng trình tự quy định của pháp luật; các nội dung khác của quyết định 2936/QĐ-UBND vẫn có hiệu lực pháp luật.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm, Toà án nhân dân huyện DX, tỉnh QN quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn B.

Ông Phạm Văn B có đơn kháng cáo.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm, Toà án nhân dân tỉnh QN quyết định: Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn B, xử sửa bản án sơ thẩm, hủy Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của UBND huyện DX.

Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của UBND huyện DX vì đã xem xét, đánh giá chứng cứ không đúng về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của các đương sự, cụ thể:

Về nguồn gốc và quá trình sử dụng diện tích 1.225m2 đất thửa số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX, tỉnh QN: ông B và ông H đều có lời khai thống nhất là đất có nguồn gốc của cha mẹ ông H quản lý, sử dụng từ trước năm 1975, sau đó gia đình ông H tiếp tục sử dụng. Đến năm 1986, do hoàn cảnh công tác phải chuyển về thị xã HA nên ông H đã nhờ bà T trông coi hộ (có sự chứng kiến của nhiều người). Tại ‘‘Đơn xin chuyển giao quyền sử dụng đất’’ do bà T lập ngày 22/10/2006, bà T cũng thừa nhận bà chỉ là người trông coi, quản lý và đứng tên đăng ký thửa đất hộ cho vợ chồng ông H, đồng thời bà T cũng cam kết không tranh chấp gì về thửa đất này.

Mặt khác, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng thể hiện rằng trong thời gian đi vắng, gia đình ông H vẫn thường xuyên về chăm sóc, khai thác và trồng cây, hiện trên đất vẫn còn cây lâu năm do gia đình ông H trồng. Như vậy, gia đình ông H là người sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX liên tục, ổn định từ năm 1975 đến nay. Tuy nhiên, tại thời điểm Nhà nước có chủ trương tiến hành kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, do ở xa và không được thông báo nên hộ ông H đã không tiến hành kê khai diện tích đất nêu trên mà hộ bà T kê khai và được Uỷ ban nhân dân huyện DX cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/8/1995.

Tại khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 quy định: ‘‘Người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất’’.

Theo quy định nêu trên thì gia đình bà T không phải là người sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX liên tục, ổn định tại thời điểm được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995. Do vậy, trong quá trình quản lý kê khai, đăng ký sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân xã DN xác nhận bà T là đối tượng đang sử dụng đất để Uỷ ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 1.225m2 đất thửa số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX, là không đúng nguồn gốc và đối tượng sử dụng đất. Tại Báo cáo số 52/BC-UBND ngày 16/6/2009 gửi Uỷ ban nhân dân huyện DX, Uỷ ban nhân dân xã DN đã xác nhận điều này. Do đó, Uỷ ban nhân dân huyện DX đã ban hành Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 (được sửa đổi bằng Quyết định số 1123/QĐ-UBND ngày 04/6/2010) có nội dung thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà T là đúng pháp luật.

- Ví dụ 2 (về trường hợp không có căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án đánh giá có căn cứ pháp lý):

Ngày 01/3/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành Quyết định số 231/QĐ-UB thu hồi diện tích đất 89,4m2 do ông T đang sử dụng với lý do là đất công thuộc quyền quản lý của Nhà n­ước, nh­ưng không quy định hoặc gia hạn ngày nào ông T phải giao lại đất và Nhà nư­ớc tổ chức thu hồi đất.

Không đồng ý, ông T khiếu nại đối với quyết định trên.

Ngày 17/12/2007, đại diện các cơ quan chức năng tại địa ph­ương đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông T với lý do ông T không thực hiện quyết định thu hồi đất nói trên.

Căn cứ biên bản vi phạm hành chính này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố L thuộc tỉnh L ban hành Quyết định số 11/QĐ-XPHC ngày 10/01/2008 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai đối với ông T, với lý do ông T đã có hành vi kéo dài thời hạn chấp hành Quyết định thu hồi đất số 231/QĐ-UB ngày 01-2-2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh L, vi phạm quy định tại Điều 19 Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (Nội dung Điều 19 quy định: Phạt tiền từ 500.000đ đến 3.000.000đ đối với hành vi cố ý trốn tránh, chây ỳ không trả lại đất đúng thời hạn trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà n­ước có thẩm quyền mà ph­ương án bồi th­ường đã đ­ược thực hiện theo quy định của pháp luật).

Ông T tiếp tục khiếu nại và khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính nói trên tại TAND thành phố L, tỉnh L.

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm khi xét xử đã bác yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC ngày 10/01/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố L, là không có căn cứ pháp luật, bởi lẽ:

Tại Quyết định thu hồi đất số 231/QĐ-UB ngày 01/3/2007 của UBND tỉnh L đã không ấn định thời gian ông T phải giao trả đất bị thu hồi hoặc tổ chức thu hồi đất. Mặt khác, ông T đang khiếu nại quyết định thu hồi đất và Chủ tịch UBND tỉnh chư­a giải quyết khiếu nại, nên chư­a đủ căn cứ để cho rằng diện tích đất bị thu hồi thuộc quyền quản lý của Nhà n­ước hay thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T và cũng không đủ căn cứ để cho rằng, ông T đã có hành vi kéo dài thời hạn chấp hành Quyết định thu hồi đất, vi phạm quy định tại Điều 19 Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Do đó, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố L áp dụng quy định tại Điều 19 Nghị định 182/2004/NĐ-CP ban hành Quyết định số 11/QĐ-XPHC ngày 10/01/2008 xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T là không đúng pháp luật; khi xét xử, Toà án lại giữ nguyên quyết định này là không có căn cứ pháp luật.

- Ví dụ 3 (về trường hợp chưa có đủ căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án đánh giá có đủ căn cứ pháp lý):

Ngày 06/12/2007, Uỷ ban nhân dân tỉnh H ban hành Quyết định số 2384/QĐ-UBND thu hồi 15.794,99m2 đất tại thị trấn V, huyện T để thực hiện dự án nâng cấp cải tạo Quốc lộ 38B.

Năm 2008, Uỷ ban nhân dân huyện T đã ban hành các quyết định hành chính về việc thu hồi đất của gia đình các ông An H, Đoàn N, Phạm D, Đỗ D, Lê H và Bùi H để thực hiện dự án nêu trên.

Ngày 21/4/2009, Uỷ ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 394/QĐ-UBND "Về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đất ở cho 06 hộ gia đình tại thị trấn V khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 38B (dự án WB4)”. Tại Phụ lục chi tiết kèm theo Quyết định này có nội dung hỗ trợ đối với gia đình các ông An H, Đoàn N, Phạm D, Đỗ D, Lê H, Bùi H như sau:

- Hộ ông Bùi H bị thu hồi 20,06m2 đất được hỗ trợ số tiền là 20,06m2 x 70.000đ/m2 = 1.404.200đ;

- Hộ ông Phạm D bị thu hồi 9,5m2 đất được hỗ trợ số tiền là 9,5m2 x 70.000đ/m2 = 665.000đ;

- Hộ ông An H bị thu hồi 52,09m2 đất được hỗ trợ số tiền là 52,09m2 x 70.000đ/m2 = 3.646.300đ;

- Hộ ông Đoàn N bị thu hồi 32,85m2 đất được hỗ trợ số tiền là 32,85m2 x 70.000đ/m2 = 2.299.500đ;

- Hộ ông Đỗ D bị thu hồi 5,62m2 đất được hỗ trợ số tiền là 5,62m2 x 70.000đ/m2 = 393.400đ;

- Hộ ông Lê H bị thu hồi 1,95m2 đất được hỗ trợ số tiền là 1,95m2 x 70.000đ/m2 = 136.500đ.

(Uỷ ban nhân dân huyện T không bồi thường về đất, mà chỉ hỗ trợ một phần khi thu hồi đất của 06 hộ dân trên với lý do diện tích đất thu hồi của các hộ dân này là diện tích đất dôi dư so với quyết định giao đất, do các hộ dân lấn chiếm).

Các ông An H, Đoàn N, Phạm D, Đỗ D, Lê H và Bùi H khiếu nại, sau đó khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân huyện T, yêu cầu Uỷ ban nhân dân huyện T sửa đổi Quyết định số 394/QĐ-UBND theo hướng thu hồi đất thì phải bồi thường theo giá đất ở theo quy định của pháp luật.

Sau khi Tòa án nhân dân huyện T thụ lý vụ án, ngày 28/12/2009, Uỷ ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 1256/QĐ-UBND về việc sửa đổi một số điểm ở phần căn cứ của Quyết định số 394/QĐ-UBND, còn phần nội dung phê duyệt phương án hỗ trợ, không bồi thường vẫn giữ nguyên.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện T quyết định: Bác đơn khởi kiện của các ông An H, Đoàn N, Bùi H, Đỗ D, Lê H, Phạm D

Các ông An H, Đoàn N, Bùi H, Đỗ D, Lê H, Phạm D đều kháng cáo.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh H quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của các ông An H, Đoàn N, Bùi H, Đỗ D, Lê H và Phạm D.

Nghiên cứu vụ án này, thấy rằng: Về nguồn gốc đất do 06 hộ dân đang sử dụng như sau:

- Hộ ông Đoàn N được giao đất theo Quyết định 25/QĐ-UB ngày 24/02/1987 của Uỷ ban nhân dân huyện P với diện tích 360m2 tại thửa số 193, tờ bản đồ số 01, xã D. Năm 1999, khi thành lập thị trấn V, huyện T thì diện tích đất của gia đình ông được thể hiện tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 7, bản đồ địa chính năm 1999, với tổng diện tích là 726,3m2, trong đó có 548,1m2 đất thổ cư và 178,2m2 đất ao. Bị thu hồi 98, 55m2 đất; không được bồi thường về đất; chỉ được hỗ trợ 32,85m2 đất, không được hỗ trợ 65,7m2 đất.

- Hộ ông Bùi H được giao đất theo Quyết định 27/QĐ-RĐ ngày 25/5/1980 của Uỷ ban nhân dân huyện P với diện tích là 360m2. Ngày 15/10/1990, Uỷ ban nhân dân xã D có giấy báo nộp thuế (lần thứ hai) đối với hộ ông H để nộp thuế thổ cư thừa, có diện tích 240m2. Ngày 06/11/1991, ông H nộp cho Uỷ ban nhân dân xã D 200.000đ (tạm nộp) tiền xử lý đất theo Quyết định số 27 của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Ngày 27/10/1992, ông H nộp cho Uỷ ban nhân dân xã D 400.000đ tiền xử lý đất trái thẩm quyền sang đất đúng thẩm quyền. Năm 1992, ông H chuyển nhượng một phần cho ông Nguyễn T, diện tích 183m2. Năm 1999, theo bản đồ địa chính của thị trấn V, diện tích của gia đình ông sử dụng là 670,6m2, trong đó 518,2m2 là đất ở và 152,4m2 đất ao, tại thửa số 49, tờ bản đồ số 7, bản đồ địa chính năm 1999. Bị thu hồi 80,43m2 đất; không được bồi thường về đất; chỉ được hỗ trợ 20,06m2 đất, không được hỗ trợ 60,37m2 đất.

- Hộ ông An H nhận chuyển nhượng đất của gia đình ông Trần H và bà Nguyễn V đều có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã. Đất cũ của ông Trần H, được cấp năm 1980, diện tích 360m2. Ông Trần H chuyển nhượng cho ông An H và bà Nguyễn V năm 1981, được Uỷ ban nhân dân xã D xác nhận ngày 15/3/1981, mỗi người 8m mặt đường. Ngày 19/5/1999, ông An H nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn V diện tích 200m2, đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở được Uỷ ban nhân dân thị trấn V xác nhận ngày 19/5/1999. Trong hồ sơ bàn giao từ xã D về thị trấn V năm 1996, thửa đất của bà Nguyễn V có diện tích 180m2. Theo tờ bản đồ địa chính số 08, bản đồ địa chính năm 1999 thì diện tích của gia đình ông đang sử dụng là 462,2m2 đất thổ cư. Bị thu hồi 52,09m2 đất; không được bồi thường về đất; chỉ được hỗ trợ 52,09m2 đất.

- Hộ ông Phạm D được giao đất theo Quyết định không số ngày 03/5/1980 của Uỷ ban nhân dân huyện P với diện tích 360m2 đất ở. Theo bản đồ địa chính năm 1999, đất của ông Phạm D tại thửa số 50, tờ bản đồ số 7, có diện tích 677,3m2, trong đó có 500m2 đất thổ cư và 177,3m2 đất ao. Bị thu hồi 67,1m2 đất; không được bồi thường về đất; chỉ được hỗ trợ 9,5m2 đất, không được hỗ trợ 57,6m2 đất.

- Hộ ông Lê H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đỗ T, (ông Đỗ T được Uỷ ban nhân dân huyện P giao đất theo Quyết định số 02 QĐ/RĐ ngày 22/02/1980 với diện tích 360m2). Ngày 13/3/1982, Uỷ ban nhân dân xã D giao diện tích đất trên của ông Đỗ T cho ông Lê H. Tháng 10/1986, ông Lê H chuyển nhượng một phần cho ông Lương H, trong đơn xin nhượng tài sản không nêu rõ diện tích, được Uỷ ban nhân dân xã D xác nhận ngày 01/11/1986. Ông Lương H tiếp tục chuyển nhượng cho ông Đỗ D 374,2m2 năm 2001. Theo bản đồ địa chính năm 1999 thì thửa đất này mang số 42, tờ bản đồ số 7 có diện tích 282,7m2, trong đó có 195,7m2 đất thổ cư và 87m2 đất ao. Bị thu hồi 25,35m2 đất; không được bồi thường về đất; chỉ được hỗ trợ 1,95m2 đất, không được hỗ trợ 23,4m2 đất.

- Hộ ông Đỗ D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lương H, có giấy chuyển nhượng đất thổ cư được Uỷ ban nhân dân thị trấn V xác nhận ngày 30/10/2001 với diện tích 374.2m2 (gồm 277m2 đất ở và 97,2m2 đất ao, thuộc tờ bản đồ số 7, thửa số 49, bản đồ địa chính năm 1999. Bị thu hồi 39,34m2 đất; không được bồi thường về đất; chỉ được hỗ trợ 5,62m2 đất, không được hỗ trợ 33,72m2 đất.

Như vậy, đất của 06 hộ dân nêu trên đều có nguồn gốc từ phần đất được giao hợp pháp hoặc nhận chuyển nhượng từ phần đất được giao hợp pháp từ trước ngày 15/10/1993. Các hộ dân đều có lời khai thống nhất về qúa trình sử dụng đất liên tục từ khi được giao cho đến khi thị trấn V được thành lập và thực tế diện tích đất cụ thể của từng hộ gia đình được thể hiện tại bản đồ địa chính năm 1999 và Sổ mục kê của thị trấn năm 1999. Trong các quyết định giao đất hoặc tại đơn xác nhận việc chuyển nhượng đất của các hộ dân không nêu cụ thể ranh giới của các diện tích đất mà chỉ nêu chung chung tứ diện của các thửa đất. Do vậy, chưa có đủ căn cứ để cho rằng diện tích đất của các hộ dân bị thu hồi là nằm ngoài diện tích đất được giao hợp pháp để từ đó không bồi thường về đất khi thu hồi đất, như nhận định của Uỷ ban nhân dân huyện T.

Do chưa xác minh làm rõ quá trình sử dụng đất của 06 hộ dân cũng như quá trình quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với phần diện tích dôi dư ngoài phần diện tích đất thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của các hộ dân, nên việc Tòa án hai cấp và Uỷ ban nhân dân huyện T cho rằng diện tích đất thu hồi của các hộ dân là đất dôi dư do lấn chiếm và không được bồi thường, là không có căn cứ theo các quy định pháp luật về bồi thường khi thu hồi đất quy định tạiĐiều 42 Luật Đất đai năm 2003; các Điều 3, Điều 44 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Về phần diện tích đất thuộc hành lang bảo vệ kênh mương K25, thấy rằng:

Các Quyết định thu hồi đất và Quyết định số 394/QĐ-UBND ngày 21/4/2009 của Uỷ ban nhân dân huyện T (sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 1256/QĐ-UBND ngày 28/12/2009) thể hiện, trong số đất các gia đình bị thu hồi đất, thì:

- Gia đình ông Bùi N sử dụng 65,7m2 đất thuộc hành lang bảo vệ công trình thủy lợi (kênh mương K25) không được hỗ trợ;

- Gia đình ông Phạm D sử dụng 57,6m2 đất thuộc hành lang bảo vệ công trình thủy lợi (kênh mương K25) không được hỗ trợ;

- Gia đình ông Đỗ D sử dụng 33,72m2 đất thuộc hành lang bảo vệ công trình thủy lợi (kênh mương K25) không được hỗ trợ;

- Gia đình ông Lê H sử dụng 23,4m2 đất thuộc hành lang bảo vệ công trình thủy lợi (kênh mương K25) không được hỗ trợ;

- Gia đình ông Bùi H sử dụng 60,37m2 đất thuộc hành lang bảo vệ công trình thủy lợi (kênh mương K25) không được hỗ trợ.

Các hộ gia đình đều không đồng ý với việc Uỷ ban nhân dân huyện T đã xác định số diện tích đất trên thuộc hành lang bảo vệ công trình thủy lợi.

Trong vụ án này, Uỷ ban nhân dân huyện T đã căn cứ vào Công văn số 183/NN-QLN ngày 12/5/2008 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Công văn số 172/UBND-KTTH ngày 01/02/2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh H để xác định phạm vi bờ kênh tưới chính trạm bơm K25, thị trấn V, huyện T là 3m tính từ mép mặt thoáng kênh trở ra, bao gồm chiều rộng mặt bờ kênh là 0,8m, chiều rộng mái taluy (m=1) là 1,2m, phạm vi vùng phụ cận bảo vệ bờ là 1m). Tuy nhiên, trong hồ sơ không thể hiện tình trạng pháp lý kênh trạm bơm K25 có từ bao giờ, do cơ quan nào quản lý và hồ sơ thiết kế kỹ thuật của con kênh này như thế nào, quá trình quản lý và sử dụng kênh như thế nào kể từ khi được xây dựng cho đến nay, để Uỷ ban nhân dân tỉnh H cũng như Sở Nông nghiệp làm căn cứ xác định phạm vi bảo vệ kênh là 3m. Do vậy, việc Uỷ ban nhân dân huyện T căn cứ vào Công văn số 183/NN-QLN của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Công văn số 172/UBND-KTTH của Uỷ ban nhân dân tỉnh H để xác định phần diện tích đất bị thu hồi của 06 hộ dân thuộc hành lang bảo vệ công trình thủy lợi (kênh mương K25), là chưa đủ căn cứ pháp lý và không phù hợp với quy định tại Điều 25 Pháp lệnh về khai thác và bảo vệ công trình thủ lợi năm 2001: ‘‘Phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi bao gồm công trình và vùng phụ cận. Việc quy định phạm vi vùng phụ cận phải căn cứ vào tiêu chuẩn thiết kế, quy trình, quy phạm kỹ thuật nhằm bảo đảm an toàn công trình, thuận lợi cho việc khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi’’.

Để có đầy đủ căn cứ pháp lý xác định 06 hộ dân có được bồi thường khi bị thu hồi đất hay không và bồi thường hay hỗ trợ như thế nào, theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007, Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ, cần thiết phải làm rõ ranh giới diện tích đất đã giao cho các hộ dân (hoặc ranh giới đất các hộ dân nhận chuyển nhượng), quá trình quản lý đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và quá trình sử dụng đất của các hộ dân từ khi được giao đất đến thời điểm thu hồi đất, thông qua xác nhận của Uỷ ban nhân dân thị trấn V và những người làm chứng, cũng như phải làm rõ các vấn đề khác như nguồn gốc và hồ sơ thiết kế kỹ thuật của kênh trạm bơm K25, diện tích đất bị thu hồi của 06 hộ dân có thuộc phạm vi hành lang bảo vệ công trình thủy lợi kênh trạm bơm K25 hay không? Tòa án hai cấp khi xét xử chưa xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ nêu trên, nhưng bác đơn khởi kiện của các hộ dân, là chưa đủ căn cứ pháp luật.

2.2 Sai sót của bản án hành chính liên quan đến việc lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp và việc phân tích nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật cần áp dụng

Khi giải quyết vụ án hành chính, căn cứ để xem xét quyết định hành chính, hành vi hành chính đúng hay sai là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất quy định về lĩnh vực đó đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm ra quyết định hành chính hay có hành vi hành chính bị khiếu kiện. Vì vậy, để việc giải quyết vụ án được đúng pháp luật, Tòa án phải xác minh tại thời điểm ra quyết định hành chính hay có hành vi hành chính bị khởi kiện có bao nhiêu văn bản quy phạm pháp luật của những cơ quan nào quy định về lĩnh vực đó đang có hiệu lực thi hành để xác định đúng văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất. Đồng thời, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền cấp dưới hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật cao hơn cũng có giá trị quan trọng trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết vụ án hành chính.

Thực tiễn giải quyết vụ án hành chính cho thấy, bản án của Tòa án không đúng pháp luật nội dung có thể xuất phát từ việc áp dụng sai lầm pháp luật, có thể do việc không chú ý tới văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quan có thẩm quyền; hoặc có thể do cách hiểu máy móc, không đúng của Thẩm phán đối với các văn bản pháp luật nội dung.

- Việc không xác định đầy đủ và chính xác các văn bản pháp luật hoặc văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất làm cơ sở giải quyết vụ án hành chính là nguyên nhân dẫn đến việc áp dụng sai lầm pháp luật khi giải quyết vụ án hành chính.

Ví dụ: Sau khi kiểm tra quyết toán thuế của doanh nghiệp; ngày 07/6/2005, Chi cục thuế thành phố Q thuộc tỉnh B (gọi tắt là Chi cục thuế) đã lập biên bản kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế đối với doanh nghiệp. Tại biên bản này Chi cục thuế đã phát hiện trong năm 2004 doanh nghiệp Đ đã kê khai các khoản chi phí thực tế không hợp lý, không phát sinh như tiền lương 6.035.000đ; nguyên vật liệu sản xuất 33.412.730đ; khai báo doanh thu không đầy đủ thiếu 271.306đ.  

Căn cứ vào Biên bản nói trên, Chi cục trưởng Chi cục thuế ký quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08-6-2005 về việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp Đ như sau: Truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp (viết tắt là thuế TNDN) năm 2004 với số tiền: 11.121.330đ; phạt 1,5 lần tiền thuế TNDN năm 2004: 16.682.000đ; tổng số tiền truy thu và phạt là: 27.803.330đ.  

Không đồng ý với quyết định trên, doanh nghiệp Đ đã khiếu nại và khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm, Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh B đã quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của doanh nghiệp Đ yêu cầu huỷ quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08-6-2005 của Chi cục trưởng Chi cục thuế.

Doanh nghiệp Đ kháng cáo.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm, Toà án nhân dân tỉnh B đã quyết định: Chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện; sửa án sơ thẩm; huỷ toàn bộ quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08-6-2005 của Chi cục trưởng Chi cục thuế; buộc Chi cục thuế trả lại cho doanh nghiệp Đ số tiền đã thu theo quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08-6-2005 là 27.803.330đ.                                       

Toà án cấp phúc thẩm xét xử huỷ quyết định trên vì cho rằng tại điểm b khoản 3 Điều 36 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định Chi cục trưởng Chi cục thuế chỉ có thẩm quyền phạt tiền đến 10.000.000đ, nhưng tại quyết định  lại xử phạt đến 16.682.000đ là không đúng thẩm quyền.

Tại điểm b khoản 3 Điều 36 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của cơ quan thuế như sau: Trừ trường hợp luật có quy định khác về mức phạt; Chi cục trưởng Chi cục thuế có quyền phạt tiền đến 10.000.000đ.

Toà án cấp phúc thẩm khi xét xử đã không chú ý đến cụm từ Trừ trường hợp luật có quy định khác về mức phạt của Điều luật này.

Việc Toà án cấp phúc thẩm nhận định như trên là không đúng, vì thẩm quyền xử phạt của Cơ quan thuế trong trường hợp này được quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Tại khoản 3 Điều 23 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định việc xử lý vi phạm về thuế đối với đối tượng nộp thuế như sau: Khai man, trốn thuế thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế theo quy định của Luật này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, còn bị phạt tiền từ  một đến năm lần số thuế gian lận.

Tại khoản 1 Điều 24 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định thẩm quyền của cơ quan thuế trong việc xử lý vi phạm về thuế như sau: Thủ trưởng cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế được quyền xử lý đối với các vi phạm của đối tượng nộp thuế quy định tại khoản 1 khoản 2 và phạt tiền từ một đến năm lần số tiền gian lận theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này.

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, việc Chi cục trưởng Chi cục thuế có quyền xử phạt từ một đến năm lần số tiền mà doanh nghiệp khai man, trốn thuế và số tiền đó có thể lớn hơn nhiều lần số tiền 10.000.000đ, tuỳ thuộc vào số tiền trốn lậu thuế.

Do vậy, việc Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ án sơ thẩm và huỷ quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08-6-2005 của Chi cục trưởng Chi cục thuế là không đúng quy định của pháp luật.

- Ngoài ra, việc không xác định đầy đủ các văn bản hướng dẫn cũng dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng.

Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân H do ông Huỳnh B là chủ doanh nghiệp, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với ngành nghề kinh doanh là: Mua bán xăng, dầu và các sản phẩm của chúng.

Trong qúa trình kinh doanh, DNTN H đăng ký kê khai thuế giá trị gia tăng dưới hình thức khấu trừ và trong năm 2007, DNTN H có ký kết hợp đồng đại lý bán lẻ xăng dầu với doanh nghiệp tư nhân đại lý xăng dầu C, theo đó DNTN H có bán giảm giá từ 100 đồng đến 300 đồng/lít cho khách hàng mua số lượng từ 50 lít trở lên.

Ngày 23/10/2008, Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra và lập biên bản về việc Doanh nghiệp bán hàng giảm giá và kê khai thuế theo giá bán đã giảm với số tiền từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2007 là 55.281.550 đồng, vi phạm điểm 2, Mục II, Phần C Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và vi phạm điểm 2, Mục II, Phần C Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 09/7/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003, Nghị định số 148/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 và Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng.

Ngày 04/11/2008, Chi cục thuế huyện T, tỉnh S ban hành Quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế số 148/QĐ- XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Huỳnh B, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân H, với hình thức xử phạt là cảnh cáoáp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là truy thu số tiền thuế giá trị gia tăng 5.528.155 đồng. Lý do: Đã có hành vi vi phạm khai thuế không đúng trong hồ sơ quyết toán thuế  khi kết thúc năm theo quy định tại điểm 1, Điều 8, Mục 2, Chương I của Nghị định 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.

Ông Huỳnh B có đơn khiếu nại, sau đó khởi kiện đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 148/QĐ- XPHC của Chi cục trưởng thuế huyện T.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S quyết định:Bác yêu cầu của ông Huỳnh B.

Ông Huỳnh B có đơn kháng cáo.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm, Toà án nhân dân tỉnh S quyết định: Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Huỳnh B, hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 148/QĐ-XPHC ngày 04/11/2008 của Chi cục trưởng Chi cục thuế huyện T.

Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 148/QĐ-XPHC vì cho rằng Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 148/QĐ-XPHC được ban hành đã quá thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

Nghiên cứu vụ án trên, thấy rằng: Ngày 23/10/2008, Đoàn kiểm tra của Chi cục thuế huyện T tiến hành kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính về thuế. Biên bản có chữ ký xác nhận của ông Huỳnh B và trưởng đoàn kiểm tra là đáp ứng quy định tại Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.

Trên cơ sở biên bản vi phạm hành chính nói trên, ngày 04/11/2008, Chi cục trưởng chi cục thuế huyện T ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Huỳnh B- giám đốc DNTN H.

Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định:

"Thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra ra quyết định xử phạt là ba mươi ngày….”.

Điều 9 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định:

"Cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính

1. Thời hạn, thời hiệu trong Pháp lệnh được quy định theo tháng hoặc theo năm thì khoảng thời gian đó được tính theo tháng, năm dương lịch, bao gồm cả ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động.

2. Thời hạn trong Pháp lệnh được quy định theo ngày thì khoảng thời gian đó được tính theo ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động”.

Như vậy trình tự, thủ tục ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 148/QĐ-XPHC ngày 04/11/2008 của Chi cục trưởng chi cục thuế huyện T là đúng pháp luật, tuân thủ quy định tại Điều 55, 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (năm 2002), điều 9 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (Từ 23/10/2008 đến 04/11/2008 là 08 ngày làm việc, không kể 04 ngày thứ bảy, chủ nhật).

 Do đó, bản án hành chính phúc thẩm cho rằng Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 148/QĐ-XPHC được ban hành đã quá thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính là không có cơ sở pháp lý.

-Bên cạnh đó,cũng tồn tại những bản án áp dụng pháp luật không đúng do cách hiểu máy móc của Thẩm phán đối với các quy định pháp luật nội dung.

Ví dụ:Ngày 29/7/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 663/QĐ-TTg về việc thu hồi 2.228.210,7m2 đất tại xã M, huyện T, tỉnh B, giao cho Công ty cổ phần xây dựng dầu khí I thuê đất để đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp B1, huyện T, tỉnh B.

Ngày 14/3/2001, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện T thực hiện kiểm kê và ngày 26/11/2001 thực hiện xác minh tài sản trên đất bị thu hồi của gia đình ông Lê H.

Ngày 04/01/2002, Uỷ ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 410/QĐ-UB bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông Lê H. Theo Quyết định số 410/QĐ-UB thì gia đình ông H được đền bù, trợ cấp về đất, đền bù hoa màu, vật kiến trúc và các khoản trợ cấp khác cho diện tích đất bị thu hồi 29.257,0m2 (trong đó: đất ở là 300m2, đất nông nghiệp trồng cây lâm nghiệp hạng 5 là 28.957m2) với tổng số tiền là 223.438.933đồng. Sau đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh B còn ban hành các Quyết định số 7093/QĐ-UB ngày 25/7/2003 bồi thường về cây trồng số tiền là 317.300đồng và Quyết định số 4082/QĐ-UBND ngày 14/11/2006 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung về vật kiến trúc cho gia đình ông Hải với số tiền là 89.088.000đồng. Ngày 13/11/2006, Uỷ ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 5994/QĐ-UBND về việc giao 200m2 đất tái định cư cho gia đình ông H để sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở.

Theo Quyết định số 410/QĐ-UB ngày 04/01/2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh B thì giá đất tính đền bù thiệt hại và trợ cấp cho gia đình ông H là giá đất được tính theo Quyết định số 1124/2000/QĐ-UB ngày 10/3/2000 của Uỷ ban nhân dân tỉnh B về việc thực hiện Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ, Quyết định số 428/QĐ-UBT ngày 23/01/1999 của Uỷ ban nhân dân tỉnh B về việc quy định bảng giá các loại đất và Quyết định số 3399/QĐ-UB ngày 28/6/1999 của Uỷ ban nhân dân tỉnh B về việc phê duyệt hệ số K áp dụng tính đền bù đất đối với các dự án đền bù giải tỏa trên phạm vi tỉnh B.

Ông Lê H không đồng ý với Quyết định số 410/QĐ-UB ngày 04/01/2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh B nên đã khiếu nại, sau đó khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh B quyết định:Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê H.

Ông Lê H kháng cáo.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Chấp nhận kháng cáo của ông Lê H …Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê H:Hủy bỏ phần kinh phí đền bù đất và trợ cấp 30% đất tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số 410/QĐ.UB ngày 04/01/2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh B và Quyết định số 3518/QĐ-UBND ngày 09/10/2008 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh B, để giải quyết lại việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất cho ông Lê H.

Tòa án cấp phúc thẩm quyết định như vậy vì cho rằng Uỷ ban nhân dân tỉnh B không ban hành quyết định về giá đất riêng để tính đền bù cho Dự án đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp B1 nên hủy Quyết định số 410/QĐ-UB ngày 04/01/2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh B là trái với quy định tại Điều 8 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ.

Nghiên cứu vụ án, thấy rằng, tại Điều 8 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng quy định:

"Giá đất để tính đền bù thiệt hại do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cho từng dự án theo đề nghị của Sở Tài chính - Vật giá, có sự tham gia của các ngành có liên quan.

Gía đất để tính đền bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K để đảm bảo giá đất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở địa phương”.

Ngày 13/12/2001, Uỷ ban nhân dân huyện T đã có Tờ trình số 720/UB.VP và ngày 31/12/2001, Hội đồng Thẩm định phương án đền bù tỉnh B (do Giám đốc Sở Tài chính - Vật giá tỉnh làm Chủ tịch) có Tờ trình số 157/TT-HĐTĐ về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ cho các hộ dân có đất bị thu hồi (trong đó có gia đình ông Hải) thuộc Dự án Khu Công nghiệp B1 theo các văn bản quy định về giá đất để tính đền bù khi Nhà nước thu hồi đất chung trên địa bàn tỉnh B tại thời điểm thu hồi đất (Quy định kèm theo Quyết định số 1124/2000/QĐ-UB ngày 10/3/2000 và Quyết định số 3399/QĐ-B ngày 28/6/1999 của Uỷ ban nhân dân tỉnh B). Với việc phê duyệt phương án theo Tờ trình số 157/TT-HĐTĐ, Uỷ ban nhân dân tỉnh B đã quy định cụ thể giá đất để tính bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất đối với Dự án Khu Công nghiệp B1 là theo quy định về giá đất chung trên địa bàn tỉnh B tại thời điểm thu hồi đất, đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP của Chính phủ.

Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê H yêu cầu hủy một phần Quyết định số 410/QĐ-UB là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng Uỷ ban nhân dân tỉnh B không ban hành quyết định về giá đất riêng để tính đền bù cho Dự án đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp B1 nên hủy Quyết định số 410/QĐ-UB là không đúng.

2.3 Sai sót liên quan đến việc ban hành phần quyết định của bản án hành chính

Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nhiều Thẩm phán không chú ý trong việc xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện; khi tuyên án và ra bản án có nhiều sai sót trong phần quyết định của bản án mà trong nhiều trường hợp phải kháng nghị và giải quyết lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ví dụ: Do có sự tranh chấp quyền sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân huyện T đã ra Quyết định số 758/QĐ-UB thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P, H, N. Ông P và ông N có đơn khiếu nại quyết định trên. Uỷ ban nhân dân huyện T đã có các quyết định giải khiếu nại của ông P và ông N.

Ông P và ông N đều có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu Toà án huỷ với Quyết định số 758/QĐ-UB.

Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý  02 vụ án hành chính đối với đơn khởi kiện của ông P và ông N.

Đối với trường hợp khởi kiện của ông P: Tại bản án hành chính sơ thẩm số 07, Toà án cấp sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện; giữ nguyên Quyết định số 758/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân huyện T.

Đối với trường hợp khởi kiện của ông N: tại bản án hành chính sơ thẩm số 08, Toà án cấp sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện; giữ nguyên Quyết định số 758/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân huyện T.

Tuy nhiên, sau khi ông H khiếu nại, Uỷ ban nhân dân huyện T thấy rằng việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H là không đúng pháp luật, nên muốn hủy bỏ một phần của Quyết định số 758/QĐ-UB; nhưng do các bản án hành chính sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, nên Uỷ ban nhân dân huyện T phải khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Điều 1 Quyết định số 758/QĐ-UB, Uỷ ban nhân dân huyện T đã quyết định riêng đối với ông P, ông N và ông H. Ông P và ông N cùng khởi kiện vụ án hành chính  yêu cầu huỷ Quyết định số 758/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân huyện T đối với phần có liên quan đến quyền lợi của mỗi người. Lẽ ra, khi giải quyết, Toà án cấp sơ thẩm chỉ đánh giá tính hợp pháp của phần quyết định có liên quan đến ông P hoặc ông N để có quyết định đúng pháp luật. Nhưng, Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định giữ nguyên quyết định bị khiếu kiện là không đúng.

II.Nguyên nhân của các sai sót trong việc áp dụng pháp luật nội dung trong việc giải quyết án hành chính và một số giải pháp, kiến nghị

1. Nguyên nhân của các sai sót khi áp dụng pháp luật nội dung trong việc giải quyết án hành chính

Thứ nhất, án hành chính là loại án mới (so với các loại án hình sự, dân sự), loại án khó, phức tạp; việc giải quyết án hành chính liên quan đến việc áp dụng nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực quản lý Nhà nước khác nhau. Mỗi lĩnh vực quản lý nhà nước lại có nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Bên cạnh đó, Thẩm phán xét xử án hành chính, đặc biệt là ở cấp huyện, còn thiếu kinh nghiệm, còn lúng túng về kỹ năng xét xử và thiếu kiến thức về quản lý Nhà nước; có nơi, có lúc còn có tâm lý e ngại. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, một số Thẩm phán của Tòa án các cấp do không áp dụng triệt để, chính xác quy trình của việc áp dụng pháp luật nội dung như không xác minh, thu thấp đầy đủ và không phân tích đánh giá khách quan, toàn diện các tình tiết của vụ án hành chính, không nghiên cứu kỹ các văn bản pháp luật cũng như các nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật nội dung cụ thể có liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính. Do vậy, khi xét xử đã ban hành các bản án hành chính không đúng quy định của pháp luật.

Thứ hai,theo quy định của Điều 163 Luật tố tụng hành chính năm 2010 thì Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính,... và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan, để từ đó có các phán quyết tương ứng trong từng trường hợp. Như vậy, trong xét xử các vụ án hành chính, những quy định về căn cứ đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính là rất cần thiết; bởi lẽ, căn cứ những quy định này, các Thẩm phán mới có cơ sở cần thiết để đưa ra các phán quyết của mình. Tuy nhiên, các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và Luật tố tụng hành chính năm 2010 chưa có những quy định này. Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao chưa hướng dẫn kịp thời các Tòa án nhân dân địa phương về các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của từng loại quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện. Do vậy, việc đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện của các Tòa án các cấp còn chưa thống nhất.

Thứ ba, công tác tổng kết thực tiễn, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn về mặt nội dung khi giải quyết vụ án hành chính trong những năm qua chưa đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu công tác xét xử. Nguyên nhân là do các Tòa án chưa chú trọng làm tốt công tác tổng kết xét xử án hành chính, trên cơ sở đó để tập hợp các vướng mắc làm cơ sở cho việc đề xuất những vấn đề liên quan đến hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật (đặc biệt là những vướng mắc liên quan đến việc áp dụng pháp luật nội dung trong việc giải quyết án hành chính).

Thứ tư, hiện nay, Tòa án nhân dân địa phương được tổ chức theo đơn vị hành chính, mỗi tỉnh có một Tòa án nhân dân cấp tỉnh, mỗi huyện có một Tòa án nhân dân cấp huyện. Thực tế giải quyết các vụ án hành chính đã cho thấy có sự lệ thuộc của Tòa án đối với chính quyền địa phương. Do một bên trong vụ án hành chính là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước nên Thẩm phán tham gia giải quyết các vụ án hành chính thường chịu những sức ép nhất định. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tính độc lập khi xét xử của Tòa án, mà còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng xét xử các vụ án hành chính chưa cao.

2. Một số giải pháp, kiến nghị

Để góp phần nâng cao chất lượng các bản án hành chính, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các bản án hành chính áp dụng pháp luật nội dung không đúng, bị Tòa án cấp trên hủy hoặc sửa, tác giả đề xuất một số giải pháp, kiến nghị sau đây:

Thứ nhất, về hoàn thiện pháp luật,cần bổ sung trong Luật tố tụng hành chính năm 2010 những quy định về căn cứ đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính để các Thẩm phán khi giải quyết vụ án hành chính có căn cứ thống nhất trong việc đưa ra các phán quyết của mình.

Trước mắt, Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn kịp thời các Tòa án nhân dân địa phương về các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của từng loại quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện; đặc biệt là các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp, có căn cứ của các loại quyết định hành chính hay bị khởi kiện như quyết định hành chính về quản lý đất đai, quyết định hành chính về thuế, quyết định hành chính về xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ hai, về công tác tổ chức, cán bộ, cần tăng cường hơn nữa công tác xây dựng ngành, bảo đảm tuyển chọn đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án trong sạch, vững mạnh, có tinh thần trách nhiệm công tác cao, có trình độ chuyên môn vững vàng. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán, cán bộ, công chức ở Tòa án các cấp để giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đối với các khiếu kiện hành chính. Thẩm phán xét xử án hành chính cần phải được đào tạo chuyên sâu về quản lý Nhà nước, về kỹ năng xét xử án hành chính. Các Hội thẩm nhân dân cũng cần phải được bồi dưỡng kiến thức cần thiết về pháp luật cũng như kiến thức về quản lý Nhà nước để tham gia xét xử có hiệu quả và thiết thực hơn.

Thứ ba, về công tác giám đốc kiểm tra và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong việc giải quyết án hành chính,cần làm tốt hơn nữa công tác giám đốc kiểm tra của Tòa án cấp trên đối với công tác xét xử án hành chính của Tòa án cấp dưới, kịp thời phát hiện sai phạm và thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm đối với những vụ án có sai sót; trao đổi và hướng dẫn kịp thời khi có những vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính, đặc biệt là các vướng mắc về mặt áp d�ng pháp luật nội dung trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, để việc giải quyết vụ án hành chính được thống nhất và đúng quy định pháp luật.

Thứ tư, về xây dựng mô hình Tòa án,cần đẩy nhanh việc chuẩn bị các điều kiện xây dựng mô hình tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét xử, trong đó có việc tổ chức tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực theo chủ trương của Đảng được đề ra trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, để đề cao tính độc lập, khách quan và tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và hoạt động xét xử các vụ án hành chính nói riêng.

Nói tóm lại, trong thời gian qua, các Tòa án đã có rất nhiều cố gắng trong việc đề ra các biện pháp nhằm tăng cường chất lượng xét xử các loại án nói chung và án hành chính nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ án hành chính bị hủy, sửa (trong đó có án bị hủy, sửa do áp dụng không đúng pháp luật nội dung) vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể và không giảm nhiều trong các năm qua. Để khắc phục được tình trạng án hành chính bị hủy, sửa do áp dụng không đúng pháp luật nội dung, các giải pháp cần được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả từ việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc giải quyết án hành chính, đến việc làm tốt công tác xây dựng ngành, công tác cán bộ, công tác giám đốc kiểm tra và công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới. Bên cạnh đó, cần tiến hành khẩn trương xây dựng mô hình Tòa án theo thẩm quyền xét xử, trong đó có mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực theo chủ trương của Đảng được đề ra trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị, để đề cao tính độc lập, khách quan trong xét xử của Tòa án các cấp.

 

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Học viện tư pháp, Kỹ năng giải quyết các vụ án hành chính, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2010;

2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2009;

3. Luật tố tụng hành chính năm 2010;

4. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2006);

5. Cơ sở dữ liệu thống kê án hành chính của Tòa án nhân dân tối cao;

6. Các tham luận của Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành Tòa án nhân dân các năm 2008, 2009, 2010 và 2011;

7. Các báo cáo tổng kết của ngành Tòa án nhân dân các năm 2008, 2009, 2010 và 2011;

8. Các quyết định giám đốc thẩm của Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao các năm 2008, 2009, 2010, 2011 và 2012.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi