Một số vấn đề về xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính

1. Một số vấn đề chung

Luật Tố tụng hành chính năm 2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 (sau đây gọi tắt là Luật TTHC) có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, sau khi được ban hành, Luật TTHC đã khắc phục được những thiếu sót, hạn chế của Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006 - sau đây gọi tắt là Pháp lệnh), góp phần đảm bảo tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ tố tụng hành chính. Để đảm bảo việc áp dụng các quy định của Luật TTHC thống nhất, hiệu quả trong công tác giải quyết các vụ án hành chính, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành một số văn bản nhằm hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật TTHC. Cụ thể: Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành Luật TTHC; Nghị quyết số 01/2011/NQ – HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao "hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 56/2010/QH12; Nghị quyết số 02/2011/NQ – HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao "hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTHC; Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT – VKSNDTC – TANDTC ngày 01 tháng 8 năm 2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao "hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTHC về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính và Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Có thể nhận thấy, các quy định của Luật TTHC đã có những tiến bộ đáng kể so với các quy định tại các điều luật tương ứng trong Pháp lệnh, nổi bật nhất là vấn đề Luật TTHC đã quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính cho Tòa án nhân dân và đơn giản hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Cụ thể, theo quy định tại Điều 28 của Luật TTHC, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết bằng một vụ án hành chính đối với các loại khiếu kiện sau: khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhầ nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ cơ quan, tổ chức; khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống và khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Như vậy, so với Pháp lệnh, với việc quy định liệt kê 22 loại việc cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã hạn chế rất nhiều sự tham gia của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quản lý hành chính nhà nước; bởi lẽ, với việc quy định liệt kê mang tính chất cố định các loại việc như vậy, Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết đối với các loại việc đã được pháp luật quy định. Tuy nhiên, trong các quan hệ xã hội nói chung, các quan hệ trong hoạt đông quản lý hành chính nhà nước nói riêng luôn luôn phát sinh các mối quan hệ mới, từ đó cũng luôn luôn phát sinh các tranh chấp mới; với những tranh chấp mới phát sinh, các quy định của văn bản luật lại không kịp sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh cho phù hợp; vì vậy, khi chưa được pháp luật quy định thì người khởi kiện không có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ, hoặc Tòa án cũng không có thẩm quyền thụ lý để giải quyết đối với loại tranh chấp đó. Luật TTHC đã khắc phục những hạn chế trên, với việc quy định thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án bằng phươg pháp loại trừ, theo đó chỉ loại trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước và mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức, còn lại tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng một vụ án hành chính.

Cùng với việc mở rộng thẩm quyền giải quyết bằng một vụ án hành chính cho Tòa án nhân dân, để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính của mình khi có quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Luật TTHC cũng đã đơn giản hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính so với các quy định tại Pháp lệnh. Theo đó, nếu như Pháp lệnh quy định thủ tục khiếu nại (hay còn gọi là thủ tục tiền tố tụng) là thủ tục bắt buộc đối với tất cả các loại khiếu kiện mà người khởi kiện phải thực hiện trước khi thực hiện quyền khởi kiện, thì Luật TTHC đã quy định chủ thể khởi kiện không bắt phải thực hiện thủ tục này đối với hầu hết các loại khiếu kiện, trừ khiếu kiện về quyết định lập danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; còn lại, ngay khi có quyết định hành chính, hành vi hành chính mà họ cho rằng xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì họ có thể thực hiện quyền khiếu nại để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết đối với vụ việc của mình, hoặc ngay lập tức họ có thể thực hiện quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án hành chính. Ngoài ra, Luật TTHC cũng chứa đựng rất nhiều các quy định khác nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả đối với việc giải quyết vụ án hành chính. Với những quy định mang tính chất mở, Luật TTHC đã góp phần tích cực trong việc bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ tố tụng hành chính.

Theo số liệu thống kê của Vụ 12 Viện kiểm sát nhân dân tối cao về thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính từ 1/7/2011 (ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực) đến 1/7/2013 cho thấy, kể từ khi Luật TTHC có hiệu lực thi hành, số vụ án hành chính Tòa án đã thụ lý để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hàng năm đã tăng lên đáng kể, cụ thể: nếu như từ ngày 1/7/2010 đến 1/7/2011, tổng số vụ án hành chính Tòa án đã thụ lý là 1.681 vụ thì trong 2 năm từ 1/7/2011 đến 1/7/2013, tổng số vụ án hành chính Tòa án đã thụ lý là 8.473 vụ, tăng 6.792 vụ, bình quân tăng 202,02%/năm. Có thể thấy, các quy định của Luật TTHC đã góp phần đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính được kịp thời, chính xác; các cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của Luật TTHC và các văn bản pháp luật liên quan, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc giải quyết vụ án hành chính trên thực tế. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án hành chính vẫn còn có những tồn tại, bất cập, và không thống nhất, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án hành chính nói chung, trong đó có vấn đề xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập tới việc xác định tư cách của hai chủ thể không thể thiếu trong tố tụng hành chính là người khởi kiện và người bị kiện.

2. Các quy định của pháp luật về xác định tư cách đương sự

Theo quy định tại khoản 1, Điều 34 Luật TTHC, thì trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân được xác định là cơ quan tiến hành tố tụng; đồng thời, cũng tại khoản 2, Điều 34 đã quy định những người tiến hành tố tụng hành chính bao gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên. Trong đó, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính, nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật, thì vấn đề đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính nói chung và xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính nói riêng là hết sức quan trọng, nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án hành chính đạt hiệu quả.

Qua nghiên cứu các hồ sơ giải quyết vụ án hành chính được tiến hành thu thập, chúng tôi thấy rằng việc xác định tư cách đương sự của các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính còn tùy tiện, không đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính trong việc xác định tư cách đương sự, điều đó được thể hiện trong các văn bản, quyết định tố tụng như: quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án của Tòa án; quyết định phân công Kiểm sát viên kiểm sát giải quyết vụ án hành chính hoặc bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử vụ án hành chính… của Viện kiểm sát. Điều này ảnh hưởng đến tính thống nhất khi áp dụng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án hành chính.

Theo quy định tại Điều 47 - Luật TTHC quy định về "những người tham gia tố tụng hành chính” bao gồm: đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Như vậy, đương sự là đối tượng được quy định thuộc nhóm những người tham gia tố tụng. Vậy, đương sự trong vụ án hành chính bao gồm những ai?

Theo quy định tại khoản 5, Điều 3 - Luật TTHC, thì đương sự trong vụ án hành chính bao gồm: người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Người khởi kiện trong vụ án hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri.

Người bị kiện trong vụ án hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện.

Việc xác định quyền và nghĩa vụ của người khởi kiện, người bị kiện cũng được quy định cụ thể trong Luật TTHC; theo đó, quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện được quy định tại Điều 50 - Luật TTHC, quyền và nghĩa vụ của người bị kiện được quy định tại Điều 51 - Luật TTHC.

Thống nhất với các quy định của Luật TTHC về việc xác định đương sự trong vụ án hành chính, Nghị quyết số 02/2011/NQ - HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao "hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính” cũng hướng dẫn thực hiện một số nội dung trong việc xác định người khởi kiện và người bị kiện trong vụ án hành chính. Như vậy, trong các quy định của Luật TTHC cũng như các văn bản liên quan, đều quy định thống nhất trong việc xác định tư cách đương sự trong tố tụng hành chính bao gồm: người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dù chủ thể đó là cá nhân, cơ quan, hay tổ chức.

3. Thực tế áp dụng các quy định của pháp luật về xác định tư cách đương sự và một số đề xuất nhằm đảm bảo việc xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính được thống nhất, đúng căn cứ pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các văn bản tố tụng trong hồ sơ vụ án hành chính như: thông báo thụ lý vụ án, biên bản lấy lời khai, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thậm chí cả các bản án giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân; hay phiếu kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân; hoặc biên bản giao nhận hồ sơ vụ án giữa Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trong các hồ sơ vụ án hành chính… Chúng tôi thấy rằng, thực tế giải quyết các vụ án hành chính, ngoài việc phần lớn các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương (bao gồm Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân) đã xác định đúng tư cách đương sự trong vụ án hành chính, thì vẫn còn nhiều cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương xác định tư cách đương sự (cụ thể là tư cách người khởi kiện và người bị kiện) trong quá trình giải quyết vụ án hành chính còn tùy tiện, không thống nhất; chủ yếu thể hiện ở hai trường hợp sau đây:

Trường hợp thứ nhất: xác định tư cách đương sự trong tố tụng hành chính như trong tố tụng dân sự, cụ thể, người khởi kiện được xác định là "nguyên đơn” và người bị kiện được xác định là "bị đơn”. Việc xác định tư cách đương sự như trên của các cơ quan tiến hành tố tụng là không tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Mỗi loại tố tụng được xác định tư cách đương sự tương ứng, phù hợp với tính chất, đặc điểm cũng như đối tượng của mối quan hệ tranh chấp đó. Theo quy định tại Điều 56 - Bộ luật tố tụng dân sự, thì nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm; còn người khởi kiện trong tố tụng hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri; hoặc cùng là chủ thể bị kiện, nhưng bị đơn trong vụ án dân sự được hiểu là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm, còn người bị kiện trong tố tụng hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện. Như vậy, vụ án hành chính là những vụ án với tính chất đặc trưng là giải quyết những quan hệ tranh chấp phát sinh trong hoạt động quản lý Nhà nước, một bên chủ thể trong quan hệ tranh chấp này là cơ quan quản lý Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan quản lý Nhà nước cùng với các đối tượng khởi kiện bao gồm: các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hay quyết định lập danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Vì vậy, việc xác định đương sự là người khởi kiện và người bị kiện là phù hợp, tương ứng với tính chất, nội dung của tố tụng hành chính.

Trường hợp thứ hai: xác định tư cách đương sự theo loại chủ thể trong tố tụng hành chính. Nếu chủ thể khởi kiện và chủ thể bị kiện là cá nhân thì được xác định là "người khởi kiện”, "người bị kiện”; nếu chủ thể khởi kiện và chủ thể bị kiện là cơ quan, tổ chức thì được xác định là "bên khởi kiện” và "bên bị kiện”; việc xác định tư cách đương sự của các cơ quan tiến hành tố tụng như trên, ảnh hưởng đến tính thống nhất trong việc áp dụng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính. Theo quy định tại khoản 6, Điều 3 - Luật TTHC quy định: người khởi kiện trong tố tụng hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri; tại khoản 7, Điều 3 - Luật TTHC cũng quy định: người bị kiện trong tố tụng hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện. Như vậy, dù chủ thể khởi kiện là cá nhân, cơ quan, hay tổ chức, thì đều được xác định chung tư cách đương sự là "người khởi kiện”; hoặc chủ thể bị kiện là cá nhân hay cơ quan, tổ chức thì cũng đều được xác định chung tư cách đương sự là "người bị kiện”; các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính không phân biệt chủ thể tham gia tố tụng là cá nhân, hay cơ quan, tổ chức. Việc nhận thức không đúng dẫn đến việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính trong việc xác định tư cách đương sự tùy tiện, không thống nhất đã ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết các vụ án hành chính, đồng thời không đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hành chính.

Từ các trường hợp chúng tôi nêu ra ở trên, có thể thấy vấn đề đặt ra ở đây là việc xác định tư cách đương sự như các trường hợp trên có bị coi là vi phạm thủ tục tố tụng hay không? Nếu có thì vi phạm đó ở mức nào? Biện pháp xử lý ra sao? Vì tùy từng mức độ vi phạm mà hiệu lực của bản án, quyết định giải quyết của Tòa án khác nhau. Trên thực tế giải quyết vụ án hành chính trong thời gian qua cho thấy, các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, thậm chí cả bản án của Tòa án xác định tư cách đương sự như các trường hợp trên vẫn có hiệu lực pháp luật mặc dù không có chỉnh sửa, đính chính từ phía các chủ thể ban hành các văn bản tố tụng hay bản án đó. Theo quan điểm của chúng tôi, các trường hợp xác định tư cách đương sự như trên có thể được coi là vi phạm thủ tục tố tụng, cụ thể là xác định sai tư cách đương sự trong tố tụng hành chính. Bởi lẽ, đối tượng khởi kiện vụ án hành chính phải gắn với chủ thể khởi kiện và chủ thể bị kiện nhất định; việc Tòa án giải quyết vụ án hành chính với các chủ thể "nguyên đơn, bị đơn” hay "bên khởi kiện, bên bị kiện” mà không đưa "người khởi kiện” và "người bị kiện” vào tố tụng giống như việc Tòa án đang giải quyết vụ án mà không có các bên đương sự hoặc đưa các bên đương sự không được pháp luật tương ứng quy định vào tham gia tố tụng. Dù ở trường hợp nào cũng không đảm bảo việc tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Đối với các vi phạm này, tuy không ảnh hưởng đến nội dung, đường lối giải quyết vụ án, vì thực tế những người tiến hành tố tụng hầu hết hiểu được tính chất của các đương sự trong tố tụng hành chính, có chăng là cách "gọi tên” tư cách đương sự không đúng. Tuy nhiên, về mặt hình thức, có thể thấy việc xác định sai tư cách đương sự trong tố tụng hành chính ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giải quyết vụ án hành chính, ảnh hưởng đến tính thống nhất trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết các vụ án hành chính trên thực tế nên cần nghiêm khắc rút kinh nghiệm.

Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, chúng tôi thấy rằng, khi được phân công, Kiểm sát viên cần hiểu rõ được vai trò hết sức quan trọng của mình, đó là đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật. Trong trường hợp phát hiện Tòa án có vi phạm trong việc xác định tư cách đương sự thì cần báo cáo Lãnh đạo Viện xem xét và quyết định thực hiện quyền kiến nghị hoặc kháng nghị (tùy từng mức độ vi phạm) để yêu cầu Tòa án tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng hành chính, góp phần đảm bảo việc áp dụng thống nhất các quy định của Luật TTHC khi giải quyết các vụ án hành chính.

Đối với Viện kiểm sát địa phương, cần nhận thức rõ vai trò quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Bởi lẽ, tính chất của tố tụng hành chính là việc Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, trong đó một bên khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình với một bên bị kiện bao giờ cũng là cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan quản lý nhà nước; chính vì quan hệ tố tụng trong vụ án hành chính giữa một bên là "quan” với một bên là "dân” nên thực tế rất dễ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm do vẫn còn có sự nể nang, "lệ thuộc” giữa cơ quan tiến hành tố tụng với đương sự; đồng thời, phần lớn các tranh chấp trong tố tụng hành chính thường phức tạp nên Lãnh đạo các Viện kiểm sát địa phương cần quan tâm, bố trí cán bộ, Kiểm sát viên có năng lực và đạo đức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án hành chính. Từ đó, góp phần phát hiện kịp thời các vi phạm của Tòa án để yêu cầu sửa đổi, đảm bảo việc giải quyết vụ án hành chính của Tòa án kịp thời, đúng căn cứ pháp luật.

Các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương, trong đó chủ đạo là Viện kiểm sát cần đứng ra tổ chức rút kinh nghiệm liên ngành sau khi kết thúc giải quyết mỗi vụ án hành chính. Trên cơ sở đó, đưa ra những khó khăn, vướng mắc hoặc những tồn tại, vi phạm để rút kinh nghiệm trong hoạt động giải quyết vụ án hành chính nói chung.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi