Tổng quan về hệ thống pháp luật các nước Asean

Mỗi quốc gia ASEAN với những đặc điểm riêng về lịch sử, truyền thống, địa lí, thành phần dân cư, trình độ phát triển kinh tế, chính trị, tôn giáo... là nền tảng tạo nên sự đa dạng về xã hội và hệ thống pháp luật cho khu vực này. Tuy nhiên, trong sự đa dạng đó vẫn có những điểm tương đồng nhất định. Sự giao lưu và tiếp biến giữa các nền văn hoá, những điểm tương đồng về lịch sử, truyền thống dân tộc của các quốc gia trong khu vực đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hệ thống pháp luật ở khu vực này có những điểm giống nhau. Hơn thế, chúng ta không chỉ tìm thấy nhiều điểm tương đồng giữa các hệ thống pháp luật này mà còn tìm thấy nhiều điểm tương đồng giữa chúng với các hệ thống pháp luật bên ngoài khu vực Đông Nam Á.(1) Nếu dựa vào cách phân loại của các học giả luật so sánh trên thế giới, chúng ta sẽ thấy việc xác định dòng họ của các hệ thống pháp luật ở các nước ASEAN khá thú vị Theo đó, phần lớn hệ thống pháp luật của các quốc gia này chứa đựng các yếu tố của hai hoặc nhiều dòng họ pháp luật. Nói cách khác, pháp luật các nước ASEAN chứa đựng tất cả những yếu tố của các dòng họ của các hệ thống pháp luật trên thế giới.

1.      Dòng họ Civil 1aw ở các nước ASEAN

Civil law được tiếp nhận ở nhiều nước ASEAN chủ yếu gắn liền với quá trình xâm chiếm thuộc địa của các nước châu âu lục địa đối với các quốc gia này. Trừ Thái Lan, luật chịu ảnh hưởng của dòng họ Civil law là Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonesia và Philippines đều đã từng là thuộc địa của các nước thuộc lục địa châu âu là Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha.

Việt Nam, Lào và Campuchia là những nước thuộc địa của Pháp trong thời gian dài trước khi giành được độc lập. Chính sách thuộc địa của Pháp ở Đông Dương đã làm cho hệ thống pháp luật của ba nước này tiếp nhận pháp luật của Pháp theo cách thức bắt buộc. Chẳng hạn, ở Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc, bên cạnh hệ thống pháp luật của các hoàng đế Nam triều, các toà án của Pháp vẫn áp dụng pháp luật của Pháp đối với "người Pháp và những ngoại kiều được biệt đãi như người Pháp, người Việt Nam sinh ra ở vùng đất thuộc địa dù đang sống đâu trên đất Việt Nam".(2) Ngay cả sau khi đã giành được độc lập và thậm chí đã xây dựng hệ thống pháp luật theo mô hình pháp luật XHCN như ở Việt Nam và Lào, những nhân tố của hệ thống pháp luật Pháp về kỹ thuật pháp lí, hệ thống khái niệm cơ bản và cấu trúc của pháp luật vẫn tiếp tục được duy trì. Indonesia là quốc gia trong khu vực nằm dưới sự cai trị của Hà Lan hơn 300 năm (từ cuối thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII). Người Hà Lan tiến hành thuộc địa hoá quần đảo Indonesia lần đầu trong khoảng 200 năm. Sau đó vùng đất này được chuyển giao cho người Pháp khi quân đội của Napoleọn Bonaparte lật đổ chính phủ Hà Lan. Sau gần 10 năm dưới sự cai trị của người Pháp và 4 năm dưới sự cai trị của người Anh đầu thế kỉ XIX, Indonesia lại chịu sự kiểm soát của Hà Lan lần thứ hai trong suốt hơn 100 năm (1816- 1942) đến khi quân đội Nhật Bản xâm chiếm vùng đất này trong Đại chiến thế giới lần thứ II. Quá trình thuộc địa hoá của các nước này đã làm cho pháp luật lndonesia bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi pháp luật Châu Âu lục địa, đặc biệt là pháp luật của Hà Lan. Nhiều đạo luật của Indonesia được xây dựng dựa vào luật của Hà Lan, chẳng hạn pháp luật thương mại của Indonesia chịu ảnh hưởng rất lớn từ Bộ luật thương mại năm 1847 của Hà Lan.(3)

Gần 4 thế kỉ (từ năm 1521  đến 1898 là thuộc địa của người Tây Ban Nha đã làm cho hệ thống pháp luật Philippines chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi civil law của hệ thống pháp luật châu âu lục địa. Pháp luật của Tây Ban Nha đã được áp dụng ở Philippines thông qua các sắc lệnh của Hoàng gia Tây Ban Nha hoặc thông qua việc ban hành các đạo luật dành riêng cho quần đảo này hoặc các đạo luật được áp dụng chúng cho tất cả các vùng thuộc địa của Tây Ban Nha. Nhiều bộ luật của Tây Ban Nha có hiệu lực ở Philippines như Bộ luật hình sự năm 1870, Bộ luật thương mại năm 1886 , Luật về hôn nhân năm 1870... Thái Lan là quốc gia duy nhất trong các nước ASEAN không trải qua chế độ thuộc địa. Tuy nhiên, trong suốt thế kỉ XIX, để duy trì chủ quyền lãnh thổ của mình, Thái Lan đã kí kết hàng loạt các hiệp định song phương với các quốc gia phương Tây nhằm phát triển quan hệ thương mại. Các hiệp định song phương này đã giúp cho Thái Lan mở cửa thị trường với các nước phương Tây. Sự thay đổi về thương mại đã kéo theo sự thay đổi về xã hội và pháp luật. Vì thế, hệ thống pháp luật Thái Lan bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi pháp luật các nước phương Tây, đặc biệt là pháp luật của Châu Âu lục địa. Đầu thế kỉ XX, Thái Lan tiến hành cải cách hệ thống pháp luật và tư pháp. Người Thái đã tiếp nhận hệ thống triết lí pháp luật, tổ chức toà án và tố tụng của pháp luật Châu Âu và xem pháp luật của Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Ý và Nhật Bản là những mô hình cho việc xây dựng pháp luật của mình. Hàng loạt các bộ luật của Thái Lan đã được ban hành theo mô hình pháp luật của các nước này như Bộ luật hình sự năm 1908, Bộ luật dân sự và thương mại năm 1925; Bộ luật tố tụng dân sự năm 1933, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1935.

2. Dòng họ Common 1aw ở các nước ASEAN

Các nước ASEAN có hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng của dòng họ Common law bao gồm: Malaysia, Singapore, Brunei, Myanmar, Philippines. Giống như nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới, sự ảnh hưởng của Common law ở các quốc gia Đông Nam Á chủ yếu gắn liền với quá trình thuộc địa hoá của Anh hoặc sự ảnh hưởng của Mỹ.

Quá trình thuộc địa hoá của Anh đối với các vùng lãnh thổ của Malaysia đã tạo điều kiện cho pháp luật Anh được áp dụng ở đây. Năm 1786 người Anh thiết lập được sự kiểm soát đầu tiên ở Penang - vùng lãnh thổ khá rộng lớn của Malaysia. Sau đó, người Anh đã từng bước thực hiện sự kiểm soát đối với các vùng đất khác. Các hiệp ước được ki kết giữa Anh và Hà Lan (năm 1824 và năm 1891) cùng với những hiệp ước được Anh kí với các vương quốc Hồi giáo khác ở vùng đất này đã giúp cho người Anh dần kiểm soát được toàn bộ các vùng lãnh thổ của Malaysia. Gắn liền với quá trình kiểm soát các vùng lãnh thổ của Malaysia, pháp luật của Anh được tiếp nhận vào Malaysia bằng nhiều hình thức khác nhau mà chủ yếu là thông qua các thẩm phán và các nhà lập pháp. Theo đó, các thẩm phán áp dụng các nguyên tắc pháp luật của Anh trong quá trình xét xử vụ việc, các nhà làm luật khi soạn thảo và ban hành các đạo luật đã đưa các nguyên tắc pháp luật đã được các thẩm phán áp dụng vào trong các đạo luật.(4) Ngoài ra, việc các luật gia được đào tạo theo truyền thống của Anh và tiếng Anh được xem là ngôn ngữ phổ biến trong hoạt động của bộ máy nhà nước cũng là những nhân tố làm cho Malaysia dễ dàng tiếp nhận pháp luật Anh. Hệ thống pháp luật của Singaporẹ, mang những đặc điểm của hệ thống pháp luật Common law bắt nguồn từ lịch sử của quốc gia này. Từ năm 1919, Singapore bắt đầu chịu ảnh hưởng của pháp luật Anh. Trước khi Văn phòng thuộc địa của Anh ở London kiểm soát hoàn toàn vùng lãnh thổ Singapore năm 1867, quốc đảo này đã nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Anh ở vùng Bengal(5) và chính quyền Ấn Độ (lãnh thổ thuộc địa của Anh). Vì thế, hệ thống pháp luật Anh đã được tiếp nhận bằng cả 2 cách trực tiếp và gián tiếp vào hệ thống pháp luật singapore. Mặc dù, trong Tuyên bố thứ hai về nền tư pháp của Hoàng gia Anh ngày 27/11/1826 liên quan đến việc giải tán các toà án có thẩm quyền xét xử ở Penang và thành lập toà án mới có thẩm quyền xét xử đối với toàn bộ Vùng thuộc địa eo biển trong đó có Singapore, không có điều khoản xác định pháp luật nào sẽ được Toà án của Vùng thuộc địa eo biển áp dụng nhưng dựa vào các phán quyết của Toà án này, từ năm 1835 đến năm 1890, các luật gia của Singapore đã xác định rằng tất cả các luật của Anh bao gồm common law, luật công bình và luật thành văn có hiệu lực ở Anh ngày 27/11/1826 sẽ được áp dụng ở Singapore. Ngay cả khi đã trở thành quốc gia độc lập năm 1963, Singapore vẫn tiếp nhận pháp luật của Anh theo cách riêng của mình. Ngoài common law, nhiều đạo luật của Anh vẫn được áp dụng ở Singapore với những điều kiện nhất định. Điều 5 Luật dân sự Singapore ban hành năm 1970  thay thế cho Sắc lệnh năm 1809 đã xác định một số lĩnh vực thương mại như công ti, ngân hàng, bảo hiểm hàng hải... của Singapore sẽ áp dụng pháp luật của Anh; Bộ luật tố tụng hình sự của Singapore cũng xác định pháp luật của Anh trong những trường hợp nhất định vẫn tiếp tục được áp dụng ở Singapore. Ngày 12/11/1993, Nghị viện Singapore đã ban hành Luật về áp dụng pháp luật Anh. Luật này quy định cụ thể những đạo luật của Anh, common law và các nguyên tắc công bình của Anh sẽ được áp dụng ở Singapore với điều kiện các luật đó phù hợp với hoàn cảnh của Singapore.(6)

Brunei bắt đầu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ hệ thống pháp luật Anh từ năm 1888  khi Quốc vương của Brunei lúc đó là Hashim Jalilul Alam Aqamaddin kí hiệp ước với chính quyền Anh đặt Brunei dưới sự bảo trợ của Anh mặc dù trước đó, Anh và Brunei đã có nhiều hiệp ước khác nhau. Đến năm 1908, một văn bản được Anh ban hành để sửa đồi các quy định liên quan đến tổ chức và thẩm quyền của các toà án dân sự và hình sự cũng như luật về tố tụng được áp dụng ở Brunei. Điều này đã làm cho hệ thống pháp luật Anh có ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ đến Brunei. Ngày nay, theo Luật áp dụng của Brunei được ban hành năm 1951, sửa đổi năm 1984 và 2009 vẫn xác định Brunei tiếp tục áp dụng common law, luật công bình và các luật thành văn được áp dụng chung của Anh nếu chúng không trái với điều kiện và hoàn cảnh của Brunei.(7) Như vậy, cả trong lịch sử và hiện tại, hệ thống pháp luật Brunei chịu ảnh hưởng rất lớn của hệ thống pháp luật Anh.

Hệ thống pháp luật Myanmar bắt đầu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi common law của Anh từ năm 1824  khi kết thúc cuộc chiến tranh lần thứ nhất giữa Anh và Myanmar (khi đó quốc gia này có tên là Burma). Sau cuộc chiến tranh này, hai vùng lãnh thổ của Myanmar là Rakhine và Taninthayi bị người Anh thôn tính và nằm dưới sự kiểm soát của Anh. Sau cuộc chiến tranh lần thứ hai với Myanmar năm 1852, người Anh kiểm soát thêm hai vùng lãnh thổ khác là Bang và Moat-ta-ma. Để cai quản vùng đất đã chiếm được người Anh xây dựng hệ thống quản lí của Anh và các quy định của pháp luật Anh được áp dụng trong việc quản lí thành phố nơi có cung điện triều đại vua cuối cùng của Myanmar.(8) Đến năm 1886 , toàn bộ các vùng lãnh thổ của Myanmar nằm trong sự kiểm soát của người Anh và để cai quản vùng đất này, người Anh đã xác lập Myanmar thành một tỉnh của Ấn Độ (khi đó là vùng thuộc địa của Anh) dưới sự kiểm soát của Toàn quyền Ấn Độ. Pháp luật Anh ở Ấn Độ đã được áp dụng đối với "tỉnh" Myanmar. Tình trạng này kéo dài đến năm 1935 khi Myanmar được tách khỏi án Độ và chính quyền thuộc địa Anh thiết lập Myanmar trở thành vùng lãnh thổ thuộc quyền cai tư trực tiếp của Anh thông qua Toàn quyền ở Myanmar. Myanmar là thuộc địa của Anh cho đến khi giành được độc lập năm 1948. Trong thời kì này, giống như nhiều vùng thuộc địa khác của Anh, Hội đồng cơ mật (Privy Council) được xem là cơ quan xét xử cao nhất của Myanmar. Vì thế, các phán quyết của cơ quan này ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháp luật của Myanmar. Sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Anh trong suốt thời kì từ nửa đầu thế kỉ XIX đã làm cho các nhân tố của common law thẩm thấu vào hệ thống pháp luật của Myanmar trong quá trình phát triển lịch sử của nó cho đến ngày nay.(9)

Sự kiểm soát của Mỹ đối với quần đảo Philippines theo hiệp ước Tây Ban Nha và Mỹ được kí kết tại Paris ngày 10/12/1898 đã từng bước làm thay đổi hệ thống pháp luật của Philippines cho dù trước đó, hệ thống pháp luật của Tây Ban Nha đã có ảnh hưởng khá sâu sắc với hệ thống pháp luật của nước này. Các luật lệ của người Philippines dần dần bị bãi bỏ, pháp luật của Tây Ban Nha đối với vùng lãnh thổ này cùng với các tập quán ở đây cũng bị thay thế nếu các quy định của nó trái với Hiến pháp Mỹ, các nguyên tắc pháp luật và các thể chế của Mỹ. Hàng loạt các đạo luật về tổ chức nhà nước được ban hành... Sự kiểm soát của Mỹ đối với Philippines đã làm cho hệ thống pháp luật của nước này chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Mỹ. Những nhân tố cơ bản của dòng họ Common law đã từng bước được tiếp nhận vào hệ thống pháp luật Philipines. Việc áp dụng án lệ, vai trò của Hiến pháp Philippínes có những điểm rất tương đồng với hệ thống pháp luật Mỹ ngoài những đặc tính của hệ thống pháp luật Tây Ban Nha đã được tiếp nhận nước này trong suốt gần 400 năm trước đó năm dưới sự cai trị của người Tây Ban Nha.

3. Dòng họ pháp luật xã hội chủ nghĩa các nước ASEAN

Dòng họ pháp luật XHCN cũng hiện diện trong các nước ASEAN ngay sau Đại chiến thế giới lần thứ II. Ngoài Việt Nam và Lào, hai hệ thống pháp luật khác là Myanmar và Indonesia cũng đã có những nhân tố nhất định của dòng họ pháp luật XHCN trong lịch sử phát triển của mình.

Việt Nam được xem là đại diện điển hình của hệ thống pháp luật XHCN đã và đang tồn tại ở Đông Nam Á. Sau khi giành được độc lập từ năm 1945 và đặc biệt là sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Việt Nam đã bắt đầu xây dựng mô hình hệ thống pháp luật XHCN ở miền Bắc với việc học tập mô hình pháp luật của Liên Xô và các nước XHCN ở giai đoạn này, "cùng với sự kế thừa pháp luật thời chiến của giai đoạn trước với một vài nhân tố chịu ảnh hưởng của Pháp, tư tưởng pháp luật XHCN và mô hình pháp luật XHCN từng bước được áp dụng trong công cuộc xây dựng chú nghĩa xã hội ở miền Bắc ".(10) Quan điểm xây dựng hệ thống pháp luật XHCN tiếp tục được thực hiện sau khi hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ.

Hệ thống pháp luật của Lào có rất nhiều điểm tương đồng với hệ thống pháp luật Việt Nam. Đặc biệt từ năm 1975, sau khi chế độ dân chủ nhân dân được xây dựng thay thế cho chế độ quân chủ trước đó, hệ thống pháp luật của Lào được xây dựng theo mô hình pháp luật của Liên Xô và của Việt Nam. Cuối những năm 80 và đầu 90 của thế kỉ trước Nhà nước Lào đã thực hiện chính sách cải cách trong đó có cải cách hệ thống pháp luật. Tuy vậy, những nhân tố cơ bản của hệ thống pháp luật XHCN vẫn được duy trì trong hệ thống pháp luật của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Những cải cách pháp luật của Lào trong giai đoạn vừa qua cũng được thực hiện trên cơ sở kinh nghiệm cải cách pháp luật của Việt Nam.

Trong lịch sử phát triển của Myanmar, sau khi giành được độc lập kể từ năm 1948, thời kì từ năm 1962 đến năm 1988, các nhà lãnh đạo Myanmar chủ trương xây dựng mô hình XHCN cho quốc gia này. Mặc dù không giống hoàn toàn với các hệ thống pháp luật XHCN khác nhưng nhiều chính sách của chính phủ mà đứng đầu là Tướng Ne Win đã được thực hiện theo mô hình pháp luật XHCN. Theo đó, Tướng Ne Win đã tạo ra hệ thống chính trị được gọi là "Con đường lên chủ nghĩa xã hội của Burma", nhà nước pháp quyền mới được xây dựng theo hệ tư tưởng XHCN.(11) Dưới sự lãnh đạo của Đảng Chương trình XHCN Bunna, hệ thống thương mại và công nghiệp của Burma đã được quốc hữu hoá Điều này đã được thể hiện trong quá trình phát triển của hệ thống pháp luật nước này. Từ năm 1962  - 1974 đã có 182 đạo luật được ban hành. “Trong thời kì này, các đạo luật không phù hợp với chế độ XHCN đã bị bãi bỏ và các đạo luật góp phần cho định hướng của chế độ đã được ban hành”.(12) Đáng chú ý là Luật phòng chống sự vi phạm việc thiết lập hệ thống kinh tế XHCN năm 1964  và Luật trao quyền thành lập hệ thống kinh tế XHCN năm 1965. Trong Lời nói đầu và Điều 1 Hiến pháp năm 1974 của Myanmar khẳng định rõ Myanmar là nhà nước XHCN và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Chương trình XHCN Myanmar. Indonesia dưới thời kì lãnh đạo của Sukamo ( 1957 - 1965) cũng tiếp nhận những quan điểm nhất định của hệ thống pháp luật XHCN. Đặc biệt, Tống thống Sukamo sau cuộc viếng thăm Trung Quốc tháng 10/1956 đã tuyên bố khái niệm về chính quyền mới.(13) Theo đó, chính quyền của ông là sự kết hợp của ba nhân tố: chủ nghĩa dân tộc, tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản. Đảng cộng sản Indonesia, Đảng dân tộc Indonesia đã ủng hộ mạnh mẽ quan niệm này. Mặc dù, Đảng chính trị Hồi giáo phản đối nhưng với sự hỗ trợ của lực lượng quân đội, ông đã từng bước xây dựng chính quyền của mình. Cùng với việc xây dựng chính quyền theo quan điểm của mình, Tổng thống Sukamo với sự ủng hộ của Đảng cộng sản đã thực hiện nhiều chính sách pháp luật XHCN ở Indonesia trong thời kì này. Chính quyền và chính sách pháp luật của Sukamo chấm dứt cùng với việc lên nắm quyền của Tổng thống Suharto từ năm 1967.

4. Luật Hồi giáo các nước ASEAN

Đa số các học giả hiện đại cho rằng đạo Hồi xuất hiện ở khu vực Đông Nam Á từ khoảng cuối thế kỉ XII đầu thế kỉ XIV.(14) Những quốc gia có nhiều cư dân Hồi giáo là Indonesia Malaysia, Philippines, Brunei, Singapore và Thái Lan. Sự xuất hiện của đạo Hồi đã có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển pháp luật của các quốc gia trong khu vực này. Các hệ thống pháp luật của các nước ASEAN chịu ảnh hưởng của Luật Hồi giáo bao gồm: Malaysia, Indonesia, Brunei, Thái Lan, Philippines. Ở các quốc gia này, cộng đồng Hồi giáo có hệ thống luật lệ riêng, “hầu hết các hệ thống pháp luật, thậm chí, Thái Lan, Philippines, Singapore - những nước không có đa số người Hồi giáo, vẫn coi luật Hồi giáo như là hệ thống pháp luật tách biệt".(15) Nhiều quốc gia đã thành lập các toà án Hồi giáo riêng biệt để xét xử các tranh chấp của các tín đồ Hồi giáo như Malaysia, Indonesia, Brunei đối với các lĩnh vực được luật Hồi giáo quy định. Trong khi đó ở Thái Lan, các vụ việc có liên quan đến tín đồ Hồi giáo thường được xét xử bởi các thẩm phán thường cùng với một thẩm phán Hồi giáo (Datoh Yutithum).(16)

Những điểm khái quát nêu trên cho thấy tính đa dạng của pháp luật ở các nước ASEAN. Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia đều chứa đựng những yếu tố pháp luật của ít nhất hai dòng họ pháp luật khác nhau. Những điểm khái quát ở trên cũng cho thấy sự hiện diện của các dòng họ pháp luật cơ bản trên thế giới trong pháp luật của 10 nước khu vực Đông Nam Á là thành viên của ASEAN. Sự đa dạng pháp luật này cũng sẽ là một thách thức khá lớn đối với các luật gia khi các quốc gia này tiến tới một Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á./.

 

(1) xem: Andrew Harding, Global doctrine and local knowlegdge: Law in South East Asia, Intemational and Comparative Law ọuarterly Vol 1 5 (2002), p. 44.

(2).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình lich sử nhà nước và pháp luật Viềt Nam, Nxb. CAND,

Hà Nội, 2008, tr. 398.

(3).Xem: http://www.llrx.com/features/1ndonesia.htm ngày 1/1 l/2009.

(4).Xem: Abdul Aziz Bari, British wéstminster Systen in Asia - The Malaysia Variation, Us-chinese Law Review, Vol 4. Nol. p. 4.

(5). Chính quyền thuộc địa của Anh ở ân Độ đối với toàn bộ vùng Bengan.

(6).Xem: Wendy Chang Mun Linh, Law of Singapore, www. aseanlawassociation.org!papers/sing_ chpl.pdf.

(7).Xem: Section 2, Chapter 2, Apptication of laws  Act ofBrunei Darussalam. .

(8).Xem: Tun Myint, Evolution of law and legal concept in Burma: Chanlenges at the Transition, Legal issues 0n Burma Jounal, Vol. 20, April 2005, p. 20 ..

(9).Xem: John Southalan, Burma and the Common Law? An unconlmon question, Legal Issues on Burma. Joumal, December 2006 (No.25), p. 14 - 24 .. ..

(10) Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển bền vững, Nxb. CAND, Hà Nội, 2009, tr. 53.

(11) Xem: Tun Myint, Evolution oflaw and Legal Concept in Burma: Chaltenges at the Transition. Legal Issues on Burma Joumal, No. 20 - April 2005, p. 27.

(12).Xem: Burma Lawyers Council. Brief Survey of Development of Laws in Burma, Legal issues on Burma Jounal, Vol. 20, April 2005, tr. 1 1

(13).Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Guided_ Democracy_(1957-1965) ngày 11/11/2009

(14).Xem: Wu Min Aun, The Malaysian Legal System, Pearson Longman, 2007, p. 177.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi