Tài liệu tập huấn công tác khiếu tố năm 2011

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

TÀI LIỆU TẬP HUẤN CÔNG TÁC KHIẾU TỐ NĂM 2011

Phần một

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC TIẾP DÂN, TIẾP NHẬN PHÂN LOẠI XỬ LÝ

ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT ĐƠN

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ TƯ PHÁP

 

Mục một

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CÁC CẤP

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIẾP CÔNG DÂN

Khiếu nại, tố cáo là một quyền cơ bản của công dân; tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội. Điều đó đã được Hiến pháp quy định.

 Tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo tuy là các công việc độc lập nhưng lại có mối quan hệ khăng khít, mục đích của việc tiếp công dân trước hết là để lắng nghe nguyện vọng và nỗi oan ức, bất công liên quan trực tiếp tới hoạt động của bộ máy công quyền, sau đó giải quyết các khiếu nại, tố cáo phát sinh từ hoạt động của các cơ quan Nhà nước, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đã bị xâm hại hoặc làm rõ những hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức; đồng thời giúp các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi chính sách, pháp luật, từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy Nhà nước ta.

Đối với Viện kiểm sát, công tác tiếp công dân cũng không ngoài mục đích trên, do vậy công tác này được xác định là một trong những công tác trọng tâm của ngành, là nhiệm vụ thường xuyên để tập trung chỉ đạo. Thông qua tiếp công dân, Viện kiểm sát các cấp đã góp phần vào việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ngày càng đảm bảo chất lượng và hiệu quả, nhiều việc khiếu nại, tố cáo được giải quyết ngày càng tăng, chất lượng ngày càng được nâng cao; đồng thời góp phần vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát đã được pháp luật quy định, ổn định tình hình an ninh chính trị và phục vụ việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Theo pháp luật hiện hành, mọi công dân đều có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ và có quyền tố cáo bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào của cán bộ, công chức. Do Viện kiểm sát vừa có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, vừa có nhiệm vụ quản lý hành chính nên khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát có cả trong lĩnh vực quản lý hành chính và lĩnh vực tư pháp, nó rất da dạng và phức tạp. Đối với các khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thì thẩm quyền giải quyết, trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Viện kiểm sát là rất rộng, từ khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra đến hoạt động xét xử của Tòa án và công tác thi hành án, kể cả các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Trong các thể loại khiếu nại, mỗi loại có đặc thù riêng như, khiếu nại về án dân sự thời hạn giải quyết (kháng nghị) dài và thường liên quan đến tranh chấp về tài sản, án hành chính tuy không nhiều nhưng thời hạn kháng nghị ngắn, bị đơn trong vụ kiện là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính Nhà nước nên có những phức tạp riêng; án hình sự liên quan đến tội phạm và hình phạt và yếu tố nhân thân con người. Đặc biệt đối với các trường hợp khiếu kiện gay gắt, kéo dài do tâm lý được thua, cố chấp hoặc đã được trả lời nhưng việc trả lời không thỏa mãn thì xảy ra tình trạng khiếu nại không có điểm dừng. Đó là vấn đề rất khó khăn trong công tác tiếp công dân mà khi tiếp những công dân khiếu kiện dạng này, đòi hỏi cán bộ tiếp công dân vừa phải có khả năng ứng xử, vừa phải có kiến thức khá toàn diện về các hoạt động tư pháp để xử lý. Tuy nhiên, nếu đánh giá khách quan thì hiện tượng khiếu kiện gay gắt chủ yếu thuộc những trường hợp khiếu kiện kéo dài không được giải quyết hoặc đã giải quyết mà công dân không nhất trí, hay nói cách khác, nguyên nhân khiếu kiện là nhận thức về nội dung giải quyết giữa người khiếu kiện và người có thẩm quyền giải quyết chưa thống nhất. Qua đó có thể thấy rằng, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát hiện nay còn thiếu một cơ chế đối thoại bình đẳng giữa người giải quyết vụ án có vụ việc bị khiếu nại với người khiếu nại thông qua hoạt động tiếp công dân. Vì vậy, nói đến đổi mới công tác tiếp công dân không nên hiểu là chỉ đổi mới trong phạm vi trách nhiệm của đơn vị khiếu tố mà cần có sự đổi mới tổng thể từ khâu tổ chức, chỉ đạo điều hành đến những hoạt động rất cụ thể, nhất là khâu tiếp công dân của các đơn vị nghiệp vụ có trách nhiệm giải quyết vụ án. Tuy đã có cách nhìn nhận tiến bộ rõ rệt, đánh giá đúng hơn về tầm quan trọng của công tác tiếp công dân, nhưng tư duy, nhận thức của một bộ phận cán bộ có nơi có lúc còn hạn chế. Vì lý do đó, công tác tiếp công dân hiện nay không chỉ cần dựa vào kinh nghiệm mà còn đòi hỏi phải có trách nhiệm, trình độ nghiệp vụ vững vàng và phải luôn hướng tới sự đổi mới để ngày càng tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất của công tác này.

II. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ CỦA NGÀNH VÊ TIẾP CÔNG DÂN

1. Các quy định của pháp luật

Các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định trong nhiều văn bản, từ Hiến pháp đến các Bộ luật, Luật, Pháp lệnh.

Căn cứ vào Hiến pháp, hàng loạt văn bản Luật, Pháp lệnh cũng đã được ban hành, trong đó có quy định về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981; Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo năm 1991; Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; Luật Khiếu nại, tố cáo sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005.

Căn cứ quy định của pháp luật, Chính phủ cũng ban hành nhiều Nghị định để hướng dẫn việc thực hiện. Đặc biệt, đối với công tác tiếp công dân, ngày 7/8/1997 Chính phủ có Nghị định số 89/CP ban hành kèm theo Quy chế tổ chức tiếp công dân (sau đây gọi tắt là Quy chế số 89). Theo đó, việc tiếp công dân nhằm mục đích:

- Tiếp nhận các thông tin, kiến nghị, phản ánh góp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, công tác quản lý của cơ quan, đơn vị.

- Tiếp nhận khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình để xem xét ra quyết định, kết luận giải quyết hoặc trả lời cho công dân biết theo đúng thời hạn quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

Hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng chính sách, pháp luật, đúng cơ quan có thẩm quyền để xem xét giải quyết.

Quy chế số 89 cũng quy định về việc tổ chức tiếp công dân, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ tiếp công dân, quyền và nghĩa vụ của công dân khi đến nơi tiếp công dân, mối quan hệ giữa tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đây có thể được xem là văn bản quy định đầy đủ nhất và chi tiết nhất về công tác tiếp công dân.

Có thể nói, việc từng bước hoàn thiện các chế định về khiếu nại, tố cáo và công tác tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo là cả một quá trình tổng kết, đúc rút thực tiễn lâu dài, một sự cố gắng của Đảng và Nhà nước ta. Với việc tăng cường quản lý Nhà nước về công tác tiếp công dân đã thể hiện rõ bản chất của nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; đồng thời cũng thể hiện sự quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền theo định hướng XHCN của chúng ta.

2. Đối với ngành Kiểm sát

Để thực hiện tốt việc tiếp công dân theo quy định của pháp luật, Viện trưởng VKSNDTC đã ban hành một số quy chế, trong đó có quy định về công tác tiếp công dân như: Quy chế số 03/KS-QC, Quy chế số 12/QĐ-V7 ngày 20/3/2000, Quy chế số 57/2003/QĐ-VKSTC-KT ngày 9/5/2003, Quy chế số 59/2006-QĐ-VKSTC-V7 ngày 6/2/2006. Ngoài ra, ngày 8/11/2000, Viện trưởng VKSNDTC có Quyết định số 66 ban hành nội quy tiếp công dân của VKSND, theo đó, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của công dân đến khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm của cán bộ, Kiểm sát viên khi tiếp công dân.

Có thể nói, với việc ban hành kịp thời các quy chế đã giúp việc tiếp công dân của Viện kiểm sát các cấp đã đi vào hoạt động thống nhất và có hiệu quả hơn, Viện kiểm sát các cấp đã phối hợp với các cơ quan hữu quan giải quyết được nhiều khiếu kiện (điểm nóng) phức tạp phát sinh, điển hình là vụ khiếu kiện của nông dân ở Thái Bình, Nam Định.

Qua đó cho thấy, cùng với việc phát triển đi lên của đất nước, Nhà nước từng bước bổ sung, hoàn thiện các quy định về công tác tiếp công dân, xác định công tác tiếp công dân là trách nhiệm cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội khác của mỗi cơ quan trong hệ thống các cơ quan Đảng, Nhà nước. Ngành Kiểm sát, mặc dù chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát có sự đổi thay trong từng thời kỳ, song công tác tiếp công dân vẫn là nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm của mọi cán bộ, Kiểm sát viên. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Viện trưởng VKSNDTC đã kịp thời ban hành những Quy chế để toàn ngành thống nhất thực hiện. Hiện tại, Quy chế số 59 đang là văn bản có hiệu lực thi hành trọng ngành Kiểm sát.

3. Một số vấn đề cơ bản trong tiếp công dân của Viện kiểm sát

3.1 . Tổ chức tiếp công dân

Tổ chức tiếp công dân là hoạt động của Viện kiểm sát trong việc đón tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ảnh tại trụ sở Viện kiểm sát. Trách nhiệm đầu tiên của nhiệm vụ này thuộc về Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp tiếp đó là trách nhiệm của các cán bộ, Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ thực hiện công tác này. Việc tổ chức tiếp công dân bao gồm nhiều nội dung, trong đó trước hết là việc chuẩn bị cơ sở vật chất như bố trí phòng tiếp công dân, biển báo lịch, nội quy tiếp công dân, sổ sách ghi chép.v.v... Đồng thời phải bố trí cán bộ có năng lực, trình độ để thực hiện việc tiếp công dân. Theo Quy chế số 59, khi tiếp công dân, người tiếp công dân phải mặc trang phục có phù hiệu của ngành Kiểm sát, đeo thẻ công chức và phải có thái độ đúng mực, tôn trọng công dân, không được hứa hẹn hoặc thông báo cho công dân nội dung hoặc kết quả giải quyết khi việc giải quyết chưa được kết luận bằng văn bản.

3.2. Thời gian tiếp công dân

Theo Quy chế số 59, thời gian tiếp công dân của Viện kiểm sát các cấp được thực hiện 24/24 giờ các ngày trong tuần. Tuy vậy, do việc tiếp công dân ngoài nhiệm vụ lắng nghe công dân đến trình bày những nội dung khiếu nại, tố cáo thì còn phải gắn với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát, nên thời gian tiếp công dân được quy định cụ thể: Trong giờ hành chính, Viện kiểm sát các cấp tiếp tất cả mọi trường hợp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ảnh hoặc tố giác, tin báo về tội phạm, còn ngoài giờ hành chính chỉ tiếp công dân, cơ quan, tổ chức đến tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, tiếp người phạm tội đến tự thú, đầu thú.

3.3. Trách nhiệm tiếp công dân của đơn vị khiếu tố

Theo Quy chế số 59 thì đơn vị khiếu tố có trách nhiệm tiếp công dân ban đầu, nhiệm vụ chính là lắng nghe công dân trình bày, tiếp nhận đơn thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc thuộc trách nhiệm kiểm sát, giải thích cho công dân khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền đối với những khiếu nại không thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát. Để thực hiện nhiệm vụ này, cán bộ tiếp dân phải thực hiện một loạt thao tác thể hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức xã hội, nghệ thuật ứng xử... như: Kiểm tra giấy tờ tuỳ thân để xác định chủ thể khiếu nại, tố cáo, nghe công dân trình bày, nghiên cứu nội dung đơn để xác định thẩm quyền giải quyết... . Đây là các thao tác quan trọng vì việc tiếp công dân của Viện kiểm sát phải gắn liền và nhằm phục vụ cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như thực hiện chức năng của ngành. Do vậy, ngay ban đầu cán bộ tiếp dân phải xác định được nội dung đơn, thẩm quyền giải quyết thì mới quyết định có tiếp nhận đơn hay không hoặc yêu cầu công dân bổ sung những tài liệu gì. Nếu các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát thì cán bộ tiếp dân thông báo cho đơn vị nghiệp vụ liên quan cử cán bộ tiếp công dân; còn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát thì cán bộ tiếp dân có trách nhiệm hướng dẫn công dân khiếu nại đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Riêng đối với các tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát thì cán bộ tiếp công dân vẫn phải làm thủ tục tiếp nhận đơn để xử lý chuyển cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

Việc giải thích, hướng dẫn công dân được xác định là một nhiệm vụ trong công tác tiếp công dân, cán bộ tiếp công dân phải sử dụng vốn kiến thức hiểu biết, kinh nghiệm trong công tác kiểm sát để tuyên truyền chính sách, pháp luật, hướng dẫn công dân khiếu nại đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi trình độ dân trí đã được nâng cao, hệ thống các văn bản pháp luật luôn được sửa đổi, bổ sung thì đòi hỏi cán bộ tiếp công dân phải không ngừng nâng cao trình độ, thường xuyên tìm hiểu pháp luật mới đáp ứng được yêu cầu công tác.

3.4. Trách nhiệm tiếp công dân của các đơn vị nghiệp vụ

Các đơn vị nghiệp vụ tiếp công dân trong những trường hợp sau:

Thứ nhất, sau khi đơn vị khiếu tố tiếp công dân ban đầu thấy việc khiếu nại, tố cáo đó thuộc trách nhiệm của đơn vị nghiệp vụ nào thì thông báo tới đơn vị nghiệp vụ đó. Sau khi nhận được thông báo của đơn vị khiếu tố, đơn vị nghiệp vụ phải khẩn trương cử cán bộ để tiếp công dân, trong trường hợp chưa tiếp được ngay thì cũng phải thông báo lại cho đơn vị khiếu tố để trả lời cho công dân biết lý do.

Thứ hai, trong quá trình xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo, các đơn vị nghiệp vụ chủ động mời công dân đến để hỏi, làm rõ thêm những nội dung cần thiết cho việc kết luận.

Thứ ba, các đơn vị nghiệp vụ cùng đơn vị khiếu tố tham gia tiếp dân của Lãnh đạo Viện.

3.5. Trách nhiệm tiếp công dân của lãnh đạo Viện

Theo quy định của pháp luật và của ngành thì Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp phải trực tiếp tiếp công dân, song căn cứ vào đặc điểm, tình hình của Viện kiểm sát từng cấp và thực tiễn công tác, Viện trưởng VKSNDTC quy định, hàng tháng lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp công dân ít nhất 1 ngày, lãnh đạo VKSND cấp tỉnh tiếp ít nhất 2 ngày, lãnh đạo VKSND cấp huyện tiếp ít nhất 3 ngày. Để việc tiếp công dân thiết thực, gắn việc tiếp công dân với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Viện trưởng VKSNDTC quy định là lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm tiếp công dân định kỳ. Như vậy, các Phó Viện trưởng cũng có trách nhiệm tiếp công dân khi những khiếu nại, tố cáo đó liên quan trực tiếp đến khâu công tác được Viện trưởng phân công phụ trách.

Tuy nhiên, để việc tiếp công dân không mang tính hình thức và có hiệu quả việc tiếp dân của lãnh đạo Viện cũng có những điều kiện cụ thể như, chỉ tiếp khi công dân có yêu cầu hoặc việc khiếu nại, tố cáo đã được các đơn vị nghiệp vụ giải quyết nhưng công dân còn khiếu nại. Quy chế số 59 cũng quy định quy trình, thủ tục việc tiếp dân của lãnh đạo Viện.

3.6. Việc phối hợp giữa các đơn vị trong tiếp công dân

Như trên đã nêu, mục đích của việc tiếp công dân là để tiếp nhận các thông tin, kiến nghị, phản ánh góp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của ngành và công tác quản lý của cơ quan, đơn vị ... ; tiếp nhận khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình để xem xét ra quyết định, kết luận giải quyết hoặc trả lời cho công dân biết theo đúng thời hạn quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng chính sách, pháp luật, đúng cơ quan có thẩm quyền để xem xét giải quyết; tiếp nhận các tố giác, tin báo về tội phạm để chuyển đến Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền.

Việc tiếp công dân của Viện kiểm sát là trách nhiệm của mọi cán bộ từ Viện trưởng đến cán bộ, Kiểm sát viên. Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ chung của ngành, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã phân công đơn vị khiếu tố đảm nhận việc thường trực tiếp công dân, các đơn vị nghiệp vụ khác tiếp trong trường hợp công dân đến khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị mình. Mặc dù đã có sự phân công, nhưng sự phối hợp giữa đơn vị khiếu tố và các đơn vị nghiệp vụ là thường xuyên và hết sức cần thiết. Theo Quy chế số 59 thì sau khi đơn vị khiếu tố tiếp công dân, kiểm tra thấy việc khiếu nại, tố cáo có đủ điều kiện thụ lý thì thông báo cho các đơn vị nghiệp vụ liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo cử cán bộ để tiếp công dân, còn đơn vị nghiệp vụ sau khi tiếp nhận thông tin do đơn vị khiếu tố thông báo thì cử cán bộ tiếp công dân. Trong trường hợp đơn vị nghiệp vụ chưa cử được cán bộ tiếp thì cũng phải thông báo lại cho đơn vị khiếu tố biết để trả lời công dân. Việc phối hợp này sẽ hạn chế tối đa việc gây phiền hà, bức xúc cho công dân, đồng thời giúp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo sẽ có hiệu quả hơn.

4) Quy trình chung về tiếp công dân

Việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ảnh là một công việc phức tạp, quá trình này một mặt đòi hỏi phải tuân thủ một cách chặt chẽ các quy định của pháp luật, mặt khác lại luôn đặt ra yêu cầu sáng tạo, linh hoạt về phương pháp, nghiệp vụ. Về mặt pháp lý, Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng chỉ quy định những nguyên tắc, yêu cầu chung nhất đối với việc tiếp công dân mà không đưa ra một trình tự thủ tục chi tiết về hoạt động này. Do đó, nhìn chung không có một khuôn mẫu cứng nhắc và cố định cho mọi trường hợp, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng cụ thể mà cán bộ tiếp công dân có cách tiếp công dân thích hợp. Song, việc tiếp công dân đó phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc và đạt được mục đích mà pháp luật đề ra. Chính vì vậy, để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình, cán bộ tiếp công dân phải thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức tương đối sâu sắc và toàn diện về nhiều lĩnh vực từ chính sách pháp luật, công tác quản lý cho đến văn hoá ứng xử, nghệ thuật giao tiếp và đôi lúc phải có tính chịu đựng…

Như vậy có thể khẳng định, trong thực tế, phương pháp, cách thức tiếp công dân là hết sức đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định của pháp luật có thể thấy quy trình tiếp công dân chung bao gồm các bước cơ bản sau:

Giai đoạn tiếp xúc ban đầu: giai đoạn này có 2 vấn đề mà cán bộ tiếp công dân cần chú ý thực hiện là:

Thứ nhất, cán bộ tiếp dân phải có tác phong, thái độ, cử chỉ, lời nói lịch sự, nhã nhặn, bình tĩnh, khiêm tốn, đúng mực thể hiện sự nghiêm túc ngay từ khi tiếp xúc ban đầu với công dân cũng như trong suốt quá trình tiếp, mặt khác cũng phải thể hiện thái độ gần dân, thông cảm và biết lắng nghe ý kiến của dân.

Thứ hai, yêu cầu công dân xuất trình giấy tờ tuỳ thân và tiến hành các thủ tục kiểm tra, đối chiếu các giấy tờ đó cũng như ghi chép vào sổ tiếp công dân các thông tin cơ bản về nhân thân của công dân.

Giai đoạn tiếp theo, cán bộ tiếp công dân phải thực hiện một số việc sau:

- Phổ biến quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo.

- Lắng nghe, ghi chép đầy đủ nội dung trình bày của người đến khiếu nại, tố cáo. Trong trường hợp có nhiều người đến khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung thì cán bộ tiếp công dân yêu cầu họ cử đại diện để trình bày.

- Yêu cầu công dân cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo (nếu có).

- Tiếp nhận đơn cũng như các tài liệu để nghiên cứu phân loại, xử lý việc khiếu nại, tố cáo đó theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp công dân không có đơn thì yêu cầu họ viết đơn. Nếu công dân không tự viết được đơn thì lập biên bản ghi nội dung khiếu nại, tố cáo và yêu cầu công dân ký tên xác nhận hoặc điểm chỉ.

Để giúp cho công tác tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp được đầy đủ chính xác, điểm quan trọng đầu tiên là cán bộ tiếp công dân phải nắm bắt được các tiêu chí cơ bản phản ảnh đặc điểm của việc khiếu nại, tố cáo để từ đó làm cơ sở cho việc xử lý đơn khiếu nại, tố cáo như: Họ tên, địa chỉ của công dân được tiếp, họ là người khiếu nại, tố cáo hay là người được uỷ quyền, yêu cầu nguyện vọng của họ là gì? Tiếp đó phải nắm nội dung, diễn biến sự việc và lý do dẫn đến khiếu nại, tố cáo và cơ quan đã giải quyết (nếu có) để xác định thẩm quyền giải quyết của cơ quan nào. Việc nắm bắt các tiêu chí cơ bản nêu trên là rất cần thiết để cán bộ tiếp công dân đưa ra các lý lẽ và cách thức giải thích, hướng dẫn, trả lời công dân hoặc tiếp nhận đơn được chính xác.

Giai đoạn kết thúc: Ở giai đoạn này, cán bộ tiếp công dân cần quan tâm làm tốt một số việc sau:

- Kiểm tra lại đơn, các tài liệu đã nhận do công dân cưng cấp.

- Đọc biên bản làm việc hoặc biên bản ghi lời khai (nếu có) và yêu cầu người khiếu nại, tố cáo ký tên xác nhận.

- Ghi chép đầy đủ các ý kiến bổ sung của công dân vào sổ tiếp công dân.

III. THỰC TRANG TỔ CHỨC TIẾP CÔNG DÂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT

1. Về tổ chức bộ máy làm công tác khiếu tố và cơ sở vật chất

1.1. Về bộ má.y, tổ chức cán bộ

+ Đối với Việc kiểm sát nhân dân tối cao

Theo Nghị quyết số 356 ngày 25/2/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc phê chuẩn bộ máy làm việc của VKSNDTC thì, Vụ Khiếu tố là đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ngày 26/4/2010, Viện trưởng VKSNDTC có Quyết định số 967 ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Vụ Khiếu tố, theo đó bộ máy của Vụ Khiếu tố có 3 phòng: Phòng Tiếp công dân và quản lý đơn khiếu nại, tố cáo; Phòng Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo về tư pháp và chỉ đạo địa phương; Phòng Tham mưu tổng hợp.

+Viện kiểm sát cấp tỉnh

Theo số liệu thống kê, đến nay đã có 56/63 VKSND tỉnh, thành phố đã thành lập phòng Khiếu tố, 7 VKSND tỉnh, thành đơn vị khiếu tố đang xen ghép với đơn vị tổ chức cán bộ 100% Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố đều có cán bộ, Kiểm sát viên chuyên trách làm công tác khiếu tố. Số cán bộ được phân công làm công tác khiếu tố có 187 đồng chí, trong đó có 108 Kiểm sát viên, 47 Kiểm tra viên, 32 chuyên viên.

+ VKSND cấp huyện

Theo báo cáo của VKSND các tỉnh, thành, 100% VKSND cấp huyện đều bố trí ít nhất 1 cán bộ làm công tác khiếu tố. Tuy vậy, đa số cán bộ làm công tác khiếu tố còn phải kiêm nhiệm công việc khác. Tổng số cán bộ làm công tác khiếu tố của VKSND cấp huyện là 693 đồng chí, trong đó có 441 Kiểm sát viên, 252 chuyên viên. Về cơ sở vật chất, do điều kiện nên hầu hết các VKSND cấp huyện phòng tiếp công dân còn chung với phòng làm việc. Với một tổ chức bộ máy thống nhất từ Trưng ương xuống địa phương và đội ngũ cán bộ gần 100% có trình độ Cử nhân Luật, có chức danh pháp lý, đây là một điều kiện rất thuật lợi cho Viện kiểm sát trong việc tổ chức thực hiện công tác tiếp công dân.

1.2 . Về cơ sở vật chất

Về cơ bản, VKSND các cấp đều đã bố trí được phòng để tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, do điều kiện trụ sở còn chật hẹp, nhiều VKSND tỉnh nơi tiếp công dân còn bố trí với phòng làm việc của cán bộ phòng Khiếu tố. Do vậy khi công dân đến khiếu nại thuộc trách nhiệm giải quyết của các đơn vị nghiệp vụ thì thường gặp khó khăn về chỗ tiếp.

Đối với các điều kiện khác để phục vụ tốt việc tiếp dân theo Quy chế số 59 thì hầu hết chưa được trang bị như máy ghi âm, máy ảnh VV...

1.3. Về bố trí cán bộ thường trực tiếp công dân

Tại VKSNDTC và VKSND cấp tỉnh cơ bản đã có cán bộ chuyên trách thường trực tiếp dân trong giờ hành chính. Riêng VKSND cấp huyện, do biên chế có hạn nên hầu hết không bố trí cán bộ chuyên trách, tuy vậy việc tiếp công dân vẫn được thực hiện khi có công dân đến khiếu nại, tố cáo.

2. Kết quả tiếp công dân

Hàng năm, Viện kiểm sát các cấp phải tiếp một số lượng lớn công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ảnh. Cụ thể:

Năm 2007, tiếp 22.393 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo (VKSNDTC: 6662 lượt), trong đó Lãnh đạo Viện tiếp 3260 lượt;

Năm 2008, tiếp 23325 lượt (VKSNDTC: 5045 lượt), trong đó lãnh đạo Viện tiếp 1812 lượt;

Năm 2009, tiếp 23.456 lượt, trong đó lãnh đạo Viện tiếp 2088 lượt. (VKSNDTC tiếp 4140 lượt) ;

Năm 2010, tiếp 26.359 lượt, trong đó lãnh đạo tiếp 1902 lượt (VKSNDTC tiếp 3.538 lưu).

Đối với VKSND các địa phương, trong những năm qua, tình trạng khiếu kiện đông người gần như không có, song vẫn còn một số lượng lớn số công dân đến khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực hành chính không thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát. Riêng VKSNDTC, khiếu nại, tố cáo vẫn còn xảy ra, nhiều trường hợp công dân khiếu nại đã được các đơn vị nghiệp vụ xem xét trả lời, một số trường hợp lãnh đạo VKSNDTC tiếp và trả lời cuối cùng nhưng vẫn tiếp khiếu; tình trạng khiếu nại đông người tuy có giảm song vẫn còn như vụ 12 công dân ở Tiền Giang khiếu nại 12 vụ án dân sự, vụ hơn 100 công dân ở huyện Văn Giang, Hưng Yên khiếu nại về việc 2 cán bộ thôn bị Công an huyện Văn Giang bắt tạm giam, vụ 100 thương binh ở Ba Đình, Hà Nội khiếu nại việc phê chuẩn lệnh tạm giam của VKSNDTC đối với Chủ nhiệm HTX Dân chủ ở Ba Đình, Hà Nội.

Thông qua công tác tiếp công dân trong những năm gần đây thấy, các khiếu nại, tố cáo tập trung vào một số lĩnh vực sau:

Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực hành chính chủ yếu về tranh chấp đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, tố cáo cán bộ chính quyền địa phương vi phạm, tham nhũng trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp phần lớn là khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, khiếu nại việc chậm đưa ra thi hành bản án dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, đơn đề nghị VKSND xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

3. Một số đánh giá về công tác tiếp công dân

3.1. Ưu điểm

- Các năm qua, Viện kiểm sát các cấp đã quan tâm đến công tác khiếu tố, hầu hết các Viện kiểm sát đã bố trí được phòng tiếp công dân riêng, thuận tiện, có nội quy tiếp công dân, công khai lịch tiếp công dân của cán bộ và lãnh đạo Viện, tại nơi tiếp dân đều có hòm thư tố giác, tin báo về tội phạm... từng bước đảm bảo những điều kiện cơ bản nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác tiếp công dân, thể hiện sự tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.

- VKSND cấp tỉnh, thành và VKSNDTC đều đã bố trí cán bộ chuyên trách tiếp công dân, VKSND cấp huyện dù chưa bố trí được cán bộ chuyên trách thường trực tiếp dân nhưng khi công dân đến khiếu nại, tố cáo cũng đều cử cán bộ tiếp, đảm bảo mọi công dân đến khiếu nại, tố cáo tại Viện kiểm sát đều được.tiếp chu đáo, Tất cả cán bộ tiếp công dân của Viện kiểm sát các cấp trong những năm qua đều hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, không có đồng chí nào vi phạm nội quy tiếp công dân hoặc bị công dân tố cáo hoặc phản ảnh về thái độ không đúng.

- Việc tiếp công dân đã được ghi chép vào sổ sách phục vụ tốt nhất cho việc quản lý.

Nhìn chung, toàn ngành Kiểm sát đã thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế số 59/2006-QĐ-VKSTC-V7 ngày 6/2/2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác tiếp công dân. Tuy nhiên, tại trụ sở tiếp công dân của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, do số lượng công dân đến khiếu nại, tố cáo lớn, nội dung khiếu nại, tố cáo thường rất phức tạp, giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao chưa có cơ chế thống nhất phối hợp giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm án hình sự, dân sự, trong khi lượng đơn của công dân gửi đến quá nhiều, các đơn vị nghiệp vụ giải quyết không kịp, chậm trả lời đơn, nhiều trường hợp khiếu nại đã được giải quyết cuối cùng nhưng công dân vẫn chưa đồng tình với kết quả giải quyết nên phần nào đã gây bức xúc cho công dân. Bên cạnh đó, một số công dân lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo, có hành vi quá khích, lăng mạ cán bộ tiếp dân, gào thét gây mất trật tự xung quanh khu vực cơ quan. Vụ Khiếu tố đã phối hợp với Văn phòng, cơ quan Công an giải quyết, nhưng đến nay tình trạng này vẫn xảy ra.

3.2. Tồn tại: Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tiếp công dân vẫn còn một số hạn chế:

- Lãnh đạo một số Viện kiểm sát chưa thực sự quan tâm đầy đủ đến công tác khiếu tố nói chung và công tác tiếp công dân nói riêng, chưa gắn chặt giữa tiếp công dân thường xuyên, tiếp công dân của Lãnh đạo Viện với công tác chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo. Việc tiếp công dân nhiều nơi còn hình thức, kém hiệu quả; không ít đơn vị còn tư tưởng cho rằng việc tiếp công dân là nhiệm vụ của riêng đơn vị khiếu tố.

Công tác tiếp công dân tuy đã có chuyển biến tích cực, song cũng bộc lộ những hạn chế nhất là cơ chế điều hành, thẩm quyền trách nhiệm tiếp công dân, chưa gắn việc tiếp công dân với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cụ thể, sự phối hợp giữa đơn vị khiếu tố và các đơn vị nghiệp vụ chưa được chú trọng nên cán bộ tiếp dân của đơn vị khiếu tố còn lúng túng trong việc giải thích, trả lời cho dân, nhất là những vụ việc phức tạp liên quan đến các đơn vị nghiệp vụ khác.

Mô hình tổ chức khiếu tố của Viện kiểm sát chưa thống nhất, có Viện kiểm sát tỉnh, thành có phòng Khiếu tố độc lập, có nơi đơn vị khiếu tố còn xen ghép với đơn vị tổ chức cán bộ, do đó cũng gây không ít khó khăn cho việc sinh hoạt nghiệp vụ và chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Phòng.

Chất lượng cán bộ làm công tác tiếp công dân còn yếu cả về trình độ và nhận thức pháp luật, thiếu kinh nghiệm; có nơi cử cán bộ không bố trí được công việc khác để làm công tác tiếp công dân; một số cán bộ có biểu hiện thiếu trách nhiệm trong tiếp công dân, thờ ơ không quan tâm đến những bức xúc của công dân dẫn đến công dân thiếu tin tưởng, mất tự chủ và không nghe theo chỉ dẫn giải thích của cán bộ, thậm chí có hành vi, lời nói xúc phạm đến cán bộ tiếp công dân, xúc phạm đến danh dự của ngành, gây rối trật tự công cộng.

Công tác kiểm tra của Viện kiểm sát cấp trên trong công tác tiếp công dân chưa thường xuyên kịp thời, chưa chú trọng công tác hướng dẫn, tập huấn.

3.3. Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại.

Về chủ quan, đó là vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, trách nhiệm của Lãnh đạo một số đơn vị chưa cao, chưa coi công tác tiếp công dân là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm phát huy dân chủ, giải quyết kịp thời các thắc mắc, khiếu kiện của công dân; chưa phối hợp chặt chẽ giữa tiếp công dân với chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh từ hoạt động nghiệp vụ của đơn vị mình.

Trong quá trình xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo ít tổ chức đối thoại; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới, một số vụ việc quan điểm giải quyết giữa Viện kiểm sát cấp trên và cấp dưới còn khác nhau, thậm trí trái ngược nhau làm cho công dân hoang mang, thiếu tin tưởng và gây bức xúc.

Một số cán bộ, Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ tiếp công dân còn biểu hiện ngại khó, ngại va chạm, ngại tiếp xúc đối thoại với người đi khiếu kiện. Việc giải quyết không ít việc thiếu nhất quán, chưa triệt để, không công khai dân chủ, thấy sai không sửa, thiếu tôn trọng công dân.

Công tác tập huấn nghiệp vụ tuy đã được triển khai nhưng chưa thường xuyên, ít tổ chức các cuộc hội thảo hay trao đổi kinh nghiệm trong khi cán bộ làm công tác khiếu tố nói chung và công tác tiếp công dân nói riêng luôn thay đổi

IV. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NĂNG CAO HIỆU QỦA TIẾP CÔNG DÂN

1. Những yêu cầu của cải cách tư pháp

Ngày 02/01/2002 Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 08-NQ/TW “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới". Sau một thời gian thực hiện, công cuộc cải cách tư pháp đã đạt được nhiều kết quả, nhận thức và sự quan tâm đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, chất lượng hoạt động tư pháp đã được nâng lên một bước. Tuy nhiên, những kết quả đó mới chỉ là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất. Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế về chính sách pháp luật về đội ngũ cán bộ tư pháp, về cơ sở vật chất ... trong khi tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng. Các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, các loại khiếu kiện và tranh chấp có yếu tố nước ngoài có chiều hướng tăng về số lượng và phức tạp đa dạng hơn. Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao, các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế XHCN, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm.

Để thực hiện có hiệu quả hơn nữa công cuộc cải cách tư pháp, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị có Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, một trong những nhiệm vụ của cải cách tư pháp mà Nghị quyết nêu ra là hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp. Theo đó, phải xây dựng cơ chế phát huy sức mạnh của nhân dân, cơ quan, các tổ chức quần chúng trong phát hiện? phòng ngừa tham nhũng; bảo vệ người trung thực phát hiện, tố cáo, người điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng... ; từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ Như vậy, nhiệm vụ đặt ra là việc xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật phải theo hướng, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tôn trọng, có trách nhiệm trước các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo.

2. Phương hướng

Việc đổi mới nhằm tăng cường hiệu quả công tác tiếp công dân phải dựa trên quan điểm và đảm bảo nguyên tắc:

Một là, đổi mới công tác tiếp công dân phải theo hướng xây dựng một thể chế hữu hiệu, củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, góp phần giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo của công dân.

Hai là, đổi mới công tác tiếp công dân phải phù hợp với nội dung và bước đi của tiến trình cải cách tư pháp, phù hợp với phương hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước về công tác tiếp công dân, nắm vững và vận dụng đúng, linh hoạt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong công tác tiếp công dân

Bốn là, làm rõ mục đích của công tác tiếp công dân, coi đó vừa là một cơ chế bảo đảm quyền của người dân được tham gia quản lý Nhà nước, tham gia giám sát các hoạt động của bộ máy Nhà nước và công chức Nhà nước, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Năm là, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong công tác tiếp công dân, cụ thể hoá trách nhiệm của cơ quan Viện kiểm sát, của thủ trưởng cơ quan và cán bộ, Kiểm sát viên trong công tác tiếp công dân; đồng thời bảo đảm sự phối hợp thực sự có hiệu quả giữa các đơn vị nghiệp vụ, giữa Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới, giữa Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan tư pháp trong công tác tiếp công dân và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Sáu là, đổi mới phải trên cơ sở tổng kết thực tiễn, bám sát yêu cầu thực tiễn, phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương để có đánh giá nhận xét và nhân rộng.

3. Những nội dung đổi mới

3.1 . Đổi mới về nhận thức

Cần quán triệt những vấn đề có tính nguyên tắc trong nhận thức về công tác tiếp công dân, đồng thời bổ sung những nội dung mới về công tác này theo hướng:

- Công tác tiếp công dân là nội dung trong chương trình kế hoạch công tác là trách nhiệm của Viện kiểm sát. Phải đưa nội dung công tác tiếp công dân vào ngay từ khâu đầu là xây dựng kế hoạch công tác của Viện kiểm sát các cấp. Việc kiểm điểm, đánh giá hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân phải gắn với việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của Viện trưởng trong việc tổ chức thực hiện công tác tiếp công dân.

- Coi công tác tiếp công dân là biện pháp đảm bảo cơ bản quyền dân chủ, là biểu hiện cụ thể bản chất dân chủ của Nhà nước, là kênh thông tin quan trọng để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, giám sát bộ máy Nhà nước, là một khâu quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Phát huy sức mạnh tổng hợp với một loạt các biện pháp, trong đó có quy chế dân chủ cơ sở, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn với công tác tiếp công dân, củng cố xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh và bộ máy Nhà nước có hiệu lực, hiệu quả.

Phải có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác tiếp công dân giữa các cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng để từ đó có những biện pháp thích hợp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác này.

3.2. Đổi mới về thể chế

Giữa công tác tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn khiếu nại, tố cáo với giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền của Viện kiểm sát có mối quan hệ gắn bó với nhau, tiếp công dân để phục vụ tốt nhất cho giải quyết khiếu nại, tố cáo, ngược lại, giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo sẽ làm giảm bớt tình trạng khiếu nại, tố cáo của công dân. Do vậy cần phải quy định rõ trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của các đơn vị nghiệp vụ cũng như trách nhiệm của cán bộ tiếp công dân.

3.3. Đổi mới về phương thức hoạt động

Tiếp công dân theo hướng linh hoạt, hiệu quả, gần dân, giải quyết dứt điểm các vụ việc; phân định rõ các vụ việc để giải quyết, đưa các vụ việc về cơ sở nếu không thuộc thẩm quyền hoặc tạo điều kiện cho công dân đến đúng địa chỉ; lịch tiếp công dân phải công khai.

Tiếp công dân của Lãnh đạo Viện và các đơn vị nghiệp vụ là để giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân, đồng thời cũng là để kiểm tra, nhắc nhở cán bộ được giao nhiệm vụ trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong quá trình tiếp công dân, cán bộ phải lẳng nghe, ghi chép vào sổ đầy đủ nội dung của công dân đến trình bày. Qua tiếp công dân, nếu khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì phải nhận đơn và khẩn trương chuyển đến đơn vị nghiệp vụ xem xét. Khi nhận đơn phải yêu cầu công dân ký xác nhận các tài liệu giấy tờ có liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo do công dân cung cấp và phải viết giấy biên nhận đầy đủ; nếu các khiếu nại, tố cáo đã được lãnh đạo Viện xem xét và có văn bản hoặc quyết định giải quyết cuối cùng thì cần trả lời rõ, yêu cầu công dân chấp hành.

3.4. Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị 1àm việc

Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải bố trí ít nhất 01 phòng riêng biệt để tiếp công dân và các trang thiết bị phục vụ công tác này như bàn ghế, tủ, điện thoại, máy vi tính, máy ảnh, máy ghi âm.v.v...

Nối mạng hệ thống máy tính, tạo điều kiện để công dân theo dõi được đơn thư và quá xử lý, đồng thời giám sát việc giải quyết đơn thư của cơ quan có thẩm quyền.

Tóm lại, công tác tiếp công dân là một nhiệm vụ không mới và được Viện kiểm sát các cấp tổ chức thực hiện từ nhiều năm nay. Đây là nhiệm vụ thường xuyên và rất phức tạp, nó hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành. Trong những năm qua, công tác tiếp công dân của Viện kiểm sát các cấp đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, thông qua tiếp công dân, nhiều vụ, việc khiếu nại, tố cáo bức xúc kéo dài từ nhiều năm nay đã được giải quyết dứt điểm, quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều công dân bị xâm phạm được khôi phục, nhiều vi phạm, tội phạm được phát hiện và xử lý, củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước và hoạt động của các cơ quan tư pháp; đồng thời góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội và củng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Mục hai

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG,

HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,

TỐ CÁO VỀ TƯ PHÁP

 

I. THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIEU NẠI, TỐ CÁO VỀ TƯ PHÁP TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY

Giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp là một trong những dạng hoạt động tố tụng của người và cơ quan tiến hành tố tụng, được thực hiện theo các quy định của pháp luật. Vì vậy, hoạt động giải quyết khiếu nại tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp là đối tượng của công tác kiểm sát của Viện kiểm sát.

1. Những quy định của pháp luật về công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp

* Điều 137 Hiến pháp năm 2002;

* Luật Tổ chức VKSND : Điều 1 ; Điều 4;

* Bộ luật Tố tụng Hình sự: Điều 339;

* Bộ luật Tố tụng Dân sự: Điều 404;

* Luật Tố tụng Hành chính: Điều 262;

* Luật Thi hành án Hình sự: Điều 142;

* Luật Thi hành án Dân sự: Điều 159.

2. Những quy định của pháp luật về quyền và trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp

* Bộ luật Tố tụng Hình sự: Điều 329, 331 , 337 , 338;

* Bộ luật Tố tụng Dân sự: Điều 396 , 401 , 402 , 40;.

* Luật Tố tụng Hành chính: Điều 254, 259, 260; 261;

* Luật Thi hành án Hình sự: Điều 152, 153, 156, 157, 159, 160, 161, 162, 163, 164, 168, 169;

* Luật Đặc xá: Điều 33, 34;

* Luật Thi hành án Dân sự: Điều 145, 146., 148, 149,150, 151, 152, 153, 157, 158.

3. Những văn bản dưới luật cần chú ý trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp

Thông tư liên tịch số 02 ngày 10/8/2005 của VKSNDTC, TANDTC, BCA, BQP, BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật TTHS về khiếu nại, tố cáo.

Thông tư liên tịch số 03 ngày 1/9/2005 của VKSNDTC, TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật TTDS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của VKSND trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.

- Thông báo số 01 ngày 1/2/2008 của TANDTC về Kết luận của Chánh án TANDTC quy định tạm thời về việc phân cấp và trình tự giải quyết đơn khiếu nại tư pháp trong ngành Tòa án nhân dân.

Thông tư số 08 ngày 24/7/2007 của Bộ Công an hướng dẫn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Công an nhân dân.

- Quyết định số 677 ngày 19/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành mẫu biểu sử dụng trong hoạt động thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo của lực lượng Công an nhân dân.

- Quyết định số 59 ngày 6/2/2006 của Viện trưởng VKSNDTC ban hành Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

Quyết định số 561 ngày 30/1/2006 của Viện trưởng VKSNDTC về việc ban hành và sử dụng biểu mẫu trong hoạt động khiếu tố của ngành Kiểm sát nhân dân

4. Thực trạng công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp trong thời gian gần đây

Năm 2006: Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại 170 cơ quan tư pháp các cấp. Cụ thể: Cơ quan điều tra 74 đơn vị, Toà án nhân dân 12 đơn vị, Cơ quan thi hành án dân sự 83 đơn vị và đã kiểm sát 2666 việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Năm 2007: Trực tiếp kiểm sát 224 cơ quan tư pháp các cấp. Cụ thể: Cơ quan điều tra 112 đơn vị, Toà án nhân dân 19 đơn vị, cơ quan thi hành án 92 đờn vị và đã kiểm sát và 3065 việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

năm 2008: Trực tiếp kiểm sát 283 cơ quan tư pháp các cấp. Cụ thể: Cơ quan điều tra 244 đơn vị, Toà án nhân dân 12 đơn vị, Cơ quan thi hành án dân sự 27 đơn vị và đã kiểm sát và 3207 việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Năm 2009: Trực tiếp kiểm sát 353 cơ quan tư pháp các cấp. Cụ thể: Cơ quan điều tra 224 đơn vị, Toà án nhân dân 27 đơn vị, Cơ quan thi hành án dân sự 102 đơn vị và đã kiểm sát và 5752 việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Năm 2010: Trực tiếp kiểm sát 228 cơ quan tư pháp các cấp. Cụ thể: Cơ quan điều tra 128 đơn vị, Toà án nhân dân 28 đơn vị, Cơ quan thi hành án dân sự 72 đơn vị và đã kiểm sát và 2577 việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

4.1. Ưu điểm

Một số đơn vị khi tiến hành kiểm sát trực tiếp đã có sự kết hợp giữa đơn vị khiếu tố với các đơn vị nghiệp vụ khác như kiểm sát điều tra hoặc kiểm sát thi hành án, đồng thời kết hợp linh hoạt giữa nội dung kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp với nội dung kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiểm sát thi hành án. Một số địa phương, đơn vị khiếu tố chủ trì các cuộc kiểm sát trực tiếp, các đơn vị nghiệp vụ chủ động phối hợp thực hiện tập trung kiểm sát về việc áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp, do đó, kết thúc kiểm sát đã phát hiện được một số vi phạm về nội dung cũng như hình thức ban hành văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan được kiểm sát.

Nhiều đơn vị đã vận dụng linh hoạt phương thức kiểm sát gián tiếp thông qua biện pháp yêu cầu cơ quan tư pháp cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các vụ việc cụ thể; thông qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu được cung cấp đã phát hiện nhiều vi phạm của cơ quan được kiểm sát. Có đơn vị chỉ thông qua nghiên cứu đơn khiếu nại kết hợp với tài liệu kèm theo đã phát hiện vi phạm và ra kiến nghị, không cần thiết phải áp dụng các biện pháp yêu cầu cung cấp hồ sơ và trực tiếp kiểm sát. Việc vận dụng linh hoạt như vậy đã giúp cho cơ quan tư pháp có vi phạm đã khắc phục vi phạm kịp thời, không phải trải qua các biện pháp kiểm sát mất nhiều thời gian; hơn nữa, qua kiến nghị của Viện kiểm sát trong một vụ việc cụ thể, cơ quan được kiểm sát cũng có thể nhận thức được ngay vi phạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo để rút kinh nghiệm, thực hiện đúng pháp luật trong các trường hợp giải quyết sau này.

- Hầu hết các Viện kiểm sát đã vận dụng tương đối chính xác các căn cứ pháp luật để nhận xét vi phạm của các đơn vị được kiểm sát, do đó, việc kết luận có tính thuyết phục cao; một số đơn vị trong bản kiến nghị đã đưa ra được những yêu cầu và biện pháp khắc phục; phòng ngừa vi phạm đối với cơ quan được kiểm sát có chất lượng cao. Các kiến nghị, kết luận kiểm sát đều được các cơ quan tư pháp chấp nhận.

- Ngoài thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật, một số VKSND còn tiến hành kiểm tra công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các cơ quan tư pháp theo Chỉ thị 09 của Ban Bí thư. Đây cũng là một hình thức kiểm tra linh hoạt để nắm thông tin vi phạm của các cơ quan tư pháp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

- Một số đơn vị sau kiểm sát trực tiếp đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện kiến nghị đối với các cơ quan tư pháp; đã có kết luận và yêu cầu các đơn vị được kiểm tra tiếp tục thực hiện những kiến nghị của Viện kiểm sát chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ.

4.2. Tồn hại

Trong tố tụng hình sự, các VKSND tiến hành kiểm sát trực tiếp thường không thực hiện đầy đủ các bước được quy định tại Thông tư 02, đó là trước khi ra quyết định kiểm sát phải yêu cầu cơ quan được kiểm sát cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo, qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu phát hiện dấu hiệu vi phạm làm căn cứ kiểm sát. Các VKSND thường ít yêu cầu cung cấp hồ sơ trước khi kiểm sát trực tiếp. Như vậy, trước hết là không đúng quy định, sau đó dẫn đến việc nắm dấu hiệu vi phạm chưa chắc chắn, dẫn đến quá trình kiểm sát mới phát hiện đơn vị được kiểm sát có rất ít đơn, vi phạm không lớn; hoặc có trường hợp đơn vị được kiểm sát đã nộp lưu hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo lên cấp trên, do đó, không có hồ sơ để cung cấp cho Viện kiểm sát.

Một số đơn vị chưa nắm chắc căn cứ pháp luật, dẫn đến nhận xét vi phạm của cơ quan được kiểm sát chưa chính xác (Ví dụ: Vẫn viện dẫn Luật Khiếu nại, tố cáo để nhận xét vi phạm đối với Cơ quan điều tra về thẩm quyền, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự).

- Có đơn vị nhầm lẫn giữa công tác kiểm sát giải quyết đơn với kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm; khi ban hành Quyết định thì ghi là "trực tiếp kiểm sát về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp", nhưng khi kiểm sát trực tiếp lại kiểm sát cả nội dung giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm (trong trường hợp này, trong quyết định kiểm sát nên ghi cả nội dung giải quyết tố giác tin báo tội phạm);

- Có Viện kiểm sát, trong kết luận kiểm sát vẫn nhận xét về công tác tiếp công dân của đơn vị được kiểm sát (đây không thuộc phạm vi kiểm sát)

- Có đơn vị ban hành quyết định kiểm sát đối với Cơ quan Công an hoặc Văn phòng cơ quan CSĐT hoặc Phòng CSĐT là không đúng, theo quy định chỉ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Cơ quan điều tra (gồm CSĐT và ANĐT) .

Một số VKSND nắm tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tư pháp chưa tốt, lựa chọn kiểm sát trực tiếp những đơn vị ít đơn, dẫn đến kết thúc kiểm sát, phát hiện vi phạm không đáng kể, chất lượng cuộc kiểm sát không cao. Kinh nghiệm cho thấy: Thông qua nắm tình hình giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp, đối với những cơ quan tư pháp ít đơn thì không nên kiểm sát trực tiếp, chỉ áp dụng biện pháp yêu cầu cung cấp hồ sơ để kiểm sát gián tiếp theo vụ việc; qua nghiên cứu hồ sơ, phát hiện vi phạm, ra kiến nghị khắc phục vi phạm theo từng vụ việc sẽ có hiệu quả hơn.

- Một số đơn vị ban hành các văn bản về kiểm sát trực tiếp chưa đúng biểu mẫu của ngành và thể thức văn bản, như: Kế hoạch kiểm sát chỉ gửi nội dung nhưng lại gửi cho cả cơ quan được kiểm sát, không có Biên bản làm việc khi thông qua dự thảo kiến nghị; ban hành Kết luận kiểm sát ký với chức danh "KSV.Trưởng đoàn" hoặc "TL.Viện trưởng Trưởng Phòng khiếu tố"; một số đơn vị ban hành quyết định trực tiếp kiểm sát, trong phần căn cứ còn viện dẫn cả "Chỉ thị” và "Quy chế 59" của Viện trưởng VKSNDTC (đây là những văn bản điều chỉnh trong nội bộ ngành, không nên viện dẫn). Các đơn vị cần nghiên cứu kỹ hệ thống biểu mẫu về công tác khiếu tố khi thực hiện.

4.3. Nguyên nhân của tồn tại

+ Về khách quan.

Các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tư pháp chưa đầy đủ, có quy định còn mâu thuẫn và chồng chéo, dẫn đến việc áp đụng pháp luật còn nhiều khó khăn, vướng mắc và thiếu tính thống nhất.

- Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ và điều kiện cơ sở vật chất, tổ chức, biên chế ở một số Viện kiểm sát chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của công tác này.

- Nhận thức của các cơ quan tư pháp về chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát còn chưa đầy đủ; nhiều cơ quan đơn vị còn thiếu hợp tác đối với Viện kiểm sát khi thực hiện nhiệm vụ.

+ Về chủ quan

- Do chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp, nên có nơi, lãnh đạo trong ngành kiểm sát chưa thường xuyên quan tâm chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc công tác này; dẫn đến việc triển khai thực hiện, việc tham mưu, đề xuất của các đơn vị nghiệp vụ và đơn vị khiếu tố chưa chủ động, còn có biểu hiện đùn đẩy, né tránh nhiệm vụ; Do trình độ của một số cán bộ làm công tác khiếu tố còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm, kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, trong khi công tác tập huấn về công tác khiếu tố rất hạn chế, dẫn đến lực lượng cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; đa số cán bộ làm công tác khiếu tố ở các Viện kiểm sát cấp huyện và ở một số Viện kiểm sát cấp tỉnh là cán bộ kiêm nhiệm, không chuyên trách, cán bộ thay đổi nhiều nên tích lũy kinh nghiệm còn hạn chế, không có thời gian để tập trung cho công tác khiếu tố.

- Việc phối hợp với các cơ quan tư pháp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa thường xuyên, chặt chẽ, nên việc nắm thông tin vi phạm làm căn cứ tiến hành kiểm sát chưa tốt.

II. NHỮNG KHUYẾN NGHỊ ĐỂ TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT KHIẾU NAI, TỐ CÁO VÀ TƯ PHÁP.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần nhận thức toàn diện, đầy đủ về công tác này; phát huy hơn nữa vai trò tham mưu, đề xuất của đơn vị khiếu tố. Cụ thể, cần tập trung một số công việc sau: Tiếp tục quán triệt một cách đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đến toàn thể cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị.

- Đặt ra chỉ tiêu thi đua cả về số lượng và chất lượng đối với công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đối với các đơn vị, nhất là các đơn vị nghiệp vụ.

- Tổ chức tập huấn, hội thảo, hội nghị chuyên đề về công tác khiếu tố nói chung và công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp nói riêng để nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn cũng như trách nhiệm của cán bộ, công chức làm công tác này.

- Tăng cường biên chế, cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ cho đơn vị và cán bộ làm công tác khiếu tố; các đơn vị chưa thành lập phòng cần tiếp tục và khẩn trương triển khai thành lập phòng để hoạt động khiếu tố được chuyện sâu và có hiệu quả hơn.

- Tăng cường hơn nữa sự phối hợp với các cơ quan tư pháp để theo dõi, nắm tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp, phát hiện kịp thời các vi phạm làm căn cứ kiểm sát.

- Tranh thủ sự ủng hộ, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy địa phương về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo để thực hiện chức năng kiểm sát đối với các cơ quan tư pháp địa phương đạt hiệu quả cao hơn.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÁN NẮM BẮT ĐỂ NĂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, Tố CÁO VÀ TƯ PHÁP.

1. Về đối tượng kiểm sát

Theo quy định thì đối tượng của công tác kiểm sát được hiểu là việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Có hai vấn đề cái lưu ý:

Thứ nhất, các cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết hai dạng khiếu nại, tố cáo, đó là khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và khiếu nại, tố cáo trong hoạt động quản lý hành chính; (cần phân biệt tố cáo về tư pháp khác với tố cáo về lĩnh vực hành chính và tin báo, tố giác tội phạm); Viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; do đó, cần xác định rõ khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp là khiếu nại, tố cáo đối với những quyết định, hành vi tư pháp do chủ thể có thẩm quyền (có chức danh tư pháp) thực hiện theo quy định của các luật tố tụng việc xác định như vậy để tránh kiểm sát sai đối tượng.

Thứ hai, cần nhận thức khái niệm "cơ quan tư pháp" phải được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các chủ thể: Các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Cơ quan điều tra; Cơ quan Thi hành án hình sự, Cơ quan thi hành án dân sự; một số chủ thể được giao nhiệm vụ tiến hanh một số hoạt động tố tụng hình sự như Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Bộ đội biên phòng, Hải quan, các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Chỉ huy tàn bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng ...; các cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự như UBND cấp xã, đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn... Như vậy, khái niệm "cơ quan tư pháp" ở đây không chỉ là cơ quan nằm trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước về tư pháp, mà còn gồm cả các cơ quan nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp. Tuy nhiên, không phải tất cả các cơ quan tư pháp hiểu theo nghĩa rộng nêu trên đều có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp, mà cần phân biệt trong từng lĩnh vực cụ thể:

+ Trong tố tụng hình sự: Chỉ có Tòa án, Cơ quan điều tra; còn các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tố tụng hình sự không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; mặc dù Bộ luật TTHS và Thông tư 02 có quy định thẩm quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đối với những cơ quan này, nhưng đây là một mâu thuẫn trong luật cần được sửa đổi trong thời gian tới, do đó, Viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đối với Tòa án và Cơ quan điều tra, không kiểm sát đối với cơ.quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra.

+ Trong tố tụng dân sự: Mặc dù Bộ luật TTDS có quy định người đứng đầu tổ chức giám định có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với hành vi của người giám định; nhưng hành vi của người giám định không phải là hành vi tư pháp, người đứng đầu tổ chức giám định và người giám định không phải là chủ thể tiến hành tố tụng; do đó, việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại liên quan đến giám định không phải là khiếu nại trong hoạt động tư pháp; vì vậy Viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại đối với Tòa án và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong cơ quan này; không kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của người đứng đầu tổ chức giám định.

+ Trong tố tụng hành chính: Thực hiện thẩm quyền kiểm sát tương tự như trong tố tụng dân sự.

+ Trong thi hành án hình sự: Theo Điều 142 Luật THAHS thì Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Toà án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Tuy nhiên, cần nghiên cứu Điều 152, Điều 153 và Điều 168 để xác định những chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, từ đó xác định đối tượng kiểm sát. Theo đó, chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại gồm: Chủ tịch UBND cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Trưởng Công an cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Tư lệnh quân khu và tương đương, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân cấp huyện giải quyết, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Tư lệnh Quân khu và tương đương, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đây là đối tượng kiểm sát; Viện kiểm sát không kiểm sát đối tượng khác như Bệnh viện tâm thần, Tổ chức xã hội và Nhà trường;

Theo quy định trong Luật đặc xá năm 2007 (từ Điều 32 - Điều 34), các chủ thể như: Bộ trưởng Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh và Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Tư lệnh quân khu và tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về việc lập danh sách người được đề nghị đặc xá, đây cũng là đối tượng kiểm. sát;

Ngoài ra, có điểm cần lưu ý là Điều 142 Luật THAHS có quy định Viện kiểm sát kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án, nhưng Điều 152 lại không quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo (đây là một bất cập) do đó, Viện kiểm sát không kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Tòa án trong thi hành án hình sự.

+ Trong thi hành án dân sự: Điều 159 Luật THADS chỉ quy định mang tính nguyên tắc: “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật"; để xác định đúng đối tượng kiểm sát, cần nghiên cứu Điều 142 và Điều 157 về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo; theo đó, chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại gồm: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo gồm: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự các cấp, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.

2. Về phạm vi kiểm sát

Phạm vi của kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo là giới hạn khi Viện kiểm sát thực hiện chức năng; xác định đúng phạm vi có vai trò rất quan trọng, tránh cho Viện kiểm sát không vượt quá quyền hạn của mình; phạm vi kiểm sát chỉ giới hạn trong quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, tức là từ giai đoạn thụ lý vụ việc cho đến giai đoạn kết thúc quy trình giải quyết bằng việc ra quyết định giải quyết khiếu nại hoặc kết luận tố cáo - đây là giới hạn mang tính nguyên tắc trong phạm vi kiểm sát; Viện kiểm sát không kiểm sát việc tiếp công dân cũng như việc tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật và kết luận tố cáo của các cơ quan tư pháp; tuy nhiên, để tránh việc các cơ quan tư pháp bỏ lọt không thụ lý những đơn thuộc thẩm quyền (do thiếu trách nhiệm hoặc nhận thức không đúng), cần phải kiểm tra việc phân loại, xử lý đơn (thông qua việc tiếp nhận đơn qua các nguồn, trong đó có tiếp công dân); như vậy không có nghĩa là kiểm sát công tác tiếp công dân và phân loại, xử lý đơn, mà thực chất là chỉ kiểm tra Sổ tiếp công dân hoặc Sổ tiếp nhận đơn, đối chiếu với Sổ thụ lý đơn để xác định trong quá trình phân loại, xử lý, cơ quan tư pháp đã thụ lý đầy đủ hay bỏ lọt không thụ lý đơn thuộc thẩm quyền; vì vậy, cần nhận thức đúng vấn đề này để khi kết thúc kiểm sát, chỉ kết luận cơ quan tư pháp đã thụ lý đầy đủ hay còn bỏ lọt đơn thuộc thẩm quyền, không kết luận việc tiếp công dân và phân loại, xừ lý đơn.

3. Về nhiệm vụ kiểm sát

Cần thực hiện đúng nội dung trong Điều 22 Quy chế số 59, đặc biệt cần quán triệt những yêu cầu trong Quyết định 487 để xác định nhiệm vụ kiểm sát. Cụ thể như sau:

- Đói với đơn vị khiếu tố: Không chuyển đơn khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm kiểm sát đến các cơ quan tư pháp. Khi tiếp nhận, cần phân loại, xử lý chính xác, vào sổ và chuyển cho các đơn vị nghiệp vụ để các đơn vị nghiệp vụ thụ lý, chuyển đến các cơ quan tư pháp giải quyết và thực hiện trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết. Đồng thời, phải nắm chắc đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát đã chuyển cho các đơn vị nghiệp vụ để đối chiếu, thống kê số liệu; đôn đốc các đơn vị nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ kiểm sát; nắm tình hình kiểm sát của các đơn vị nghiệp vụ để chủ động tham mưu, đề xuất với lãnh đạo Viện thực hiện các biện pháp quản lý nhà nước về công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

- Đối với các đơn vị nghiệp vụ: Phải thụ lý, chuyển đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát cho cơ quan tư pháp để giải quyết theo thẩm quyền, theo dõi kết quả giải quyết, nắm thông tin vi phạm, tùy từng trường hợp áp dụng một cách linh hoạt các biện pháp kiểm sát; trong quá trình kiểm sát, cần tập trung kiểm sát việc áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp (kiểm sát về nội dung; việc kiểm sát giải quyết đơn tư pháp phải được lập hồ sơ riêng); tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị khiếu tố thực hiện nhiệm vụ theo dõi kết quả công tác kiểm sát của đơn vị mình để tham mưu với lãnh đạo Viện; chủ động và tích cực chủ trì hoặc tham gia cùng đơn vị khiếu tố trong các cuộc kiểm sát trực tiếp.

4. Về phương thức kiểm sát

* Cần bám sát các quy định mang tính nguyên tắc trong Bộ luật TTHS, Bộ luật TTDS, Luật TTHC, Luật THAHS, Luật THADS và hướng dẫn trong Thông tư 02, Thông tư 03. Các thao tác cụ thể phải tuân thủ Quy chế 59 (Chương IV) và Quyết định 561, trong đó, cần lưu ý những vấn đề sau:

- Việc áp dụng các biện pháp yêu cầu (kiểm sát gián tiếp) phải đảm bảo đúng điều kiện và trình tự, cụ thể :

+ Việc yêu cầu cơ quan tư pháp ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo được áp dụng khi: Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo hoặc có cơ sở xác định cơ quan tư pháp không ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn hoặc đã giải quyết nhưng không ban hành văn bản;

+ Việc yêu cầu cơ quan tư pháp kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình, cấp dưới và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát được áp dụng khi Viện kiểm sát có cơ sở xác định cơ quan tư pháp không thực hiện yêu cầu ra văn bản giải quyết.

"Cơ sở” để xác định cơ quan tư pháp không thực hiện yêu cầu ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát căn cứ vào các trường hợp sau: Viện kiểm sát nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền (ví dụ: Quốc hội, HĐND, Đại biểu Quốc hội và HĐND, Mặt trận Tổ quốc, các cấp ủy đảng...); Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại, tố cáo hoặc có cơ sở xác định về "vi phạm pháp luật" của cơ quan tư pháp trong giải quyết khiếu nại, tố cáo ("vi phạm pháp luật" của cơ quan tư pháp ở đây cần được hiểu là việc cơ quan tư pháp không ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo yêu cầu của Viện kiểm sát).

+ Việc yêu cầu cơ quan tư pháp cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo chỉ được thực hiện khi Viện kiểm sát đã thực hiện lần lượt các biện pháp yêu cầu ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo và yêu cầu kiểm tra, thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, mà cơ quan tư pháp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ.

- Điều 339 BLTTHS năm 2003 quy định Viện kiểm sát được áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát mà không quy định điều kiện để thực hiện biện pháp này, nhưng tại Thông tư số 02 quy định, việc áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát chỉ được thực hiện sau khi đã thực hiện biện pháp yêu cầu cung cấp hồ sơ, qua nghiên cứu hồ sơ được cung cấp phát hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tư pháp chưa thực hiện đúng pháp luật; có điểm cần đặc biệt lưu ý là việc kiểm sát trực tiếp chỉ được áp dụng duy nhất trong lĩnh vực tố tụng hình sự và chỉ đối với hai cơ quan là Tòa án và Cơ quan điều tra (đây là nguyên tắc trong phương thức kiểm sát). Tuy nhiên, biện pháp này có thể phát sinh trở ngại khi cơ quan tư pháp không cung cấp hồ sơ hoặc tìm cách trì hoãn, kéo dài việc cung cấp; lúc này, Viện kiểm sát sẽ không có căn cứ để Kiểm sát trực tiếp; để khắc phục trở ngại này, Viện kiểm sát chỉ có thể kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên của cơ quan tư pháp để đề nghị đôn đốc thực hiện.

Nhìn chung, một số quy định tại Thông tư liên tịch số 02 và Điều 23, Quy chế 59 về phương thức kiểm sát có xu hướng “hẹp" quyền hạn của Viện kiểm sát như khi phát hiện vi phạm, nếu Viện kiểm sát muốn áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát phải thực hiện lần lượt các biện pháp yêu cầu ra văn bản giải quyết, yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu, điều đó có nghĩa là biện pháp trước là điều kiện tiền đề để thực hiện biện pháp sau. Vấn đề này cần phải xem xét, sửa đổi bổ sung trong thời gian tới.

Một điểm cần lưu ý là phương thức kiểm sát được quy định trong Thông tư 02, Thông tư 03 và Quy chế 59 cần được hiểu trên tinh thần là phương thức áp dụng trong kiểm sát các vụ việc cụ thể, không phải là kiểm sát tình trạng; các Mẫu số 1, Mẫu số 2, Mẫu số 3 trong Quyết định 561 cũng là những mẫu được áp dụng trong kiểm sát gián tiếp các vụ việc cụ thể; nhưng từ Mẫu số 4 đến Mẫu số 11 lại là mẫu được áp dụng trong kiểm sát trực tiếp về tình trạng (kiểm sát toàn bộ công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tư pháp); như vậy còn thiếu các mẫu về kiểm sát trực tiếp đối với vụ việc cụ thể. Hiện nay, các văn bản luật cũng như dưới luật chưa quy định cụ thể phương thức kiểm sát trực tiếp về tình trạng, do đó, các Viện kiểm sát cần vận dụng linh hoạt căn cứ pháp luật được quy định tại Điều 4 Luật Tổ chức VKSND để tiến hành kiểm sát trực tiếp về tình trạng trong tố tụng hình sự đối với Tòa án và Cơ quan điều tra (cần lưu ý khi kiểm sát trực tiếp về tình trạng đối với Tòa án chỉ yêu cầu cung cấp số liệu và hồ sơ về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, không yêu cầu chung là "khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp", dẫn đến Tòa án cung cấp cả số liệu giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự, hành chính).

Riêng đối với việc kiểm sát trực tiếp về tình trạng đối với cơ quan Thi hành án dân sự, hiện nay các Viện kiểm sát vẫn thực hiện, mặc dù Quy chế 59 quy định chỉ kiểm sát trực tiếp trong tố tụng hình sự; vấn đề này cần được hiểu là Quy chế 59 chỉ hướng dẫn kiểm sát đối với vụ việc cụ thể; do đó, các Viện kiểm sát vẫn có thể vận dụng Điều 24 Luật Tổ chức VKSND để kiểm sát trực tiếp về tình trạng đối với cơ quan Thi hành án dân sự; tuy nhiên, để hạn chế sự mâu thuẫn giữa Quy chế 59 với Luật Tổ chức VKSND, các Viện kiểm sát không nên tiến hành trực tiếp kiểm sát tình trạng đối với cơ quan Thi hành án riêng về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tư pháp (kiểm sát đơn khâu, mà cần linh hoạt vận dụng linh hoạt các quy định tại Điều 23, Điều 24, Điều 25 Luật Tổ chức VKSND, các quy định trong Luật Thi hành án Dân sự và Quyết định 487 để tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thi hành án nói chung, trong đó có kết họp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án (kiểm sát đa khâu có sự kết hợp giữa đơn vị kiểm sát thi hành án và đơn vị khiếu tố, trong đó, đơn vị kiểm sát thi hành án sẽ là đơn vị chủ trì cuộc kiểm sát) .

* Riêng phương thức kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính, thi hành án hình sự cần chờ hướng dẫn của Liên ngành tư pháp Trung ương và VKSNDTC, các Viện kiểm sát chưa nên tiến hành kiểm sát trong các lĩnh vực này.

5. Về các bước cụ thể trong thực hiện kiểm sát

Cần thực hiện đúng các quy định tại Điều 24 Quy chế 59. Cần lưu ý những vấn đề sau:

- Chất lượng của công tác kiểm sát được thể hiện qua những kiến nghị khắc phục vi phạm đối với đơn vị được kiểm sát. Vì vậy, trước khi tiến hành kiểm sát, Viện kiểm sát cần nghiên cứu kỹ lưỡng từ tất các nguồn thông tin để nắm chắc vi phạm của cơ quan tư pháp để tiến hành kiểm sát phải phát hiện và kết luận được chính xác, đầy đủ vi phạm, kiến nghị có sức thuyết phục các cơ quan tư pháp (nguồn thông tin để nắm dấu hiệu vi phạm có thể từ đơn khiếu nại, tố cáo; qua nắm tình hình trong quan hệ phối hợp công tác giữa Viện kiểm sát với cơ quan tư pháp; qua thực hiện nghiệp vụ kiểm sát tin báo, tố giác, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát thi hành án...; qua các phương tiện thông tin đại chúng; qua chỉ đạo, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền , cấp ủy...).

Qua áp dụng các biện pháp yêu cầu (kiểm sát gián tiếp), nếu đã có đủ căn cứ kết luận vi phạm của cơ quan tư pháp thì có thể thực hiện quyền kiến nghị ngay (có thể kiến nghị theo từng vụ việc hoặc tập hợp nhiều vụ việc để kiến nghị chung), không nhất thiết phải tiến hành kiểm sát trực tiếp.

Đối với kiểm sát trực tiếp: Đơn vị khiếu tố phải chủ động đôn đốc, nắm tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm sát của các đơn vị nghiệp vụ, từ đó tổng hợp vi phạm để tham mưu Viện trưởng quyết định việc trực tiếp kiểm sát; đơn vị khiếu tố không nên độc lập kiểm sát, cần có sự phối hợp chặt chẽ với các đơn vị nghiệp vụ tương ứng với lĩnh vực kiểm sát để cuộc kiểm sát đạt kết quả cao nhất (Nghiên cứu Quyết định 487).

Việc nắm tình hình vi phạm và tổng hợp vi phạm của các cơ quan tư pháp để làm cơ sở tiến hành kiểm sát trực tiếp có thể tiến hành định kỳ 6 tháng, 1 năm và nên kiểm sát theo tình trạng.

- Khi ban hành quyết định trực tiếp kiểm sát cần lưu ý:

+ Không viện dẫn Luật Khiếu nại, tố cáo, vì Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi năm 2004) đã bãi bỏ Điều 12 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực hành chính.

+ Không viện dẫn Chỉ thị công tác, Chương trình hoặc Kế hoạch công tác, Quy chế 59 (vì đây là những văn bản chỉ áp dụng trong nội bộ ngành).

Việc viện dẫn các căn cứ pháp luật để nhận xét và kết luận vi phạm của các cơ quan tư pháp cần chính xác, phù hợp với từng lĩnh vực kiểm sát. Cụ thể:

+ Trong tố tụng hình sự: Chi viện dẫn các quy định trong Bộ luật TTHS, Thông tư 02, Thông tư 08; Thông báo số 01 ngày 1/2/2008 của TANDTC.

+ Trong tố tụng dân sự: Viện dẫn các quy định trong Bộ luật TTDS, Thông tư 03, Thông báo số 01 ngày 1/2/2008 của TANDTC và cần lưu ý viện dẫn Điều 402 Bộ luật TTDS.

+ Trong tố tụng hành chính: Viện dẫn các quy định trong Luật TTHC và Điều 206 Luật TTHC.

+ Trong thi hành án dân sự: Viện dẫn các quy định trong Luật thi hành án dân sự và Khoản 4, Điều 1 57 Luật THADS.

+ Trong thi hành án hình sự: Viện dẫn các quy định trong Luật THAHS, Luật Đặc xá và Điều 34 Luật Đặc xá.

- Việc ban hành các văn bản kiểm sát phải thực hiện đúng theo hình thức , trình tự được quy định trong Quyết định 561.

Kết luận

Công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp trong những năm gần đây, bên cạnh những ưu điểm đã đạt được vẫn còn có những tồn tại, khuyết điểm, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp trong tình hình hiện nay. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là do những bất cập, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật; ngoài ra, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của một số cấp ủy đảng, chính quyền trong ngành Kiểm sát đối với khâu công tác này còn chưa sâu sắc; không những vậy, việc nhận thức của một bộ phận cán bộ Kiểm sát về công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa thực sự đầy đủ, dẫn đến chưa thấy hết được tầm quan trọng của khâu công tác này, chưa trau dồi kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn cũng như các kỹ năng nghiệp vụ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để đưa những giải pháp tăng cường chất lượng công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp trong tình hình hiện nay là hết sức cần thiết.

Trong tình hình đó, Bài viết này với mục đích là nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; phân tích thực trạng để tìm ra nguyên nhân của tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục nguyên nhân, nâng cao hiệu quả, chất lượng khâu công tác này đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Bài viết mong muốn được nâng cao vai trò lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền, và nâng cao nhận thức của cán bộ ngành Kiểm sát đối với công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của Viện kiểm sát trọng điều kiện cải cách tư pháp./.

                                                                                          Mục ba

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM TRONG CÔNG TÁC TIẾP NHÂN

 

PHÂN LOẠI, XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ TƯ PHÁP CỦA VIỆN KIỂM SÁT

Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, nhất là trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo về tư pháp. Từ năm 2003 cho đến nay; Quốc hội đã thông qua, ban hành các Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Thi hành án Dân sự, Luật Thi hành án Hình sự, Luật Tố tụng Hành chính. Trong đó khiếu nại tố cáo của từng lĩnh vực đã được quy định thành chương, điều riêng; quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã cùng các cơ quan tư pháp Trung ương ban hành Thông tư liên tịch số 02/TTLT- VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP ngày 10/8/2005, Thông tư liên tịch số 03 TTLT-TATC-VKSTC ngày 01/9/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS, BLITDS.

Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 tại Điều 4 có quy định về công tác khiếu tố: "Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật". Để thực hiện nhiệm vụ trên Viện trưởng VKSNDTC ngày 19/2/2003 ban hành Quyết định số 01/2003/QĐ/VKSTC- TCCB quy định về bộ máy làm việc của VKSTC có quy định tại Khoản 12 Điều 1:

Vụ Khiếu tố có nhiệm vụ tổ chức tiếp công dân, tiếp nhận đơn thư khiếu nại tố cáo thuộc trách nhiệm của ngành kiểm sát và các tin báo tố giác tội phạm để chuyển đến các đơn vị trong ngành giải quyết theo thẩm quyền; giúp Viện trưởng VKSTC quản lý và kiểm tra các đơn vị trong ngành về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm của ngành kiểm sát; ....

Đảm bảo cho việc tiếp dân, phân loại xử lý đơn khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật Viện kiểm sát tối cao ban hành Quy chế số 59 ngày 6/2/2006 quy định về thủ tục trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp. Sau đó ban hành Quyết định 487/QĐ-VKSTC-V7 ngày 04/09/2008 về giao nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt đông tư pháp của các cơ quan tư pháp.

Trong những năm gần đây, các đơn vị khiếu tố thuộc Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã phân loại chính xác kịp thời đơn khiếu nại, tố cáo; giúp Viện trưởng quản lý thống nhất công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần hoàn thành nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo còn lúng túng, thiếu chính xác dẫn đến thụ lý, giải quyết cả những đơn không đúng thẩm quyền hoặc có nhiều trường hợp đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của mình lại không thụ lý giải quyết nhầm lẫn giữa tin báo tố giác tội phạm với đơn tố cáo về tư pháp gây bức xúc cho người khiếu nại, tố cáo.

Từ những hạn chế, thiếu sót nêu trên thể hiện sự bất cập về năng lực, trình độ của cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân các cấp chưa theo kịp yêu cầu công cuộc cải các tư pháp nhất là khi nước ta đang hòa nhập với thế giới về mọi mặt. Nguyên nhân của thiếu sót này có nhiều nhưng chúng tôi xin nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là một số cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chưa chủ động nghiên cứu các quy định của pháp luật quy định về công tác này nhất là Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Thi hành án Dân sự, Luật Thi hành án Hình sự.

Đơn khiếu nại, tố cáo gửi đến VKSTC được của làm 2 loại: Đơn khiếu nại, tố cáo về hành chính do Luật Khiếu nại, tố cáo điều chỉnh.

- Đơn khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp

Tại hội nghị này Vụ khiếu tố xin nêu một số vấn đề cần quan tâm khi phân loại, xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của VKSND các cấp.

Tài liệu gồm các phần sau:

1. Khái niệm, đặc điểm của khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

2. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.

3.Những quy định về khiếu nại, tố cáo ngoài các Chương khiếu nại, tố cáo của các Bộ luật, Luật.

4. Những vấn đề vướng mắc khi phân loại, xử lý khiếu nại, tố cáo trong các hoạt động tư pháp.

I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

1. Một số khái niệm liên quan đến khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp

Khái niệm khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động hành pháp (lĩnh vực hành chính) được định nghĩa tương đối rõ ràng và cụ thể trong Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành, còn khái niệm khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp hiện nay vẫn chưa được định nghĩa chính thức trong bất cứ một văn bản quy phạm pháp luật nào; kể cả những dạng cụ thể của khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp cũng được quy định rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Có thể nói, khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp là vấn đề phức tạp, còn có nhiều quan điểm khác nhau cả về lý luận và thực tiễn, chính vì lẽ đó mà cần phải nghiên cứu làm rõ các khái niệm có liên quan để đi đến một nhận thức chung thống nhất.

1.1. Về khái niệm "hoạt động tư pháp"

Qua khái niệm "tư pháp" về mặt từ ngữ có nghĩa là bảo vệ pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp từ đó, suy ra, "hoạt động tư pháp" có nghĩa chung nhất là hoạt động bảo vệ pháp luật. Hoạt động bảo vệ pháp luật được thực hiện dưới các hình thức như: hoạt động nhằm mục đích để mọi chủ thể chấp hành pháp luật, bao gồm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; hoạt động nhằm mục đích để mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý, ngăn chặn, buộc phải chấm dứt, điều tra, xác minh, kết luận, truy cứu trách nhiệm, áp dụng chế tài xử lý vi phạm..., hoạt động giải quyết các tranh chấp bao gồm xét xử, tài phán, giải quyết khiếu nại, tố cáo ... Tuy nhiên, pháp luật Việt nam lại không có quy định của pháp luật định hướng về khái niệm hoạt động tư pháp, hoạt động hành chính, hoạt động tố tụng. Sau đây là những quan điểm, quan niệm thế nào là hoạt động tư pháp. Chúng tôi xin đưa ra một số quan điểm sau:

* Quan điểm thứ nhất cho rằng:

Hoạt động tư pháp bao gồm:

+ Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án;

+ Hoạt động của những người tiến hành tố tụng như Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án (theo Điều 33 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 34 Luật Tố tụng Hành chính);

 * Quan điểm thứ hai cho rằng, ngoài hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng đã nêu ở quan điểm thứ nhất, hoạt động tư pháp còn bao gồm những hoạt động của các chủ thể khác như:

Cơ quan và người được giao tiến hành một số hoạt động tố tụng, bao gồm Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, các cơ quan khác trong lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân (theo Điều 2 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004); người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng; Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển.

- Cơ quan Thi hành án dân sự;

- Cơ quan có có nhiệm vụ thi hành án hình sự, bao gồm:

+ Tòa án (trong trường hợp Tòa án đã xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành bản án, quyết định hình sự có hiệu lực pháp luật và trường hợp Tòa án miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích ...);

+ Các cơ quan trong Cóng an nhân dân có nhiệm vụ thi hành hình phạt tử hình, hình phạt tù, hình phạt trục xuất;

+ Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, đơn vị nơi thi hành án hoặc trường giáo dưỡng, cơ sở chuyên khoa y tế có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định hình sự về một số hình phạt chính (cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo), hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp.

* Quan điểm thứ ba cho rằng, ngoài các hoạt động được nêu trong hai quan điểm trên, hoạt động tư pháp còn bao gồm cả hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng tư pháp, giám định tư pháp, cảnh sát tư pháp; hoạt động về tư pháp - hộ tịch của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp hoặc cán bộ tư pháp  hộ tịch ở chính quyền cấp xã.

Theo chúng tôi thì quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ ba hiểu khái niệm “hoạt động tư pháp" hoặc là quá hẹp hoặc là quá rộng. Qua phân tích khái niệm "tư pháp" nêu trên, thì quan điểm thứ hai là hợp lý hơn cả. Có nghĩa là hoạt động tư pháp là hoạt động do pháp luật tố tụng quy định, bao gồm những hành vi hoặc quyết định tố tụng do những chủ thể có thẩm quyền thực hiện, nhằm giải quyết những vụ việc cụ thể trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.

Tóm lại, việc hiểu khái niệm "hoạt động tư pháp" mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau, cần phải có hướng dẫn chính thức của cơ quan có thẩm quyền, nhưng qua phân tích về khái niệm "tư pháp" và hoạt động tư pháp" nêu trên, chúng ta có thể đi đến một định nghĩa về "hoạt động tư pháp" như sau:

Hoạt động tư pháp là hoạt động trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành các bản án quyết định của Tòa án do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Từ khái niệm nêu trên có thể rút ra các đặc điểm của hoạt động tư pháp như sau:

- Hoạt động tư pháp mang tính quyền lực Nhà nước do cơ quan tư pháp thực hiện.

- Hoạt động tư pháp được thực hiện trong quá trình tiến hành tố tụng và được điều chỉnh của pháp luật tố tụng.

- Hoạt đông tư pháp là những việc làm trực tiếp liên quan tới quá trình giải quyết vụ án.

- Hoạt động tư pháp là nhằm giải quyết vụ án một cách đúng đắn, khách quan.

- Hoạt động tư pháp được tiến hành đảm bảo việc thực thi các phán quyết của Toà án và các quy định của pháp luật về giam, giữ và quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù.

Định nghĩa về khái niệm "hoạt động tư pháp" trên đây cũng là định hướng chung cho phần cơ sở lý luận về "Phân loại, xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp" của chuyên đề.

1.2 . Khái niệm, đặc điểm của khiếu nại trong hoạt động tư pháp

* Khái niệm khiếu nại trong hoạt động tư pháp.

Khiếu nại là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ, đó là việc các chủ thể trong xã hội là cá nhân, cơ quan, tổ chức không đồng tình với quyết định, hành vi mang tính quyền lực Nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền và đề nghị xem lại quyết định, hành vi đó để bảo vệ quyền, lợi ích của mình.

Qua nghiên cứu thực trạng khiếu nại, tố cáo thì khiếu nại hiện nay được chia ra thành hai lĩnh vực: Khiếu nại trong hoạt động hành chính và khiếu nại trong hoạt động tư pháp. Như trên đã nêu cho đến nay, chưa có bất cứ một định nghĩa mang tính quy phạm pháp luật nào về khái niệm "khiếu nại trong hoạt động tư pháp", mà chỉ có định nghĩa về khái niệm khiếu nại hành chính tại Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và được sửa đổi năm 2005 quy định: "Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình".

- Điều 325 Chương XXXV của Bộ luật tô tụng hình sự

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Điều 391 Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng Dân sự

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

- Điều 140 Luật Thi hành án Dân sự

Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình ... ...

- Điều 150 Luật Thi hành án Hình sự

Người chấp hành án hình sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền thi hành án hình sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Điều 249 Chương XVII Luật Tố tụng Hành chính

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính của cơ quan, người tiến hành tố tụng hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích nợp pháp của mình.

Hoạt động hành chính, hoạt động tư pháp cũng được các chủ thể có thẩm quyền thực hiện thông qua hai hình thức: Quyết định và hành vi. Các quyết định, hành vi trong hoạt động tư pháp cũng do các chủ thể mang quyền lực Nhà nước thực hiện, cũng tác động đến một hoặc một số đối tượng cụ thể, tuy nhiên, phạm vi của các quyết định; hành vi này chỉ bó hẹp trong quan hệ pháp luật tố tụng, chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật về tố tụng.

Quy chế 59 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Khiếu nại trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát được quy định cụ thể tại Điều 15 Quyết định số 59 ngày 6/2/2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc ban hành Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát (sau đây gọi tắt là Quyết định số 59). Cụ thể gồm:

1. Khiếu nại trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự.

2. Khiếu nại trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, lao động, kinh doanh, thương mại và những việc khác theo quy định của pháp luật.

3. Khiếu nại trong hoạt động kiểm sát việc thi hành án.

4. Khiếu nại trong hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tam giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

5. Khiếu nại trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương.

6. Khiếu nại trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

7. Khiếu nại về bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết số 388.

Mặc dù chưa có định nghĩa mang tính quy phạm như khái niệm khiếu nại hành chính, nhưng từ những quy định của Bộ luật, luật quy định về quyền khiếu nại, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa về khái niệm "khiếu nại trong hoạt động tư pháp" như sau: Khiếu nại trong hoạt động tư pháp là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi trong hoạt động tư pháp khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

* Đặc điểm của khiếu nại từ trong hoạt động tư pháp.

Khiếu nại trong hoạt động tư pháp về cơ bản cũng có những đặc điểm sau:

- Người khiếu nại:

Người khiếu nại trong hoạt động tư pháp về cơ bản cũng phải đáp ứng những điều kiện sau: Phải có năng lực hành vi tố tụng đầy đủ; phải có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động bởi quyết định hoặc hành vi tố tụng mà mình khiếu nại.

- Người bị khiếu nại:

Người bị khiếu nại là cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng; các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện thẩm quyền của mình thông qua các quyết định và hành vi trong hoạt động tố tụng; các quyết định, hành vi này tác động đến quyền, lợi ích của các chủ thể khiếu nại.

Người bị khiếu nại bao gồm: Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án và những cá nhân có thẩm quyền trong các cơ quan này, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, người được giao giáo dục, giám sát.

- Đối tượng của khiếu nại:

Đối tượng của khiếu nại là những quyết định tư pháp, hành vi tư pháp do cơ quan, cá nhân có thẩm quyền của các Cơ quan tư pháp thực hiện.

Về bản chất thì quyết định, hành vi trong hoạt động tư pháp giống như quyết định, hành vi trong hoạt động hành chính ở chỗ chúng đều là những quyết định, hành vi mang tính quyền lực nhà nước.

* Vậy Quyết định tư pháp là gì?

Quyết định tư pháp bị khiếu nại: Là quyết định bằng văn bản được ban hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, .Luật Tố tụng Hành chính, Luật Thi hành án Hình sự, Luật Thi hành án Dân sự ... của Điều tra viên, Phó Thủ trưởng, Thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng, phó Viện trưởng VKSND, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSQS các cấp, Điều tra viên, Phó Thủ trưởng, Thủ trưởng CQĐT VKSNDTC,VKSQSTW, Chánh án, Phó Chánh án, Chánh toà, Phó Chánh toà, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, Trưởng thi hành án các cấp, Chấp hành viên, Trưởng, Phó Trưởng Cơ quan quản lý Thi hành án Bộ Tư pháp, Trưởng, Phó trưởng Cơ quan quản lý Thi hành án Bộ Công an,Trưởng, Phó trưởng Cơ quan quản lý Thi hành án Bộ Quốc phòng, Giám thị mà người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

* Vậy Hành vi tư pháp là gì?

- Hành vi tư pháp là hành vi của người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tư pháp khi thực hiện nhiệm vụ đã được các Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Thi hành án Hình sự; Luật Thi hành án Dân sự ... quy định mà người khiếu nại có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 1.3 . Khái niệm, đặc điểm của tố cáo trong hoạt động tư pháp

* Khái niệm tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Như phần trên đã nêu, giống như khiếu nại trong hoạt động tư pháp, khái niệm tố cáo trong hoạt động tư pháp hiện nay cũng chưa có định nghĩa mang tính quy phạm.

Theo Điều 334 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Điều 398 Bộ luật Tố tụng Dân sự:

Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Điều 154 Luật Thi hành án Dân sự:

Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Điều 165 Luật Thi hành án Hình sự:

Người chấp hành án và mọi công dân có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền nào trong thi hành án hình sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Điều 256 Luật Tố tụng Hành chính:

Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp của công dân, cơ quan, tổ chức.

* Quy chế số 59

Điều 18 bao gồm những nội dung:

1. Tố cáo cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp của Kiểm tra viên, Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát.

2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

3 . Tố cáo hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra.

4. Tố Cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm.

Từ những định nghĩa về người có quyền tố cáo của các Bộ luật, Luật nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về "tố cáo trong hoạt động tư pháp" như sau: Tố cáo trong hoạt động tư pháp được hiểu là việc cá nhân theo thủ tục do pháp luật quy đinh báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền trong các hoạt động tư pháp gây thiệt hại hoặc đe dọa ngây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

* Đặc điểm của tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Từ khái niệm về tố cáo trong hoạt động tư pháp nêu trên, có thể thấy những đặc điểm sau:

- Về người tố cáo: Người tố cáo ở đây là cá nhân, có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch, là bất cứ ai phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp. Pháp luật nói chung cũng như pháp luật tố tụng không quy định điều kiện chủ thể, nhưng có thể hiểu rằng người tố cáo cũng cần phải có năng lực hành vi đầy đủ, vì pháp luật buộc người tố cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi tố cáo sai sự thật nên phải xác định rõ về năng lực hành vi và nhân thân của người tố cáo, về nguyên tắc, không chấp nhận tố cáo nặc danh, mạo danh.

Để cá thể hóa trách nhiệm người tố cáo, pháp luật quy định chủ thể tố cáo chỉ duy nhất là cá nhân, chỉ được nhân danh chính bản thân mình, không được lấy danh nghĩa chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức.

- Về người bị tố cáo: Người bị tố cáo chỉ là người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp thực hiện hành vi vi phạm pháp luật tố tụng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích của bất kỳ chủ thể nào trong xã hội. Người bị tố cáo có thể là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án hình sự, dân sự.

- Về đối tượng của tố cáo: Đối tượng của tố cáo là hành vi trong hoạt động tư pháp mà người tố cáo cho rằng đó là hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Pháp luật quy định người tố cáo phải có căn cứ cho rằng hành vi bị tố cáo là trái pháp luật.

Từ những phân tích trên nhằm giúp cho cán bộ làm công tác phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo phân biệt được đơn khiếu nại, tố cáo về hành chính với đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

II. THẨM QUYỀN LUẬT ĐỊNH VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TÓ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP

1. Khiếu nại trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của các Cơ quan tư pháp

1.1. Cơ sở xác định khiêú nại trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của các Cơ quan tư pháp được quy định cụ thể:

* Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (viết tắt là BLTTHS) tại Điều 329, 330, 331, 332 và Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT- VKSTC-TATC-TCA- BQP-BTP ngày 10/08/2005 (viết tắt là TTLT số 02):

Điều 329: Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra do Thủ trưởng Cơ quan điều tra xem xét giải quyết. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Khiếu nại Quyết định, hành vi của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn do Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết.

Điều 331 : Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Phó Chánh án trước khi mở phiên toà do Chánh án Toà án giải quyết... Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Toà án cấp trên trực tiếp... Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Khiếu nại quyết định hành vi tố tụng của Chánh án Toà án trước khi mở phiên toà do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

*Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (viết tắt là BLTTDS) tại Điều 396 và Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-TATC-VKSTC (viết tắt là rất số 03).

Điều 396: Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thư ký Toà án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán, Phó Chánh án do Chánh án giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Toà án cấp trên trực tiếp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án cấp trên trực tiếp phải xem xét giải quyết Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án cấp trên trực tiếp phải xem xét giải quyết Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

* Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 tại Điều 142: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án.

1. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp huyện giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.

2. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp tỉnh giải quyết các khiếu nại sau đây:

a). Khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;

b) Khiếu nại quyết định hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;

c) Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp huyện.

Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.

3. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết đối với các khiếu nại sau:

a) Khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh

b) Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.

Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành.

4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải quyết các khiếu nại sau đây:

a) Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều này. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành;

b) Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết có hiệu lực thi hành quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều này.

5. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên Cơ quan thi hành án cấp quân khu. .

6. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại sau đây:

a) Khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp quân khu.

b) Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cấp quân khu. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.

7. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết các khiếu nại sau đây:

a) Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.

b) Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án Bộ Quốc phòng được quy định tại điểm b Khoản 6 Điều này.

Điều 152 Luật Thi hành án Hình sự năm 2010 .

1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người được giao giám sát giáo dục người chấp hành án hình sự ở xã, phường thị trấn.

2. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Phó thủ trưởng, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sỹ thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trừ trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều này.

b) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

c) Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có hiệu lực thi hành.

3. Trưởng Công an cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án tỉnh sự Công an cấp huyện. Quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng Công an cấp huyện có hiệu lực thi hành.

4. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh giải quyết thiếu nại đối với quyết định; hành vi trái pháp luật của Phó thủ trưởng, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sỹ thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án hình sự Công an cáp tỉnh trừ trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều này. 5. Giám đốc Công an cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với quyết định, lành vi sau đây:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành tử hình sự Công an cấp tỉnh.

b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án tỉnh sự Công an cấp tỉnh, Trưởng Công an cấp huyện. Quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Công an cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.

6. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của Phó thủ trưởng, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sỹ thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an trừ trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều này.

7. Bộ trưởng Bộ Công an giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.

b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều này. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Công an có hiệu lực thi hành.

8. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp quân khu, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật trong quản lý, giáo dục phạm nhân của người được giao quản lý giáo dục phạm nhân.Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới. Quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có hiệu lực thi hành.

Điều 153 Luật Thi hành án Hình sự:

1. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sỹ của đơn vị quân đội, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trừ trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều 152 của Luật này.

2. Tư lệnh quân khu và tương đương giải quyết khiếu nại sau đây:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 152 của Luật này.

b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 152 của Luật này. Quyết định giải quyết khiếu nại của Tư lệnh cấp quân khu tương đương có hiệu lực thi hành.

3. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sỹ, quân nhân chuyên nghiệp thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng trừ trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều 152 của Luật này.

4. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại sau đây:

a). Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng trừ trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều 152 của Luật này.

b) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Tư lệnh cấp quân khu và tương đương trừ trường hợp quy định tại Khoản 8 Điều 152 của Luật này.

c) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, Tư lệnh quân khu và tương đương, trừ trường hợp quy định tai Khoản 8 Điều này. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Quốc phòng có hiệu lực thi hành.

Luật Tố tụng Hành chính năm 2010:

* Điều 253 Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Viện trưởng Viện kiểm sát Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết trong hạn 15 ngày kể tư ngày nhận được khiếu nại; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét giải quyết.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

* Điều 254 Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán, Phó Chánh án Tòa án, Chánh án Tòa án.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán, Phó Chánh án Tòa án do Chánh án Tòa án giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp phải xem xét giải quyết.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án do Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

Quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Tòa án phải được gửi cho người khiếu nại và Viện kiểm sát cùng cấp.

* Điều 255 Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với người giám định.

Khiếu nại về hành vi trong tố tụng hành chính của người giám định do người đứng đầu tổ chức giám định trực tiếp quản lý người giám định giải quyết trong thời hạn 15 ngày; kể từ ngày nhận được khiếu nại, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại với người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của tổ chức giám định. Trong thời hạn 15 ngày nhận được đơn khiếu nại, người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp phải xem xét giải quyết.

* Điều 16 Quy chế số59. Bao gồm các nội dung sau:

1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự được thực hiện theo quy định tại Chương XXXV Bộ luật Tố tụng Hình sự và Thông tư liên tịch số 02 ngày 10/8/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về khiếu nại, tố cáo.

2. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng dân sự được áp dụng theo quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng Dân sự và Thông tư liên tịch số 03 ngày 1/9/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.

3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và đề nghị người có thẩm quyền thuộc Viện kiểm sát kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 275, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 285, Điều 307 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Điều 212, Điều 235 Luật Tố tụng Hành chính.

4. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại khác:

a. Khiếu nại quyết định, hành vi của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết; trường hợp người khiếu nại không đồng ý với kết quả giải quyết mà khiếu nại tiếp thì Viện kiếm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Việc giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là giải quyết cuối cùng;

b. Khiếu nại quyết định, hành vi của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Việc giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là giải quyết cuối cùng;

c. Khiếu nại quyết định, hành vi của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết. Việc giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là giải quyết cuối cùng;

d. Khiếu nại quyết định, hành vi của Kiểm sát viên, Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương do Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương giải quyết. Việc giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương là giải quyết cuối cùng.

Như vậy, thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát được chia ra theo từng lĩnh vực cụ thể, như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, Luật Tố tụng Hành chính và được áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng với từng lĩnh vực;

2. Tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tư pháp

2 .1. Căn cứ pháp luật xác định đơn tô cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tư pháp

* Bộ luật tô tụng hình sự năm 2003 tại Điều 337; Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo:

1. Tố cáo hành vì vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.

Trong trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Toà án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo hành vi tố tụng người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố xem xét giải quyết.

Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý, đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.

2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm thì được giải quyết theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật này.

3. Tố cáo liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam phải được Viện kiểm sát xem xét giải quyết ngay. Trong trường hợp cần xác minh thêm thì thời hạn không quá 3 ngày.

* Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 tại Điều 401: Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo:

1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.

Trong trường hợp người bị tố cáo là Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, thì Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết.

Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý, đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.

2. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

* Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 tại Điều 157: Thẩm quyền, thời hạn và thủ tục giải quyết tố cáo.

1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.

2. Trong trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.

Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý, đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.

3. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

4. Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

* Luật Thi hành án Hình sự năm 2010 tại Điều 168: Thẩm quyền, thời hạn và thủ tục giải quyết tố cáo.

1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo :

a. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án hình sự mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó giải quyết.

b. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Trường công an cấp xã.

c. Trưởng Công an cấp huyện giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

d. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

đ. Giám đốc Công an cấp tỉnh giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.

e. Tư lệnh Quân khu và tương đương giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

g. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự.

h. Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của người được giao quản lý, giáo dục phạm nhân.

2. Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý, đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.

3. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

* Luật Tố tụng Hành chính năm 2010 tại Điều 259: Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo:

1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.

Trong trường hợp người bị tố cáo là Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, thì Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết.

Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý, đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.

2. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Quy chế số 59

Điều 19. Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát, nội dung cơ bản bao gồm:

1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát.

2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam.

3. Thầm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

4. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu hình sự trong hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát.

III. NHỮNG QUY Đ!NH KHIẾU NAI, TỐ CÁO NGOÀI CÁC CHƯƠNG VỀ KHIẾU NẠI TỐ CÁO CỦA CÁC BỘ LUẬT, LUẬT.

* Bộ luật tô tụng hình sự năm 2003:

Khoản 2 Điều l08: Cơ quan tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại theo quy định tại Chương XXXV của bộ luật này.

- Điều 122. Giải quyết các yêu cầu của người tham gia tố tụng.

Khi người tham gia tố tụng có yêu cầu về những vấn đề có liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình, giải quyết yêu cầu của họ và báo cho họ biết kết quả. Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải trải lời và nêu rõ lý do .

Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát thì người tham gia tố tụng có quyền khiếu nại. Việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXV Bộ luật này.

Điều 231. Những người có quyền kháng cáo

Điều 258. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành.

Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

Điều 271 . Xóa án tích do TA quyết định.

1. Trong những trường hợp quy định tại Điều 65 và Điều 66 của Bộ luật Hình sự việc xóa án tích do Tòa án quyết định. Người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xử cấp sơ thẩm vụ án kèm theo nhận xét của chính quyền xã phường, thị trấn hoặc cơ quan tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc.

2. Chánh án TA đã xử sơ thẩm chuyển hồ sơ tài liệu về việc xin xóa án tích cho VKS cùng cấp để phát biểu ý kiến. Nếu xét thấy đủ điều kiện thì Chánh án ra Quyết định xóa án tích; trong trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích.

Điều 274. Phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

Điều 275 . Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Điều 278 . Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Điều 279. Thẩm quyền giám đốc thẩm.

Điều 292. Thông báo và xác minh tình tiết mới được xác định Điều 293. Những người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm.

Điều 295 Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Điều 296 Thẩm quyền tái thẩm.

Điều 316 Khiếu nại, kháng nghị, kháng cáo.

1. Khi quyết định của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh bị khiếu nại thì vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm ở TA cùng cấp ... .

Điều 320

3. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại. Bị can hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại là 3 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Khiếu nại được gửi đến Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và phải được giải quyết trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

* Bộ luật tô tụng dân sự:

Điều 124. Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ hoặc không áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Đương sự có quyền khiếu nại .... Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Điều 125. Giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ hoặc không áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

1. Chánh án Tòa án phải xem xét giải quyết khiếu nại, kiến nghị quy định tại Điều 124 Bộ luật này trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.

2. Quyết định giải quyết của Chánh án là quyết định giải quyết cuối cùng ...

Điều 170. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện

1. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo do Tòa án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn kiện.

2. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau: ... .

Điều 244. Đơn kháng cáo

Điều 284. Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm

Điều 285. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Chánh án TATC, Viện trưởng VKSTC, Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh.

Điều 288. Thời hạn kháng nghị

Điều 306. Thông báo xác minh những tình tiết mới được phát hiện.

Điều 307. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Chánh án TATC, Viện trưởng VKSTC, Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh.

Điều 308. Thời hạn kháng nghị.

Luật tố tụng hành chính.

Điều 70; Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ hoặc không áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Đương sự có quyền khiếu nại... . Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Điều 7. Giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ hoặc không áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

1. Chánh án Tòa án phải xem xét giải quyết khiếu nại, kiến nghị quy định tại Điều 70 Luật này trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.

2. Quyết định giải quyết của Chánh án là quyết định giải quyết cuối cùng ...

Điều 110. Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện.

1. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn kiện.

2. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định.

3. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khởi kiện có quyền khiếu nại, VKS có quyền kháng nghị với Chánh án TAND cấp trên trong thời hạn 7 ngày Quyết định giải quyết của Chánh án TA cấp trên là Quyết định giải quyết cuối cùng.

Điều 244. Đơn kháng cáo.

Điều 284. Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm.

Điều 285. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Chánh án TATC, Viện trưởng VKSTC, Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh.

Điều 288. Thời hạn kháng nghị

Điều 306. Thông báo xác minh những tình tiết mới được phát hiện.

Điều 307. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Chánh án TATC, Viện trưởng VKSTC, Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh.

Điều 308. Thời hạn kháng nghị.

IV. QUY TRÌNH PHÂN LOẠI XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ MỘT SỐ VẮN ĐÃ CÒN VƯỚNG MẮC TRONG PHÂN LOẠI XỬ LÝ ĐƠN

1. Quy trình phân loại xử lý đơn khiếu nại, tố cáo

Phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo là phần công việc tiếp theo của công tác tiếp nhận đơn.

1.1. Về phân loại đơn

Đơn khiếu nại, tố cáo gửi đến Viện kiểm sát nhân dân được phân thành các loại sau:

- Đơn không thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát;

- Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát;

- Đơn thuộc trách niệm khiếm sát của Viện kiểm sát.

1.2. Về xử lý đơn khiếu nại, tố cáo

1.2.1. Xử lý đơn khiếu nại

+ Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền hoặc không thuộc trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát thì trả lại đơn và thông báo chỉ dẫn cho người gửi đơn biết để họ gửi đơn đến đúng nơi có thẩm quyền giải quyết. Nếu người khiếu nại gửi kèm tài liệu là bản gốc thì gửi trả lại cho họ qua đường bưu điện bằng hình thức bảo đảm. Trường hợp đơn thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc thuộc trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Viện kiểm sát cấp khác hoặc địa phương thì chuyển đơn khiếu nại cùng các tài liệu kèm theo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền đồng thời báo tin cho họ biết.

+ Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc thuộc trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Viện kiểm sát cấp mình nhưng có nhiều nội dung khác nhau và thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan, hoặc đơn có nội dung khiếu nại và cả nội dung tố cáo thì hướng dẫn người gửi đơn viết thành đơn riêng; trường hợp đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết nhưng chưa đủ điều kiện thụ lý thì Viện kiểm sát có văn bản chỉ dẫn cho người khiếu nại bổ sung tài liệu có liên quan.

1 2.2. Xử lý đơn tố cáo

+ Đối với đơn tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chuyền ngay đơn cùng các tài liệu kèm theo cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết đồng thời .báo tin cho người gửi đơn biết.

+ Đối với đơn tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết nhưng có một phần nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác thì thụ lý nội dung thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát và có văn bản chỉ dẫn người có đơn viết thành đơn riêng nội dung tố cáo còn lại gửi đến nơi có thẩm quyền giải quyết; trường hợp đơn có nhiều nội dung tố cáo khác nhau nhưng đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát thì báo cáo Viện trưởng để Viện trưởng phân công phối hợp các đơn vị giải quyết và trả lời người gửi đơn.

+ Đối với những đơn tố giác và tin báo về tội phạm thì xử lý theo Điều 103 BLTTHS năm 2003; trường hợp tố giác và tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cục Điều tra thì xử lý theo Quy chế ban hành theo Quyết định số 116/2011/QĐ-VKSTC-C6 ngày 14/4/2011 của Viện trưởng VKSTC.

+ Đối với những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không ký hoặc sao chụp chữ ký, những đơn tố cáo đã được giải quyết mà tiếp tục tố cáo thì không thụ lý.

Đơn do các cơ quan Đảng, Nhà nước và các cơ quan báo, đài chuyển đến thuộc thẩm quyền giải quyết của VKS thì có văn bản thông báo việc thụ lý cho cơ quan và người chuyển đơn biết; Trường hợp không thuộc thấm quyền của VKS thì đơn vị khiếu tố trả lại đơn cho đương sự và thông báo cho cơ quan và người chuyển đơn biết.

2. Những vướng mắc

2.1. Vướng mắc về pháp luật

* Trong quá trình thực hiện Khoản 4 Điều 10 và Điểm b Khoản 1 Điều 11 Quy chế 59 và công văn số 2770/rVKSTC-V7 ngày 12/8/2007 của Vụ Khiếu tố việc xử lý đơn khiếu nại, tố cáo với những đơn không đủ điều kiện xừ lý giải quyết: Những đơn phô tô, đơn có chữ ký phô tô, đơn không ghi ngày thảng, đơn không có chữ ký, điểm chỉ của người khiếu nại, đơn đã có văn bản giải quyết cuối cùng. Trong trường hợp khiếu nại đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định về hình sự, dân sự, hành chính , kinh tế, lao động đã có hiệu lực pháp luật thì yêu cầu đương sự cung cấp bản án liên quan đến nội dung khiếu nại; trường hợp xin hoãn thi hành bản án phải có các tài liệu liên quan đến việc thi hành án của cơ quan thi hành án các cấp. Việc khiếu nại quyết định tố tụng nào thì cần kèm bản sao quyết định đó.

Từ thực tế xử lý, phân loại đơn trong gần 5 năm qua thấy rằng người khiếu nại trong hoạt động tư pháp hoàn toàn khác với người khiếu nại trong hoạt động hành chính vì họ có thể là người bị pháp luật hạn chế một số quyền như bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam phải cách ly với xã hội, người thân nên họ gửi đơn chỉ 1 lần có quyết định bị khiếu nại còn các lần khác họ chỉ gửi đơn mà không kèm quyết đỉnh bị khiếu nại vì họ không thể có điều kiện sao được quyết định bị khiếu nại thành nhiều bản.

Đối với đơn khiếu nại các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thời hạn giải quyết loại đơn này quá dài, số lượng vụ việc khiếu nại xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm quá nhiều vượt quá khả năng giải quyết của các đơn vị làm công tác này. Người khiếu nại chỉ gửi kèm bản sao bản án vài chục lần gửi đơn còn những lần sau họ chỉ gửi đơn như để nhắc việc. Đơn vị khiếu tố yêu cầu họ gửi kèm bản sao bản án gây sự phản ứng không tốt của người khiếu nại. Mặt khác các đơn vị giải quyết không có khả năng giải quyết hết loại việc này mà thời hạn kháng nghị đã hết, đơn vị khiếu tố khó khăn trong việc giải đáp với người khiếu nại. Vụ Khiếu tố xin đề nghị Lãnh đạo Viện cho phép các đơn vị khiếu tố vẫn xử lý nhân loại chuyển những đơn không đủ điều kiện cho các đơn vị nghiệp vụ xem xét giải quyết theo thẩm quyền trong khi chưa  sửa được Quy chế 59 .

2.2. Vướng mắc về nghiệp vụ

* Loại đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án có phải đơn khiếu nại không? hay vì nó không được giải quyết theo trình tự thủ tục quy định của các Chương XXXV BLTTHS; Chương XXXIII BLTTDS và Chương XVII Luật Tố tụng Hành chính.

Theo Đoạn 2 Điều 325 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Việc kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, khiếu nại đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì không giải quyết theo quy định của Chương này mà giải quyết theo quy định tại các chương XXIII, XXIV.

Đồng thời Đoạn 2 Điều 391 BLTTDS; Đoạn 2 Điều 249 Luật Tố tụng Hành chính:

Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án và các quyết định tố tụng khác do người tiến hành tố tụng dân sự, hành chính ban hành, nếu có kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, kiến nghị thì không giải quyết theo quy định của Chương này mà giải quyết theo quy định tại các chương tương ứng của Luật này.

Tại Báo cáo thẩm tra dự án Bộ luật Tố tụng Dân sự số 375/UBPL ngày 6/11/2003  của UBPL Quốc hội khóa XI trong Mục I Điểm 9 đoạn 2 có nêu: Về quyền đề nghị giám đốc thẩm, Ủy ban pháp luật cho rằng, đề nghị của đương sự về xem xét giám đốc thẩm là một loại khiếu nại trong hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng nói riêng, ... .

Quyết định số 59 ngày 6/2/2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc ban hành Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát (sau đây gọi tắt là Quyết định số 59).

Điều 15. Cụ thể gồm:

2. Khiếu nại trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, lao động, kinh doanh, thương mại và những việc khác theo quy định của pháp luật.

Quyết đinh số 1154 ngày 19/11/2007 ban hành Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, tiệc dân sự:

Điều 17 Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Quyết định số 960 ngày 17/9/2007 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự hình sự.

Điều 12. Giải quyết khiếu nại

Việc tiếp nhận giải quyết khiếu nại đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, theo hướng dẫn của Ngành, của Liên ngành.

Kết quả giải quyết khiếu nại, phải trả lời bằng văn bản cho người khiếu nại biết.

Từ những quy định của Luật, của Quy chế chúng tôi có thể khẳng định rằng đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là đơn khiếu nại trong hoạt động tư pháp nhưng được giải quyết theo trình tự, thủ tục, thời hạn theo các chương tương ứng của BLTTHS.

* Phân biệt giữa tố cáo trong hoạt động tư pháp và tố giác và tin báo về tội phạm.

Tố cáo chúng tôi đã trình bày tại Điểm 3 Mục I của bài này. Ở phần này chúng tôi chỉ trình bày khái niệm tố giác và tin báo về tội phạm những đặc điểm của nó để phân biệt với tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Theo Điều 101 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác tội phạm của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

* Đặc điểm của tố giác và tin báo về tội phạm.

Từ khái niệm về tố giác và tin báo về tội phạm nêu trên, có thể thấy những đặc điểm sau:

- Về người tố giác:

Người tố giác ở đây là công dân Việt Nam. Pháp luật nói chung cũng như pháp luật tố tụng không quy định điều kiện chủ thể, nhưng có thể hiểu rằng người tố giác cũng cần phải có năng lực hành vi đầy đủ, vì pháp luật buộc người tố giác phải chịu trách nhiệm về hành vi tố giác sai sự thật nên phải xác định rõ về năng lực hành vi và nhân thân của người tố giác, về nguyên tắc, không chấp nhận tố giác nặc danh, mạo danh.

- Về tin báo về tội phạm:

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện tội phạm, nhận được tố giác tội phạm của công dân phải báo tin ngay cho Cơ quan điều tra bằng văn bản. Do vậy tin báo chỉ có cơ quan, tổ chức thực hiện.

- Về người bị tố giác và tin báo:

Người bị tố giác và tin báo là bất kỳ người nào có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự .

- Về đối tượng của tố giác và tin báo:

Đối tượng của tố cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên để làm tiền đề các đồng chí có cơ sở trong việc xử lý phân loại đơn khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp cho chính xác đáp ứng yêu cầu của cuộc cải cách tư pháp và hiệu quả của công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp nhất là kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp.

Vụ Khiếu tố VKSTC ban hành bản danh mục đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và trách nhiệm kiểm sát của VKSND (số 717/VKSTC-V7 ngày 24/3/2008) nhưng đến nay so với quy định của pháp luật còn nhiều mục chưa chính xác mong các VKS địa phương góp ý thêm để Vụ Khiếu tố hoàn thiên bản danh mục nêu trên.

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

TÀI LIỆU TẬP HUẤN CÔNG TÁC KHIẾU TỐ NĂM 2011

 

Phần hai

GIỚI THIỆU VĂN BẢN PHÁP LUẬT MỚI

VỚI CÔNG TÁC KHIẾU TỐ CỦA NGÀNH KIỂM SÁT

 

Nội dung thứ nhất

GIỚI THIỆU MỘT SỐ QUY ĐỊNH VÀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ

 KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NAI, TỐ CÁO TRONG

TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

 

 

Luật Tố tụng Hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2010 và có hiệu lực từ ngày 0 1/7/2011. Luật Tố tụng Hành chính có 18 chương với 265 điều. Cũng như Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính dành chương XVII (từ Điều 249 đến Điều 262) để quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính. Trong chương này quy định đối tượng của khiếu nại, tố cáo; quyền của người khiếu nại, tố cáo; thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ngoài ra, còn một số quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các giai đoạn tiến hành tố tụng được quy định cụ thể tại một số chương khác.

Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng hành chính, Điều 23 quy định:

"1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật.

2. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát các vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên toà, phiên họp của Toà án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định của Toà án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, nếu họ không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi người đó cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó". Như vậy, có thể thấy, trách nhiệm của Viện kiểm sát là rất lớn, Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát từ khi thụ lý vụ án đến khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành".

Ngoài chức năng, nhiệm vụ trên, Luật còn quy định trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính của Viện kiểm sát (Điều 262).

Trong chuyên đề này, Vụ Khiếu tố chỉ giới thiệu làm rõ một số quy định có liên quan đến công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định tại Điều 262.

Điều 262 Luật Tố tụng Hành chính quy định: "Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu kiến nghị đối với Toà án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật".

Để có sự nhận thức thống nhất và thực hiện tốt trách nhiệm này, Vụ Khiếu tố tập trung làm rõ một số nội dung sau:

1. Về khái niệm khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính

Hiện nay ở Việt Nam, quyền khiếu nại, tố cáo được thực hiện trong hai hoạt động: Hành pháp (hành chính) và tư pháp (tố tụng). Khiếu nại, tố cáo trong hoạt động hành pháp do pháp luật về hành chính điều chỉnh; khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp do pháp luật về các lĩnh vực tố tụng điều chỉnh (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính ...).

Khái niệm khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động hành pháp được định nghĩa tương đối rõ ràng và cụ thể trong Luật Khiếu nại, tố cáo; khái niệm khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp hiện nay vẫn chưa được định nghĩa trong các văn bản quy phạm pháp luật, kể cả trong từng lĩnh vực cụ thể.

Tuy vậy, Luật Tố tụng Hành chính đã quy định rõ quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đối với quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng hành chính. Theo đó, khiếu nại trong tố tụng hành chính được hiểu là việc công dân không đồng ý với quyết định hoặc hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng và cho rằng quyết định, hành vi đó xâm phạm lợi ích hợp pháp của mình và yêu cầu xem xét lại quyết định, hành vi đó. Còn tố cáo trong tố tụng hành chính là việc công dân thấy và cho rằng, hành vi của người tiến hành tố tụng hành chính vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan tổ chức nên yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

2. Những người có quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính

+ Về khiếu nại: Điều 249 quy định:

"l. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính của cơ quan, người tiến hành tố tụng hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án và các quyết định tố tụng khác do người tiến hành tố tụng hành chính ban hành, nếu có kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, kiến nghị thì không giải quyết theo quy định của Chương này mà được giải quyết theo quy định của các chương tương ứng của Luật này".

Quy định về chủ thể được quyền khiếu nại như trên chỉ mang tính nguyên tắc, không phải bất kỳ ai cũng có quyền khiếu nại mà có giới hạn nhất định. Cụ thể, các chủ thể được quyền khiếu nại trong Luật Tố tụng Hành chính gồm: Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

+ Về tố cáo: Cũng như các luật khác, Luật Tố tụng Hành chính không giới hạn chủ thể có quyền tố cáo, điều đó có nghĩa là bất kỳ công dân nào cũng có quyền tố cáo.

3. Đối tượng của khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính

+ Về khiếu nại, Điều 249 quy định:

"1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính của cơ quan, người tiến hành tố tụng hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án và các quyết định tố tụng khác do người tiến hành tố tụng hành chính ban hành, nếu có kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, kiến nghị thì không giải quyết theo quy định của Chương này mà được giải quyết theo quy định của các chương tương ứng của Luật này".

+ Về tố cáo, Điều 256 quy định: Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức". Với quy định này, chỉ có hành vi mới là đối tượng của tố cáo. Theo quy định tại Điều 34 thì các cơ quan tiến hành tố tụng hành chính gồm: Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân và những người tiến hành tố tụng hành chính gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên.

Như vậy, các quyết định, hành vi của các chủ thể trên khi tiến hành tố tụng hành chính là đối tượng của khiếu nại, tố cáo.

Khi tiến hành tố tụng, mỗi chủ thể có những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định, trong đó có việc ban hành các quyết định. Tuy nhiên, không phải chủ thể tiến hành tố tụng nào cũng được ban hành quyết định. Theo quy định, các chủ thể được quyền ban hành quyết định và các loại quyết định do chủ thể đó ban hành trong tố tụng, gồm:

+ Chánh án Tòa án: Quyết định chuyển hồ sơ vụ án (Đ.32); Quyết định tách, nhập vụ án (Đ.33); Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa (Đ.35); Quyết định kháng nghị án phúc thẩm (Đ. 212, 235).

+ Thẩm phán: Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Đ.36); Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án (Đ 36); Quyết định đưa vụ án hành chính ra xét xử (Đ.36); Quyết định triệu tập những người tham gia phiên tòa (Đ.36); Quyết định trưng cầu giám định (Đ 83).

+ Viện trưởng Viện kiểm sát: Quyết định thay đổi Kiểm sát viên (Đ 39); Quyết định kháng nghị án sơ thẩm, phúc thẩm (Đ.181, 212, 235).

Ngoài các chủ thể (cá nhân) được ra các quyết định, Luật Tố tụng Hành chính hiện cũng có quy định chủ thể (cơ quan tiến hành tố tụng) được ra quyết định. Ví dụ: Tòa án ra quyết định định giá tài sản, thẩm định giá tài sản ,thành lập Hội đồng định giá (Đ. 85) hoặc quyết định ủy thác thu thập chứng cứ (Đ.86). v.v... hoặc Hội đồng xét xử có quyền quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên tại phiên tòa (Đ 46).

Như vậy thấy, trong Luật Tố tụng Hành chính có rất nhiều chủ thể tiến hành tố tụng được quyền ban hành quyết định.

4. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính

+ Về khiếu nại: Theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính, các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát và người đứng đầu tổ chức giám định. Cụ thể:

Điều 253. Quy định thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Viện trưởng Viện kiểm sát:

"Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại".

Điều 254 quy định thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thư ký Toà án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán, Phó Chánh án Toà án và Chánh án Toà án:

 "Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thư ký Toà án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán, Phó Chánh án Toà án do Chánh án Toà án giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Toà án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Toà án do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

Quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Toà án phải được gửi cho người khiếu nại và Viện kiểm sát cùng cấp".

Điều 255 quy định thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với người giám định:

"Khiếu nại về hành vi trong tố tụng hành chính của người giám định do người đứng đầu tổ chức giám định trực tiếp quản lý người giám định giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại với người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của tổ chức giám định. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết":

+ Về tố cáo: Luật Tố tụng Hành chính quy định thẩm quyền giải quyết tố các chỉ có 2 chủ thể là Chánh án Tòa án và Viện trưởng Viện kiểm sát.

Điều 259 quy định về thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo, cụ thể:

"l. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền nào thì người đứng đầu cơ quan đó cố trách nhiệm giải quyết.

Trong trường hợp người bị tố cáo là Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thì Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết.

Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.

2. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự".

Qua các quy định trên thấy, thẩm quyền, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính là rõ ràng.

5. Về quyền khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại tiếp theo

+ Đối với khiếu nại:

Luật Tố tụng Hành chính chỉ quy định, nếu người khiếu nại không đồng ý với kết quả giải quyết lần thứ nhất thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo (lần thứ 2) và người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo phải xem xét, giải quyết. Luật không quy định quyết định giải quyết khiếu nại (lần thứ 2) là quyết định có hiệu lực pháp luật hay là quyết định giải quyết cuối cùng như một số luật khác, trong khi Điều 250 yêu cầu người khiếu nại phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Đây cũng là vấn đề cần được liên ngành hướng dẫn.

Với quy định này, việc giải quyết khiếu nại cũng chỉ dừng lại sau lần giải quyết thứ hai và đồng nghĩa quyền khiếu nại tiếp theo của công dân cũng chấm dứt sau khi khiếu nại lần thứ hai.

+ Đối với tố cáo, Luật Tố tụng Hành chính không quy định thẩm quyền, trình tự giải quyết tiếp theo nếu người tố cáo không đồng ý với kết quả giải quyết Như vậy người tố cáo không có quyền tố cáo tiếp sau khi việc tố cáo đã được giải quyết và việc giải quyết tố cáo cũng chỉ 1 lần.

6. Về kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính.

Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính có thể xảy ra bất kỳ giai đoạn tố tụng nào. Tuy nhiên trên thực tế, tố cáo không nhiều còn khiếu nại thường xảy ra tập trung một số loại việc sau:

- Khiếu nại về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khản cấp tạm thời.

- Khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện.

Về trách nhiệm của Viện kiểm sát, Điều 262 quy định: "Viện kiểm sất nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong biếc giải quyết khiêu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Toà án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật". Với quy định này thấy:

* Về đối tượng kiểm sát:

Như đã phân tích trên, chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng hành chính ngoài Viện trưởng Viện kiểm sát còn có Chánh án Tòa án, người đứng đầu tổ chức giám định. Vì vậy đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát là việc tuân theo pháp luật của Chánh án Tòa án, người đứng đầu tổ chức giám định trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính.

* Phạm vi về thời điểm kiểm sát:

Theo quy định, tố tụng hành chính diễn ra bắt đầu khi người khởi kiện nộp đơn, Tòa án có trách nhiệm nhận đơn để xem xét quyết định việc thụ lý hay không thụ lý vụ án đến khi thi hành xong bản án, quyết định của Tòa án. Chúng ta cần chú ý để phân biệt với hoạt động để giải quyết 1 vụ án hành chính. Theo quy định tại Điều 111 thì sau khi xem xét đơn khởi kiện, nếu thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết thì Tòa án thụ lý và thông báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý. Đối với trường hợp qua xem xét đơn khởi kiện, nếu không đủ điều kiện thụ lý (Khoản 1 Điều 109) thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Như vậy, các hoạt động tố tụng hành chính không đồng nghĩa với việc từ khi Tòa án thụ lý vụ kiện. Trong trường hợp đơn khởi kiện đủ điều kiện thụ lý thì các hoạt động của Tòa án như thụ lý, thông báo việc thụ lý... là hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hành chính; trường hợp đơn không đủ điều kiện thụ lý, Tòa án trả lại đơn thì quyết định trả lại đơn của Tòa chính là 1 quyết định trong tố tụng hành chính. Việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện có thể phát sinh khiếu nại và việc giải quyết khiếu nại này cũng đã được quy định tại Điều 110.

Vì vậy, phạm vi về thời điểm kiểm sát của Viện kiểm sát bao gồm cả việc giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện (trước khi Tòa án thụ lý vụ án).

Tuy nhiên, hiện tại đơn vị nghiệp vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính chỉ được giao nhiệm vụ kiểm sát từ khi Tòa án thụ lý vụ án và việc kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại cũng chỉ trong phạm vi hoạt động kiểm sát của mình (theo quyết định 487). Do vậy, nhiệm vụ kiểm sát giải quyết khiếu nại về việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện hoặc Tòa án không thụ lý vụ án cần được phân công cụ thể tránh trường hợp không đơn vị nào làm.

* Về phương thức kiểm sát

Hiện tại, Luật Tố tụng Hành chính chỉ quy định Viện kiểm sát có quyền yêu cầu mà không quy định quyền trực tiếp kiểm sát. Tuy nhiên quyền yêu cầu của Viện kiểm sát như thế nào cũng cần phải được hướng dẫn. Trong khi chưa có hướng dẫn, chúng ta có thể vận dụng các biện pháp yêu cầu như trong Thông tư liên tịch số 03 về kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự. Đó là yêu cầu ra văn bản giải quyết, yêu cầu kiểm tra và thông báo kết quả giải quyết, yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu.

* Về ban hành văn bản kết thúc kiểm sát:

Theo quy định tại Điều 262 thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị. Như vậy hình thức văn bản khi kết thúc kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính là văn bản kiến nghị.

7. Một số vấn đề lưu ý khi giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Điều 211 và Điều 234 Luật Tố tụng Hành chính quy định đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân hoặc cá nhân cơ quan tổ chức có quyền đề nghị bằng văn bản để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật.

Người có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định tại Điều 212 (giám đốc thẩm), Điều 215 (tái thẩm) .

Luật cũng quy định thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm (2 năm kể từ ngày án cơ hiệu lực pháp luật) hoặc không phụ thuộc thời hạn nếu đương sự đã có đơn đề nghị trong thời hạn nhưng chưa được kháng nghị, hết thời hạn mới phát hiện vi phạm cần kháng nghị. Thời hạn kháng nghị tái thẩm là 1 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị tái thẩm.

Tuy nhiên luật không xác định loại đơn này là đơn khiếu nại trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp. Thể hiện ở chỗ luật không quy định bắt buộc sau khi cơ quan tư pháp tiếp nhận đơn phải giải quyết kháng nghị hoặc trả lời cho người đề nghị kháng nghị. Điều này hoàn toàn phù hợp với việc xác định bản chất là đơn đề nghị và quy định về giải quyết đơn đề nghị.

Trên đây là một số nội dung xung quanh trách nhiệm của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các đồng chí phản ảnh, trao đổi đến Vụ Khiếu tố để nghiên cứu trình lãnh đạo VKSNDTC quyết định./.

Nội dung thứ hai

 

NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VÉ KHIẾU NẠI TỐ CÁO VÀ

KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG

LUẠT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

(CÓ HIỆU LỰC Từ 01/7/2011)

 

Luật Thi hành án Hình sự được Chủ tịch nước công bố ngày 29/6/2010, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2011. Luật Thi hành án Hình sự đã được VKSNDTC tổ chức tập huấn cho cán bộ trong toàn ngành vào tháng 3/2011 tại thành phố Hải Phòng và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Riêng phần liên quan đến công tác khiếu tố được quy định trong Luật Thi hành án Hình sự chưa được tập huấn chuyên sâu. Trong phạm vi tập huấn về công tác khiếu tố năm 2011, Vụ 7 xin đề cập những vấn đề cơ bản về khiếu nại, tố cáo, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát giải quyết khiếu nại tố cáo được quy định trong Luật Thi hành án Hình sự.

I. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ; NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYẾN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ.

1. Hệ thống tổ chức thi hành án hình sự

Theo Luật Thi hành án Hình sự, hệ thống tổ chức thi hành án hình sự được phân chia làm 3 loại: Cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án và cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.

Về cơ quan quản lý gồm 2 cơ quan của: Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.

Về cơ quan thi hành án hình sự: Đối với ngành Công an bao gồm: Trại giam thuộc Bộ Công an, cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện. Đối với cơ quan Thi hành án hình sự quân đội gồm có hai đơn vị có quyền thi hành án hình sự đó là: Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và trại giam thuộc Bộ quốc phòng và quân khu.

Về cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án hình sự như: Trại tạm giam (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, của Công an tỉnh và quân khu); Uỷ ban nhân dân cấp xã; đơn vị quân đội (cấp trung đoàn và tương đương) và Toà án nhân dân.

(Như vậy về hệ thống tổ chức thi hành án hình sự đối với cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự không có các cơ quan, tổ chức" như quy định ở Điều 60 Bộ luật Hình sự. Đây là vấn đề cần được khắc phục thi hướng dẫn thi hành pháp luật về thi hành án hình sự).

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống tổ chức thi hành án hình sự và của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án hình sự về giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Đối với cơ quan quản lý thi hành án hình sự: Cả hai cơ quan quản lý (Bộ Công an và Bộ Quốc phòng) đều có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết khiếu nại và tố cáo về thi hành án hình sự.

- Đối với cơ quan thi hành án: Theo Luật Thi hành án Hình sự thì chỉ có cơ quan thi hành án hình sự thuộc Công an cấp tỉnh, cáp huyện và cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm quyền hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự.

Cơ quan thi hành án hình sự là trại giam thì không có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự (Điều 16).

Đối với các cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án (Trại tạm giam, Uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương) không có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết khiếu nại tố cáo về thi hành án hình sự (Điều 17, 18, 19).

Tuy nhiên, khi quy định về thi hành án treo và cải tạo không giam giữ (Chương 5, 6) thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự lại được giao nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết khiếu nại tố cáo về thi hành án treo, cải tạo không giam giữ (Đ63, 74, 83, 90). Như vậy, chỉ còn lại cơ quan: Trại giam và Trại tạm giam các cấp (thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) là không có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự.

II. NHỮNG QUY ĐỊNH về KHIẾU NẠI TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO TRONG LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về thi hành án hình sự được quy định tại Mục 1 Chương XIII Luật Thi hành án Hình sự; gồm có 15 Điều luật quy định những vấn đề có liên quan đến khiếu nại trong thi hành án hình sự, gồm các Điều: Từ Điều 150 đến 184. Cụ thể là:

- Về chủ thể khiếu nại trong thi hành án hình sự, bao gồm 04 loại chủ thể có quyền khiếu nại:

+ Người chấp hành án hình sự;

+ Cơ quan có liên quan;

+ Tổ chức có liên quan;

+ Các cá nhân khác có liên quan.

- Về thời hiệu:

+ Khiếu nại lần đầu: Là 30 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi thi hành án hình sự và cho rằng có vi phạm pháp luật. Trường hợp có trở ngại khách quan thì thời gian trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu.

+ Khiếu nại lần 2: Là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại. (Trường hợp biết được quyết định giải quyết khiếu nại, không phải nhận được quyết định giải quyết thì không phải là căn cứ tính thời hiệu).

- Những trường hợp khiếu nại không được thụ lý: Bao gồm 05 trường hợp, quy định tại Điều 151

+ Quyết định, hành vi bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

+ Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp.

Người đại diện không có giấy tờ chứng minh về đại diện hợp pháp của mình.

+ Thời hiệu khiếu nại đã hết.

+ Khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.

- Thẩm quyền giải quyết (Điều 152) quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự của: Chủ tịch UBND cấp xã; Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, công an cấp tỉnh; thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Công an và của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp quân khu, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.

- Về hiệu lực thi hành trong giải quyết khiếu nại tố cáo: Nhìn chung, Luật Thi hành án Hình sự tuân thủ theo nguyên tắc chung là giải quyết lần 2 là lần giải quyết có hiệu lực thi hành (nếu giải quyết lần 1 bị khiếu nại). Tuy nhiên cá biệt trong trường hợp: Bộ trưởng Bộ Công an giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, của Tư lệnh quân khu và tương đương. Luật Thi hành án Hình sự không quy định lần khiếu nại tiếp theo thì cơ quan nào giải quyết và hiệu lực thi hành với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công an như thế nào (nếu bị khiếu nại tiếp theo).

- Về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại (Điều 154), của người bị khiếu nại (Điều 155); nhiệm vụ, quyền hạn của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (Điều 156); thời hạn giải quyết khiếu nại (Điều 157); việc tiếp nhận thụ lý đơn khiếu nại (Điều 159); hồ sơ giải quyết khiếu nại (Điều 160); trình tự giải quyết khiếu nại lần đầu (Điều 162); thủ tục giải quyết khiếu nại lần 2 (Điều 163) và nội dung quyết định giải quyết lần 2 (Điều 164).

- Về hiệu lực của quyết định giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự được xác định: Nếu quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu không bị khiếu nại tiếp trong thời hiệu do pháp luật quy định thì có hiệu lực thi hành và quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 là quyết định có hiệu lực thi hành. Luật thi hành án hình sự không quy định việc nếu không đồng ý với giải quyết lần 2 mà người khiếu nại có đơn khiếu nại tiếp thì các cơ quan có thẩm quyền xử lý như thế nào (nếu xác định quyết định giải quyết lần 2 có sai lầm).

2. Tố cáo và giải quyết tố cáo trong thi hành án hình sự

Với 05 Điều luật (Mục 2 Chương XIII), tố cáo và giải quyết tố cáo trong thi hành án hình sự quy định những vấn đề:

- Về người có quyền tố cáo (Điều 165).

Luật quy định hai loại người có quyền tố cáo: Đó là người chấp hành án và hai là mọi công dân. Về công dân được hiểu là công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nếu là người nước ngoài, người không quốc tịch (mặc dù sinh sống, làm việc tại Việt Nam nếu không phải là người chấp hành án thì đều không có quyền tố cáo trong thi hành án hình sự).

- Về hình thức tố cáo.

Người tố cáo có thể gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền. Tuy nhiên về hình thức tố cáo qua gửi đơn, luật chưa quy định rõ ngoài gửi đơn thông thường, các hình thức gửi đơn như: Qua thư điện tử, fax... có được chấp nhận hay không.

- Về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, bị tố cáo không có gì khác so với các quy định của các luật khác về khiếu nại tố cáo.

- Về thẩm quyền giải quyết tố cáo: Nguyên tắc chung là tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án hình sự thì người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó giải quyết. Nếu người bị tố cáo là người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp là người giải quyết tố cáo. Riêng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thì giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thi hành án hình sự của người được giao quản lý, giáo dục phạm nhân. Đây là điều đáng lưu ý về thẩm quyền giải quyết tố cáo của Viện kiểm sát nhăn dân trong Luật Thi hành án Hình sự.

- Cũng như các quy định của các luật khác, nếu tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm thì xử lý theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

III. KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát

Luật Thi hành án Hình sự dành toàn bộ Chương XI quy định về kiểm sát thi hành án hình sự, trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát về kiểm sát thi hành án hình sự (Đ141), ngoài việc quy định Viện kiểm sát kiểm sát đối với Toà án, cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát còn kiểm sát đối với cơ quan tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, đồng thời xác định trách nhiệm của Viện kiểm sát là trực tiếp tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án hình sự.

Như vậy, đơn khiếu nại tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát trong thi hành án hình sự chỉ giới hạn về khiếu nại, tố cáo trong việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù (chú ý quản lý, giáo dục (là hoạt động của trại giam, trại tạm giam) khác với giám sát, giáo dục. Giám sát, giáo dục là hoạt động của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự mà không phải là Trại giam, Trại tạm giam).

2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật về khiếu nại, tố cáo

Luật Thi hành án Hình sự quy định quyền trực tiếp kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án hình sự đối với toàn bộ hệ thống tổ chức thi hành án hình sự và tất cả các cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án hình sự, bao gồm: Toà án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự (bao gồm Uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương).

Ngoài quyền kiểm sát trực tiếp, Viện kiểm sát còn có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan quản lý, cơ quan thi hành và cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự thực hiện:

+ Ra văn bản giải quyết.

+ Kiểm tra việc giải quyết của cấp mình và cấp dưới.

+ Cung cấp hồ sơ, tài liệu ... cho Viện kiểm sát.

IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Luật Thi hành án Hình sự có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 song trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy có một số điểm cần được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thực hiện để đảm bảo tính thống nhất trong quá trình thi hành, đó là:

1. Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, tại điểm 3 Điều 10 Luật Thi hành án Hình sự quy định bao gồm các cơ quan sau:

+ Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cấp quân khu (gọi tắt là Trại tạm giam).

+ Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (cấp xã).

+ Đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương.

Đối với quy định này thì cơ quan, tổ chức khác được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo (theo Điều 60 Bộ luật Hình sự) không là cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Như vậy cơ quan, tổ chức (ngoài 3 cơ quan trên) khi được Toà án giao theo Điều 60 Bộ luật Hình sự cần được hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thống nhất khí kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

2. Theo quy định tại Chương V, VI thì trong các cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự thì chỉ có Uỷ ban nhân dân cấp xã và đơn vị quân đội cấp trung đoàn được tiếp nhận và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự. Các Trại giam và Trại tạm giam không có quyền, trách nhiệm giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo - nếu có đơn khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự trong hoạt động quản lý, giáo dục của các Trại tạm giam thì thẩm quyền, trách nhiệm là của Viện trưởng Viện kiểm sát (theo quy định tại Điểm 8 Điều 152) .

Nội dung thứ ba

 

NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ KHIẾU NAI, TỐ CÁO VÀ KIỂM SÁT

 GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG LUẬT THI HÀNH

 ÁN DÂN SỰ VÀ LUẬT SỬA ĐỔI. BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA

 BỘ LUẠT TỐ TỤNG DÂN SỰ

 

A. LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Luật Thi hành án Dân sự (Luật THADS) được Quốc hội khóa 12, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008, được Chủ tịch nước công bố ngày 28/11/2008 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2009. Luật THADS đã kế thừa và phát triển các Pháp lệnh thi hành án dân sự trước đó: Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 và năm 2004. Luật THADS lần này dành toàn bộ Chương VI quy định về khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự. Tuy nhiên, ở Chương II về hệ thống thi hành án dân sự cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức thi hành án dân sự các cấp về giải quyết khiếu nại, tố cáo.

I. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự

1. Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự

Theo Điều 13 Luật THADS thì hệ thống tổ chức Thi hành án dân sự chia làm 2 loại cơ quan: Cơ quan quản lý thi hành án dân sự và Cơ quan thi hành án dân sự.

- Cơ quan quản lý bao gồm 2 cơ quan: Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.

- Cơ quan thi hành án dân sự gồm 3 cơ quan: Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh; cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; cơ quan thi hành án dân sự cấp quân khu và tương đương.

Người có thẩm quyền thi hành dân sự: Luật quy định là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

2. Về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự

Chỉ cơ quan thi hành án dân sự và người có thẩm quyền trong thi hành án dân sự mới có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự (Điều 14,15, 16, 23).

II. Khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự

* Quyền khiếu nại (Điều 140)

Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại về thi hành án dân sự (chú ý: Phải là người liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại).

Thời hiệu khiếu nại được quy định đối với từng loại quyết định (Khoản 2 Điều 140).

* Những trường hợp khiếu lại không được thụ lý:

- Quyết định, hành vi không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

- Người đại diện không đủ điều kiện, giấy tờ chứng minh việc đại diện hợp pháp.

- Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không cố đại diện hợp pháp.

- Đã hết thời hiệu khiếu nại.

- Đã có quyết định giải quyết có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4, Điều 142 (trường hợp cần thiết Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp tỉnh và cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp); trường hợp thứ hai quy định tại Khoản 7 Điều 142 (trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết của Thủ trưởng cơ quan thi hành án Bộ Quốc phòng) .

* Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Chỉ có Thủ trưởng có quan thi hành án, cơ quan quản lý thi hành án dân sự và Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng mới có thẩm quyền giải quyết đối với khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự. Viện kiểm sát chỉ tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự.

Ngoài ra, Luật Thi hành án Dân sự cũng quy định quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, về thời hạn giải quyết; hình thức khiếu nại; việc thụ lý đơn khiếu nại; hồ sơ giải quyết khiếu nại lần thứ 1, lần thứ 2.

2. Tố cáo và giải quyết tố cáo

- Người có quyền tố cáo: Mọi công dân đều có quyền tố cáo

- Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cao không có gì khác với quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo.

- Thẩm quyền giải quyết: Tuân thủ theo nguyên tắc người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó giải quyết.

Tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm thì giải quyết theo Bộ luật Tố tụng Hình sự (Điều l03).

III. Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự

Luật Thi hành án Dân sự chỉ quy định một điều (Điều 159) về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự. Theo đó, Viện kiểm sát chỉ tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị với cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cấp dưới, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Như vậy, Luật Thi hành án Dân sự không quy định cụ thể quyền kiểm sát trực tiếp đối với cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan quản lý thi hành án dân sự như Luật Thi hành án Hình sự. Theo tinh thần pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan quản lý thi hành ấn dân sự, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới:

- Ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Chương VI Luật  này.

- Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và cấp dưới, thông báo kết quả cho Viện kiểm sát.

- Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát.

Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát xem xét, nếu xác định những vi phạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự của cơ quan quản lý, cơ quan thi hành án dân sự thì kiến nghị yêu cầu sửa chữa, khắc phục vi phạm.

B. LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ (BLTTDS SỬA ĐỔI)

BLTTDS sửa đổi hầu như không có quy định mới về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự; các quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự vẫn áp dụng chủ yếu theo BLIDS 2005. Những quy định của BLTTDS sửa đổi liên quan đến khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự được thể hiện thông qua quy định về thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Cụ thể:

* Về thủ tục giám đốc thẩm (Điều 284 BLTTDS 2005) đã được sửa đổi tại Khoản 47, Khoản 48 và Khoản 49, Điều 1 BLTTDS sửa đổi. Theo đó :

- Về thủ tục khiếu nại.

Nếu phát hiện có vi phạm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì đương sự thực hiện quyền khiếu nại như sau: "Trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm". Như vậy, theo quy định của BLTTDS sửa đổi thì quyền khiếu nại của đương sự đối với bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án (theo Khoản 2, Điều 391 BLTTDS năm 2005) được quy định chuyển hóa thành “quyền đề nghị" người có quyền kháng nghị xem xét kháng nghị giám đốc thẩm. "Quyền đề nghị" của đương sự phải được thực hiện thông qua “đơn đề nghị" với những nội dung bắt buộc như: Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị; tên, địa chỉ của người đề nghị; tên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm; lý do đề nghị, yêu cầu của người đề nghị; người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu và phần cuối đơn. Ngoài ra, “người đề nghị phải gửi kèm theo đơn bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho người yêu cầu của mình là có căn cứ" và "đơn đề nghị” và tài liệu chứng cứ được gửi cho người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm".

Qua quy định nêu trên, có thể thấy rằng, BLTTDS sửa đổi quy định khá cụ thể về việc khiếu nại đối với bản án, quyết định có hiệu lực. Trong đó, người khiếu nại thực hiện quyền khiếu nại thông qua đơn đề nghị có nội dung được luật định; thời hiệu khiếu nại là 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực; người khiếu nại phải gửi kèm những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ; và đơn đề nghị phải được gửi đến người có thẩm quyền kháng nghị. Đây có thể gọi là những quy định về "thủ tục khiếu nại đối với bản án, quyết định có hiệu lực". Và dạng khiếu nại này có thể được coi là một dạng khiếu nại “đặc biệt". Tuy nhiên, trong thủ tục khiếu nại vẫn chưa bổ sung quy định về việc đương sự nhờ Luật sư tham gia thực hiện quyền khiếu nại.

- Về thủ tục giải quyết khiếu nai:

Thủ tục giải quyết khiếu nại đối với bản án, quyết định dân sự theo trình tự giám đốc thẩm được hiểu là thủ tục "nhận và xem xét đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm" (Điều 284b BLTTDS sửa đổi). Theo đó, Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Ngày gửi đơn được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị phải cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có trách nhiệm phân công cán bộ tiến hành nghiên cứu đơn, hồ sơ vụ án, báo cáo người có quyền kháng nghị xem xét, quyết định. Trường hợp không kháng nghị thì thông báo bằng văn bản cho đương sự biết. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thủ tục tiếp nhận, xử lý đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm.

Như vậy, thủ tục giải quyết khiếu nại chính là thủ tục giải quyết đơn đề nghị, bao gồm việc: Tiếp nhận đơn đề nghị thông qua các nguồn; cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận phải vào sổ và xác định ngày gửi đơn (để tính thời hiệu khiếu nại); cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự; người có quyền kháng nghị phải phân công cán bộ nghiên cứu, báo cáo để quyết định kháng nghị (nếu có căn cứ kháng nghị) hoặc thông báo bằng văn bản cho đương sự (nếu không có căn cứ kháng nghị). Có thể nói rằng, BLTTDS sửa đổi đã bổ sung mới một số nguyên tắc về thủ tục giải quyết khiếu nại, giảí quyết đơn đề nghị) mà trước đây BLTTDS 2005 chưa quy định. Tuy nhiên, mặc dù là những điểm mới, nhưng đây vẫn chỉ là những quy định mang tính nguyên tắc, vì vậy, để cụ thể hóa thủ tục giải quyết khiếu nại, BLTTDS sửa đổi đã quy định rõ VKSNDTC và TANDTC hướng dẫn cụ thể về thủ tục này. Do đó, để triển khai thực hiện thủ tục giải quyết khiếu nại đối với bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực (hay còn gọi là thủ tục giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm) cần chờ hướng dẫn của liên ngành tư pháp Trung ương.

- Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (tương tự như BLTTDS 2005). Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo Điều 285 BLTTDS 2005 được quy định gồm các chủ thể sau: Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, BLTTDS sửa đổi chưa quy định trường hợp nếu người khiếu nại (người có đơn đề nghị) không đồng ý với văn bản thông báo của người có thẩm quyền kháng nghị và tiếp tục khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết tiếp theo sẽ thuộc chủ thể nào; hoặc trường hợp sau khi người có thẩm quyền ban hành kháng nghị, nhưng những người tham gia tố tụng khác biết việc kháng nghị và khiếu nại đối với quyết định kháng nghị (vì quyền lợi của họ có thể bị ảnh hưởng bởi quyết định kháng nghị) thì thẩm quyền giải quyết loại khiếu nại như thế nào.

- Về thời hạn giải quyết khiếu nại:

Theo Khoản 49, Điều 1 BLTTDS sửa đổi thì Điều 288 BLTTDS năm 2005 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 288. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quyền kháng nghị trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này.

2. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm hai năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:

a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại Khoản 1 Điều 284 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại Khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;

b) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó".

Như vậy, thời hạn giải quyết khiếu nại đối với bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm được hiểu tương ứng với thời hạn giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm và được áp dụng thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm. Theo đó, thời hạn giải quyết khiếu nại được chia thành 2 trường hợp:

- Trường hợp thứ nhất: Thời hạn giải quyết khiếu nại là 3 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực (tương tự như quy định trong BLTTDS năm 2005 trước đây);

- Trường hợp thứ hai: Thời hạn giải quyết khiếu nại được kéo dài thêm 2 năm, nếu đáp ứng 2 điều kiện:

+ Điều kiện thứ nhất: Đương sự đã khiếu nại (có đơn đề nghị) và hết thời hạn 3 năm trong trường hợp thứ nhất" vẫn tiếp tục khiếu nại (có đơn đề nghị).

+ Điều kiện thứ hai: Bản án, quyết định có hiệu lực phải có vi phạm theo quy định tại Điều 283 BLTTDS năm 2005 (căn cứ để kháng nghị).

Theo các quy định trên thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài đến 5 năm. Thời hạn như vậy là quá dài so với các thời hạn giải quyết khiếu nại nói chung cũng như thời hạn giải quyết khiếu nại trong hoạt động tư pháp nói riêng. Tuy nhiên, đây là việc giải quyết loại khiếu nại "đặc biệt" (gắn liền với thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm) nên luật quy định thời hạn như vậy là hợp lý.

* Về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (theo Khoản 52, Điều 1 BLTTDS sửa đổi).

Thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về nguyên tắc được áp dụng theo thủ tục đặc biệt. Tuy nhiên, theo thủ tục này, đương sự nếu phát hiện quyết định của Hội đồng Thẩm phán có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định thì việc khiếu nại sẽ khác với thủ tục giám đố thẩm; đương sự không có quyền trực tiếp làm đơn đề nghị Hội đồng Thẩm phán xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán; chỉ có các chủ thể gồm: UBTV Quốc hội có quyền yêu cầu, UBTP của Quốc hội và Viện trưởng VKSNDTC có quyền kiến nghị, Chánh án TANDTC có quyền đề nghị Hội đồng Thẩm phán xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán; do vậy, đương sự không thể khiếu nại (đề nghị) trực tiếp mà chỉ có thể thực hiện quyền khiếu nại gián tiếp thông qua việc đề nghị UBTV Quốc hội hoặc UBTP của Quốc hội hoặc Viện trưởng VKSNDTC hoặc Chánh án TANDTC hoặc tất cả các chủ thể trên thực hiện thẩm quyền của mình; việc khiếu nại (đề nghị) của đương sự có được giải quyết hay không còn tùy thuộc vào việc các chủ thể trên có chấp nhận khiếu nại (đề nghị) của đương sự hay không, tức là các chủ thể trên phải có thời gian xem xét việc khiếu nại (đề nghị) của đương sự có căn cứ không, nếu có căn cứ "xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết định đó”, thì các chủ thể thực hiện thẩm quyền của mình; sau đó, thủ tục tiếp theo sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 310a và Điều 310b BLTTDS sửa đổi .

Như vậy, có thể thấy rằng thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng Thẩm phán được thực hiện gián tiếp qua thủ tục yêu cầu (của UBTV Quốc hội), kiến nghị (của UBTP của Quốc hội và Viện trưởng VKSNDTC), đề nghị (của Chánh án TANDTC) và thủ tục giải quyết các yêu cầu, kiến nghị, đề nghị đó do Hội đồng Thẩm phán thực hiện. Đây là những thủ tục đặc biệt và rất phức tạp, nên BLTTDS sửa đổi đã giao Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành. Do đó, việc áp dụng các thủ tục này trong thực tiễn cần chờ hướng dẫn.

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

TÀI LIỆU TẬP HUẤN CÔNG TÁC KHIẾU TỐ NĂM 2011

Phần ba

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC TRONG CÔNG TÁC KHIẾU TỐ

Trong những năm qua, các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp đã cơ bản được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tư pháp cũng như ngành Kiểm sát trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đối với ngành Kiểm sát, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp có nhiều chuyển biến tích cực, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo từng bước đi vào nề nếp, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và của ngành, hầu hết các khiếu nại, tố cáo khi mới phát sinh đều được xem xét giải quyết kịp thời, một số vụ việc khiếu nại, tố cáo bức xúc kéo dài đã được giải quyết dứt điểm; công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp cũng được chú trọng, nhiều vi phạm của các cơ quan tư pháp trong việc chấp hành trình tự, thủ tục và áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo được Viện kiểm sát các cấp phát hiện và kiến nghị sửa chữa. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, một số vướng mắc nảy sinh, có vướng mắc từ nhận thức, có vướng mắc từ các quy định của pháp luật, của Ngành ... đã phần nào làm hạn chế chất lượng, hiệu quả công tác này. Để tạo sự thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trao đổi, giải đáp một số vấn đề vướng mắc về công tác này.

I. KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

1. Về hình thức khiếu nại, tố cáo

Theo quy định tại Điều 33 Luật Khiếu nại, tố cáo và Thông tư số 04/TT-TTCP ngày 26/8/2010 thì người khiếu nại có thể khiếu nại bằng một trong ba hình thức: Khiếu nại bằng đơn, khiếu nại trực tiếp hoặc khiếu nại thông qua người đại diện.

Trường hợp việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung lý do khiếu nại và yêu cầu của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên.

- Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp (tại cơ quan có thẩm quyền) thì cán bộ có trách nhiệm phải hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc ghi lại các nội dung như ở phần trên, có chữ ký của người khiếu nại.

- Trường hợp việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và việc khiếu nại phải thực hiện theo đúng thủ tục quy định như trên.

Đơn khiếu nại, tố cáo đủ điều kiện xử lý phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Đơn có chữ viết là tiếng Việt và được người khiếu nại, tố cáo, người phản ảnh, kiến nghị ký tên trực tiếp;

- Đơn tố cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ người tố cáo; nội dung tố cáo; cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tố cáo;

- Đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người phản ánh, kiến nghị; nội dung phản ánh, kiến nghị; Đơn chưa được cơ quan tiếp nhận xử lý theo quy định của pháp luật hoặc đã được xử lý theo quy định của pháp luật nhưng người khiếu nại, người tố cáo, người phản ánh, kiến nghị cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới. Theo điểm c Khoản 1 Điều 38 Nghị định số 136 ngày 14/11/2006  của Chính phủ quy định, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không xem xét, giải quyết những đơn tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

Từ những căn cứ nêu trên thấy rằng: Hình thức khiếu nại, tố cáo được in sao trong đĩa cũng không được coi là một hình thức khiếu nại, tố cáo.

Đơn phô tô chữ ký gửi bảo đảm qua đường bưu điện cũng không xem xét giải quyết theo quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo và điểm c Khoản 1 Điều 38 Nghị định 136 ngày 14/11/2006 của Chính phủ, đồng thời những đơn này cũng không được coi là đơn gửi trực tiếp.

2. Thẩm quyền ký văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo

Việc ký văn bản là vấn đề quan trọng để xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo. Vậy các văn bản của cấp phó ký thay có được xác định là văn bản của cấp trưởng?

Trước hết phải xác định được thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc cơ quan, cá nhân nào, từ đó mới xác định được người ký văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Trong hệ thống bộ máy nhà nước, việc xác định vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự vận hành của cả hệ thống. Nó chỉ ra cách thức tổ chức, hoạt động của từng cơ quan và việc phối hợp để thực thi nhiệm vụ giữa các cơ quan đó với nhau. Điều này tạo cho cả hệ thống bộ máy vận hành được nhịp nhàng, khoa học và hiệu quả.

Trong lĩnh việc giải quyết khiếu nại hành chính việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại là căn cứ quan trọng để các cơ quan nhà nước tiếp nhận, xác minh và ra quyết định giải quyết khiếu nại đúng pháp luật. Đồng thời còn tạo điều kiện thuận lợi để người khiếu nại tìm đến đúng cơ quan có thẩm quyền xem xét, tránh việc kéo dài thời gian, lãng phí tiền của cho cả người khiếu nại và cơ quan xử lý đơn khiếu nại.

Đối với mỗi lĩnh vực cụ thể, pháp luật đều có quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ví dụ: Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005) từ Điều 19 đến Điều 25; Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 từ Điều 329 đến Điều 332 và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 từ Điều 395 đến Điều 397.v.v... Theo đó, các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy định là những người đứng đầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở các cấp. Đối với khiếu nại về hành chính, theo quy định từ Điều 19 đến Điều 25 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005), thì:

1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp

2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại.

3. Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thấm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

4. Giám đốc sở và cấp tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại.

5. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại; giải quyết khiếu nại mà Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

6. Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

7. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại; giải quyết khiếu nại có nội dung thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại.

8. Tổng Thanh tra có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại; giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật;

Tóm lại: Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong hành chính sẽ là Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng phòng ban chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở, Chủ tịch UBND cấp huyện, Giám đốc Sở, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Đối với khiếu nại trong tố tụng hình sự và tố tụng dân sự thì đối tượng khiếu nại là các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của:

- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên;

- Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;

- Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán;

- Và những người khác mà theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Thư ký Toà án, Hội thẩm nhân dân.

(Lưu ý: trong số những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì hoạt động tố tụng của Hội thẩm và Thư ký Toà án không thuộc đối tượng của khiếu nại của Bộ luật Tố tụng Hình sự mà thuộc đối tượng khiếu nại của Bộ luật Tố tụng Dân sự được quy định tại chương XXXIII).

Như vậy, đối với khiếu nại trong tố tụng hình sự và dân sự, người bị khiếu nại không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của chính mình, việc giải quyết được luật quy định thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan cùng cấp hoặc cấp trên. Ngoài ra trong tố tụng hình sự, đối với một số quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng thuộc các Cơ quan điều tra, cơ quan khác được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, luật quy định thẩm quyền giải quyết thuộc Viện kiểm sát.

Từ những căn cứ nêu trên thì các văn bản, quyết định giải quyết khiếu nại đều do Thủ trưởng cơ quan ký giải quyết. Trường hợp cấp phó ký thay các văn bản, quyết định giải quyết khiếu nại không được coi là văn bản, quyết định giải quyết khiếu nại của cấp trưởng.

Khi Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị vắng mặt một Phó Thủ trưởng được Thủ trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng. Phó Thủ trưởng phải chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được giao. Điều này được quy định tại Khoản 1 các điều 34, 36, 38 BLTTHS và điều 40 BLTTDS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS; Chánh án, Phó Chánh án TA. Trong các hoạt động tố tụng về hình sự và dân sự tuỳ theo những nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, các cơ quan tố tụng có thể uỷ nhiệm nhiệm vụ giải quyết khiếu nại cho một Phó Thủ trưởng các cơ quan tố tụng khi Thủ trưởng vắng mặt. Lúc này các văn bản, quyết định giải quyết khiếu nại của cấp phó được coi là văn bản, quyết định giải quyết của cấp trưởng.

3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại kết luận điều tra do Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký và quyết định không khởi tố vụ án hình sự do Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký.

Kết luận điều tra hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự là một trong các văn bản, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra được ban hành sau quá trình điều tra vụ án hình sự hoặc quá trình xem xét, xử lý tin báo tố giác tội phạm. Theo qui định Bộ luật Tố tụng Hình sự, Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người có thẩm quyền ký hai loại văn bản quan trọng này. Đó không chỉ là những văn bản của Cơ quan điều tra thể hiện kết quả đánh giá về thực tế khách quan đối với hành vi có dấu hiệu tội phạm bị phát giác mà còn là sự áp dụng pháp luật theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do Bộ luật Tố tụng Hình sự qui định, tác động đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng. Do vậy, các văn bản này có thể bị khiếu nại nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan thấy có căn cứ cho rằng trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của họ. Chương XXXV Bộ luật Tố tụng Hình sự đã qui định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, song trong thực tế, việc áp dụng các quy định này để giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp còn thiếu thống nhất.

Để làm rõ vấn đề này, trước hết cần xác định những căn cứ pháp luật liên quan đến văn bản kết luận điều tra và quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Tại Khoản 2, Khoản 3, khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng Hình sự qui định: Khoản 2:  ... "Khi thực hiện việc điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a. Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định không khởi tố vụ án;…

d. Kết luận điều tra vụ án;"...

Khoản 3: "Khi được phân công điều tra vụ án hình sự, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ và quyền hạn được qui định tại Khoản 2 Điều này.

Khoản 4: "Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình".

Như vậy, Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra khi chỉ đạo hay trực tiếp thực hiện nhiệm vụ điều tra đối với một vụ án hình sự, đều chịu trách nhiệm của người đứng đầu Cơ quan điều tra đối với việc điều tra vụ án mình được phân công. Khi đó, các chủ thể này có thẩm quyền ban hành kết luận điều tra hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc ban hành văn bản của mình. Mặc dù về giá trị pháp lý đối với vụ án của văn bản (Kết luận điều tra, quyết định không khởi tố vụ án hình sự) do Phó Thủ trưởng hay Thủ trường Cơ quan điều tra ký là như nhau, nhưng nếu bị khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết lại khác nhau. Cụ thể: Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự qui định: ... khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra do Thủ thường Cơ quan điều tra xem xét, giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cùng cấp ... Viện kiểm sát cùng cấp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra do Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền khiếu nại cuối cùng."

3.1. Đối với kết luận điều tra:

Tại Khoản 2, Khoản 3, Điều 162 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định:

"2. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra".

3. Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận".

Các qui định này, ngoài tác dụng là căn cứ cho việc tiến hành tố tụng còn có ý nghĩa trong việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết khiếu nại và thời hiệu khiếu nại. Có các dạng kết luận điều tra là: Kết luận + đình chỉ điều tra và kết luận + đề nghị truy tố, song dù ở loại nào thì một kết luận điều tra cũng chỉ do một người ký ban hành đúng thẩm quyền theo qui định của Điều 34 Bộ luật Tố tụng Hình sự đã được trích dẫn trên đây (Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra). Tuy nhiên, đối với mỗi loại kết luận điều tra thể hiện mức độ quyền quyết định khác nhau của cơ quan ban hành (Cơ quan điều tra) mà đặt ra cho hoạt động giải quyết khiếu nại những tình huống khác nhau.

Trong trường hợp "kết luận điều tra và đình chỉ điều tra, thì bản kết luận điều tra được ban hành đồng thời với quyết định đình chỉ. Trường hợp này, thực tế có thể nội dung kết luận điều tra không bị khiếu nại nhưng quyết định đình chỉ điều tra bị khiếu nại (ví dụ việc áp dụng căn cứ pháp luật), nhất là đối với những trường hợp có liên quan đến trách nhiệm bồi thường theo Nghị quyết 388. Để giải quyết loại khiếu nại này, khi xem xét quyết định đình chỉ điều tra, chúng ta đồng thời phải xem xét lại kết luận điều tra và ngược lại. Nếu quyết định không có căn cứ (khiếu nại đúng) thì người giải quyết khiếu nại, ra quyết định giải quyết và áp dụng hoặc kiến nghị áp dụng biện pháp khắc phục vi phạm đối với quyết định đình chỉ bị khiếu nại; nếu khiếu nại không có cơ sở (kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra là đúng) thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại không chấp nhận những nội dung khiếu nại. Đối với tình huống này hoàn toàn phù hợp và mang tính lôgic giữa hình thức văn bản bị khiếu nại với văn bản giải quyết khiếu nại (đều là quyết định) theo Thông tư liên tịch số 02 ngày 10/8/2005 của liên ngành tư pháp Trung ương.

Trong trường hợp kết luận điều tra và đề nghị truy tố thì bản kết luận điều tra là văn bản đề nghị truy tố. Trong thực tế có quan điểm băn khoăn về hình thức ban hành văn bản giải quyết loại khiếu nại này. Bởi vì, kết luận điều tra là việc Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố, Viện kiểm sát chỉ có thể chấp nhận hay không chấp nhận sự đề nghị của Cơ quan điều tra bằng việc ra quyết định truy tố (cáo trạng), hoặc ra một trong các quyết định tố tụng khác (đình chỉ, trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung... ) chứ không được huỷ quyết định điều tra.

Để giải quyết vấn đề này, chúng ta trở lại vấn đề về đối tượng và thủ tục khiếu nại theo Bộ luật Tố tụng Hình sự và Thông tư liên tịch số 02. Theo đó, "quyết định, hành vi bị khiếu nại" luôn được qui định chung trong một qui phạm, không có sự phân biệt giữa quyết định hay hành vi tố tụng. Về hình thức, việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng chỉ có một loại duy nhất là quyết định giải quyết khiếu nại theo qui định tại mục 2.1 , điểm 2 phần II Thông tư liên tịch số 02. Việc ban hành quyết định giải quyết này được qui định chung là thuộc trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, không phân biệt đó là Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết khiếu nại kết luận điều tra do Phó Thủ trưởng ký hay Viện trưởng kiểm sát ngang cấp giải quyết khiếu nại kết luận điều tra do Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký. Mặt khác, việc giải quyết khiếu nại là qui định bắt buộc của Bộ luật Tố tụng Hình sự nhằm buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét lại hành vi tố tụng của mình một cách khách quan, tránh oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Cho nên cần được tuân theo thủ tục độc lập và việc giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ riêng theo qui định tại Thông tư liên tịch số 02, không coi hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát thay việc giải quyết khiếu nại của Cơ quan điều tra. Ví dụ: Công dân khiếu nại Kết luận điều tra do Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải giải quyết khiếu nại, không coi Cáo trạng của Viện kiểm sát là văn bản giải quyết khiếu nại.

Do vậy, cần khẳng định, khi kết luận điều tra bị khiếu nại đều phải được người có thẩm quyền ra quyết định giải quyết; có sự phân biệt thẩm quyền giải quyết là: Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết khiếu nại kết luận điều tra do Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký và Viện trưởng Viện kiểm sát ngang cấp giải quyết khiếu nại do Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký.

3.2. Đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Đây là một quyết định tố tụng, việc xác định thẩm quyền giải quyết phải tuân theo qui định chung tại Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự và thủ tục giải quyết cũng phải tuân theo Thông tư liên tịch số 02 như đã trích dẫn trên đây. Thực tiễn có quan điểm cho rằng, việc ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là đã có sự thống nhất giữa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và nhiều trường hợp còn có ý kiến thống nhất của Viện kiểm sát thể hiện bằng văn bản, nên nếu có khiếu nại quyết định không khởi tố của Thủ trưởng Cơ quan điều tra hay Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký thì cũng đều do Viện kiểm sát ngang cấp giải quyết.

Cần khẳng định quan điểm này không phù hợp với các qui định của pháp luật. Bởi lẽ, quyết định không khởi tố vụ án hình sự là một văn bản áp dụng pháp luật do người có thẩm quyền ban hành. Vì vậy, người ban hành (người ký) đương nhiên phải tuân thủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chữ ký của mình, quyết định đó phải chịu sự điều chỉnh thống nhất của pháp luật, cụ thể là Bộ luật Tố tụng Hình sự, Thông tư liên tịch số 02. Cho dù quá trình phân loại xử lý tố giác, tin báo về tội phạm không chỉ do một mình người ký thực hiện mà luôn có sự bàn bạc, đánh giá và thống nhất giữa Cơ quan điều tra với đại diện Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố (kiểm sát phân loại, xử lý tội phạm). Song để xác định giá trị pháp lý của kết quả hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thì chỉ duy nhất là quyết định khởi tố hay không khởi tố do Phó Thủ trưởng hoặc Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký; nếu dừng lại ở sự bàn bạc, thống nhất giữa các thành phần tham gia xừ lý tố giác, tin báo về tội phạm mà chưa có quyết định thì coi như chưa có kết quả của hoạt động tố tụng này. Do đó, việc trao đổi, bàn bạc trước khi ban hành quyết định khởi tố chưa có giá trị pháp lý trong việc giải quyết xử lý tố giác, tin báo về tội phạm. Khi Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công điều tra vụ án hình sự thì được quyền ra quyết định không khởi tố như Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Trong trường hợp đó, Phó Thủ trưởng vừa chịu trách nhiệm trước pháp luật vừa chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Cho nên nếu quyết định bị khiếu nại thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải xem xét, giải quyết trong phạm vi trách nhiệm của cấp điều tra do mình đứng đầu đối với việc ra quyết định bị khiếu nại đó.

Vì vậy, cũng như tất cả các quyết định tố tụng khác, nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự bị khiếu nại thì tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền thống nhất do Bộ luật Tố tụng Hình sự qui định, đó là: Quyết định do Phó Thủ trưởng ký thì do Thủ trưởng giải quyết, nếu Thủ trưởng ký thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết.

4. Khiếu nại đối với bản cáo trạng

Khiếu nại đối với bản cáo trạng đã diễn ra từ lâu và được pháp luật quy định, tuy vậy, việc giải quyết loại khiếu nại này đến nay vẫn chưa có sự thống nhất nhận thức về thẩm quyền giải quyết, có quan điểm cho rằng thẩm quyền giải quyết là theo Điều 330 Bộ luật Tố tụng Hình sự, song cũng còn quan điểm cho rằng, thẩm quyền giải quyết là của Tòa án theo Điều 176 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đối với vướng mắc này, VKSNDTC (Vụ Khiếu tố) có ý kiến như sau: Năm 2007, VKSNDTC đã tiến hành sơ kết 1 năm thực hiện Quy chế số 59 về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát. Khi sơ kết Quy chế số 59, một số Viện kiểm sát cũng đã đề nghị giải đáp vấn đề này, VKSNDTC đã có văn bản giải đáp và gửi tài liệu giải đáp đến các Đại biểu tại Hội nghị tập huấn công tác khiếu tố tổ chức vào tháng 6 năm 2007. Tuy vậy, thực tế phát sinh khiếu nại đối với bản cáo trạng rất đa dạng đã gây nên nhận thức và áp dụng pháp luật khác nhau. Trên thực tế thường xảy ra một số trường hợp như sau:

4.1 . Khiếu nại bản cáo trạng khi hồ sơ chưa chuyển đến Tòa án

Bản cáo trạng là văn bản pháp lý được ban hành sau khi kết thúc một giai đoạn của tố tụng hình sự, theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có quyền quyết định việc truy tố bị can. Việc truy tố bằng bản cáo trạng là kết quả của một quá trình Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy rằng, quá trình hoạt động điều tra đã đủ chứng cứ chứng minh bị can phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự và mọi hoạt động tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Vì vậy, bản cáo trạng là một quyết định tố tụng do Viện kiểm sát ban hành.

Năm 2007, tại Hội nghị tập huấn về công tác khiếu tố, vấn đề này cũng tiếp tục được một số Đại biểu đề cập đến, sau đó VKSNDTC (Vụ Khiếu tố) cũng đã có công văn số 2471/VKSTC-V7 ngày 20/7/2007 giải đáp, hướng dẫn. Cụ thể, khiếu nại bản cáo trạng của Viện kiểm sát (do Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên được thừa ủy quyền ký) thì Viện trưởng cùng cấp giải quyết; khiếu nại bản cáo trạng do Viện trưởng kiểm sát hoặc khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại bản cáo trạng do Viện trưởng ký thì Viện kiểm sát cấp trên giải quyết.

Theo Điều 330 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện kiểm sát được quy định như sau:

"Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát Kiểm sát viên do Viện trưởng giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ khi nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng".

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Viện kiểm sát cấp trên có thẩm quyền giải quyết cuối cùng".

Thông qua giải quyết khiếu nại bản cáo trạng, Viện kiểm sát có điều kiện kiểm tra lại tính đúng đắn của quyết định truy tố hoặc để kịp thời khắc phục những sai sót của quyết định nhằm tránh việc Tòa án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tuyên bị cáo không phạm tội.

Như vậy, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn giải quyết khiếu nại phải tuân theo Điều 330 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

4.2. Sau khi hồ sơ vụ án đã chuyển sang Tòa

Như trên đã phân tích, bản cáo trạng là quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án duy nhất chỉ có Viện kiểm sát cố thẩm quyền ban hành; cáo trạng giới hạn phạm vi xét xử của Toà án, Tòa án chỉ xét xử những bị cáo, những hành vi theo tội danh đã nêu trong bản cáo trạng được quy định trong Bộ luật Hình sự và là cơ sở, căn cứ để Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tiến hành các hoạt động tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Theo quy định, đơn khiếu nại đối với quyết định của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự hoặc hành vi của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát trong quá trình tiến hành tố tụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Do vậy, khiếu nại đối với bản cáo trạng là thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát. Vì vậy, mặc dù hồ sơ chính vụ án đã được chuyển đến Tòa, khi xem xét giải quyết khiếu nại đối với bản cáo trạng, Viện kiểm sát không nhất thiết phải có hồ sơ chính vụ án, thông qua hồ sơ kiểm sát được lập theo Quy chế số 07/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chúng ta cũng có thể có đủ cơ sở và niềm tin và hồ sơ này cũng phản ánh đầy đủ hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm phạm tội, người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tình tiết định tội, định khung hình phạt. Đây là hồ sơ làm cơ sở cho Kiểm sát viên bảo vệ quyết định truy tố của Viện kiểm sát và là cơ sở cho Viện kiểm sát giải quyết khiếu nại đối với bản cáo trạng.

Đối với quy định về thẩm quyền giải quyết đơn khiếu nại của Thẩm phán trước khi mở phiên tòa:

Khoản 1 Điều 176 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: "Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa".

Mặc dù Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa khi thực hiện nhiệm vụ có những quyền hạn nhất định (quy định tại Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Hình sự), song việc giải quyết khiếu nại phải tuân theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều 331 quy định: "Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Phó Chánh án trước khi mở phiên tòa do Chánh án giải quyết...". Như vậy, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với bản cáo trạng.

Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện còn một số quy định khác gây khó hiểu khi áp dụng. Vấn đề này, VKSNDTC đang nghiên cứu để kiến nghị khắc phục khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Hình sự trong thời gian tới.

4.3. Về việc lập hồ sơ giải quyết khiếu nại bản cáo trạng

Hồ sơ giải quyết đơn khiếu nại không thể chung hồ sơ án hình sự vì, hồ sơ giải quyết đơn lập theo quy định tại Khoản 1 Điểm 1.4 phần II Thông tư liên tịch số 02. Thông tư số 02 quy định: việc giải quyết đơn khiếu nại phải được thể hiện bằng quyết định và phải có hồ sơ... ". Ngoài việc chấp hành quy định phải lập hồ sơ giải quyết khiếu nại còn để phục vụ cho việc giải quyết khiếu nại tiếp theo (nếu có), hoặc phục vụ việc lưu trữ, kiểm tra nghiệp vụ.v.v…

Tóm lại khiếu nại bản cáo trạng thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tuân theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

5. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với văn bản giải quyết khiếu nại cuối cùng.

Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi năm 2004 và 2005) đã bỏ quy định về “quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng", chỉ quy định “quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật"; đồng thời quy định "quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật" bao gồm: Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, quyết định giải quyết khiếu nại lần hai mà trong thời hạn do pháp luật quy định người khiếu nại không khiếu nại tiếp, không khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án". Bên cạnh đó, Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành cũng không quy định việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với "quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật mà chỉ quy định đối với việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết có hiệu lực pháp luật thì không thụ lý để giải quyết.

Bộ luật TTHS và Bộ luật TTDS đều có quy định "quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng", nhưng lại không quy định về quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật"; đồng thời, không có quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với văn bản giải quyết khiếu nại cuối cùng; hiện nay, chỉ có Thông tư liên tịch số 02 quy định về vấn đề này, cụ thể: "Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thụ lý khiếu nại để giải quyết khi có đủ các điều kiện sau đây: "Việc khiếu nại chưa có quyết định giải quyết cuối cùng ..." (Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II); "Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc đã có quyết định giải quyết cuối cùng thì cơ quan nhận được đơn không có trách nhiệm giải quyết, nhưng phải có văn bản chỉ dẫn, trả lời cho người khiếu nại" (Điểm a, Tiểu mục 1.3, Mục 1, Phần II). Theo quy định trên thì trong tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền sẽ không thụ lý việc khiếu nại hoặc không có trách nhiệm giải quyết những đơn khiếu nại đã có quyết định giải quyết cuối cùng.

Mặc dù các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh về khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp không quy định thế nào là "quyết định giải quyết cuối cùng", cũng như hậu quả pháp lý của nó; nhưng theo tinh thần trong các quy định của pháp luật thì “quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng" được hiểu là quyết định có hiệu lực pháp luật, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan có trách nhiệm thi hành; hậu quả pháp lý của nó là chấm dứt việc giải quyết khiếu nại và người khiếu nại hết quyền khiếu nại. Đây là một nguyên tắc trong giải quyết khiếu nại nói chung và khiếu nại về tư pháp nói riêng. Tuy nhiên, thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại cho thấy, có rất nhiều trường hợp việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết cuối cùng, nhưng người khiếu nại vẫn tiếp tục khiếu nại; thậm chí có trường hợp thông qua việc khiếu nại tiếp (hoặc các nguồn thông tin khác) mà các cơ quan có thẩm quyền phát hiện quyết định giải quyết cuối cùng có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hoặc xuất hiện những tình tiết khách quan mới làm thay đổi cơ bản nội dung việc giải quyết khiếu nại, mà các cơ quan có thẩm quyền giải quyết trước đó không biết được. Trong những trường hợp này, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong đó có Viện kiểm sát các cấp, thường lúng túng trong cách xử lý; vì không có căn cứ pháp luật để áp dụng. Đây là một bất cập của pháp luật dẫn đến khó khăn, vướng mắc của các cơ quan nhà nước nói chung và Viện kiểm sát nói riêng.

Về nguyên tắc, Viện kiểm sát các cấp không có trách nhiệm thụ lý, giải quyết loại đơn này theo thủ tục thông thường mà chỉ tiếp nhận đơn và kiểm tra lại (đồng thời có thể trực tiếp làm việc với người khiếu nại thông qua hình thực tiếp công dân) để làm rõ việc khiếu nại có căn cứ không; nếu việc khiếu nại không có căn cứ (tức là quyết định giải quyết cuối cùng là đúng) thì có văn bản trả lời người khiếu nại (không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại); nếu việc khiếu nại là đúng một phần hoặc đúng toàn bộ, tức là người khiếu nại đưa ra được những căn cứ chứng minh quyết định giải quyết cuối cùng có vi phạm pháp luật hoặc đưa ra được những tình tiết mới làm thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung việc giải quyết khiếu nại, thì cần thực hiện như sau:

- Nếu Viện kiểm sát đã nhận đơn, đồng thời lại là cơ quan đã ban hành quyết định giải quyết cuối cùng, thì phải ban hành quyết định hủy hoặc rút quyết định giải quyết cuối cùng của mình để giải quyết lại. Ví dụ: VKSND cấp tỉnh là cơ quan đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, khi nhận được đơn khiếu nại, nếu qua nghiên cứu thấy việc khiếu nại là có căn cứ, thì ra quyết định hủy hoặc rút quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng mà mình đã ban hành, đồng thời tiến hành giải quyết lại.

- Nếu Viện kiểm sát đã nhận đơn không phải là cơ quan ban hành quyết định giải quyết cuối cùng, mà cơ quan ban hành là Viện kiểm sát cấp dưới, thì Viện kiểm sát đã nhận đơn có văn bản chỉ đạo Viện kiểm sát cấp dưới ban hành quyết định rút hoặc hủy quyết giải quyết cuối cùng để giải quyết lại; hoặc sử dụng quyền hạn được quy định tại Điều 8 Luật Tổ chức VKSND để rút hoặc hủy quyết định giải quyết cuối cùng của cấp dưới, đồng thời yêu cầu cấp dưới giải quyết lại. Ví dụ: VKSND cấp tỉnh nhận được đơn khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng do VKSND cấp huyện (thuộc thẩm quyền quản lý của mình) ban hành, nếu qua nghiên cứu thấy việc khiếu nại là có căn cứ thì ra văn bản yêu cầu VKSND cấp huyện đó ra quyết định hủy hoặc rút quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đã ban hành để giải quyết lại; hoặc VKSND cấp tỉnh tự ra quyết định rút hoặc hủy quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của VKSND cấp huyện và yêu cầu VKSND cấp huyện giải quyết lại.

- Nếu Viện kiểm sát nhận được khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của Cơ quan điều tra: Về nguyên tắc, quyết định giải quyết khiếu nại của Cơ quan điều tra chỉ là quyết định giải quyết lần đầu (Cơ quan điều tra không có thẩm quyền giải quyết cuối cùng), nhưng do người khiếu nại không khiếu nại tiếp khi còn thời hiệu khiếu nại, nên quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Cơ quan điều tra sẽ có hiệu lực kể khi hết thời hiệu khiếu nại và có giá trị pháp lý như quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát cần vận dụng quyền hạn trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp để xử lý, cụ thể:

+ Trường hợp phát hiện vi phạm thì thực hiện quyền yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp hồ sơ vụ việc giải quyết khiếu nại; sau đó nghiên cứu hồ sơ để nắm chắc vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại để làm căn cứ ra quyết định tiến hành kiểm sát trực tiếp đối với Cơ quan điều tra, kết thúc kiểm sát, làm rõ vi phạm và tùy theo mức độ vi phạm để ban hành kiến nghị hoặc kháng nghị yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm theo hướng rút hoặc hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực để giải quyết lại;

+ Trường hợp phát hiện tình tiết mới thì thực hiện quyền yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp hồ sơ vụ việc giải quyết khiếu nại để nghiên cứu xác định tình tiết mà người khiếu nại đưa ra có phải là tình tiết mới phát sinh, có liên quan và làm thay đổi cơ bản nội dung việc giải quyết khiếu nại. Nếu xác định không phải là tình tiết mới có liên quan và làm thay đổi cơ bản nội dung việc giải quyết thì ban hành công văn trả lời người khiếu nại. Nếu xác định đây là tình tiết mới có liên quan và làm thay đổi cơ bản nội dung việc giải quyết thì thực hiện quyền kiến nghị yêu cầu Cơ quan điều tra ban hành quyết định rút hoặc hủy quyết định giải quyết có hiệu lực pháp luật để giải quyết lại. Lưu ý, riêng trường hợp này, Viện kiểm sát không thể quyết định kiểm sát trực tiếp đối với Cơ quan điều tra; bởi lẽ, căn cứ để tiến hành kiểm sát trực tiếp là "xét thấy việc giải quyết chưa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật (Tiểu mục 2.1, Mục 2, Phần IV Thông tư 02); trong khi đó, việc xuất hiện tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung việc giải quyết là yếu tố khách quan, không phải là vi phạm của Cơ quan điều tra.

Việc vận dụng các quy định của pháp luật để xử lý vấn đề khiếu nại quyết định giải quyết cuối cùng như trên sẽ không trái quy định, nhưng vẫn giải quyết được những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn một cách linh hoạt. Ngoài ra, ngành Kiểm sát cũng cần kiến nghị cấp có thẩm quyền bổ sung quy định về khiếu nại và xử lý khiếu nại đối với quyết định giải quyết cuối cùng.

II. CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO

1. Về trình tự, thủ tục kiểm sát

Tại Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2002 quy định: "VKSND có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật". Trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện kiểm sát với tư cách là một trong các cơ quan tiến hành tố tụng, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự. Trong việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát là một trong những cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, đồng thời Viện kiểm sát còn được giao trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự.

Tại Điều 23 Quy chế 59 của Viện trưởng VKSNDTC và Thông tư liên tịch số 02 liên ngành tư pháp Trung ương đã quy định về trình tự, thủ tục kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp. Các cơ quan tư pháp phải đáp ứng những yêu cầu do Viện kiểm sát đưa ra; đồng thời tại Điểm 3 Điều 24 Quy chế 59 cũng chỉ rõ "Trong trường hợp cơ quan tư pháp không đáp ứng hoặc đáp ứng không đầy đủ yêu cầu của VKS, thì có văn bản kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên để có biện pháp quản lý, đôn đốc việc thực hiện của cơ quan tư pháp và Điều 339 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, đó là:

* Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự thực hiện một trong những hoạt động sau:

- Ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình, cấp dưới; thông báo kết quả cho Viện kiểm sát;

- Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát.

 * Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật thì trong quá trình kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp mà phát hiện có vi phạm thì Viện kiểm sát có thể áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát đối với các cơ quan tư pháp. Một số Viện kiểm sát cho rằng, Điều 23 Quy chế 59 và Thông tư liên tịch số 02 quy định về trình tự, thủ tục kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo đã hạn chế tính linh hoạt khi thực hiện kiểm sát như: Sau khi Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu cơ quan tư pháp cung cấp hồ sơ tài liệu nhưng cơ quan tư pháp không thực hiện thì mới trực tiếp kiểm sát, do vậy dù phát hiện các cơ quan tư pháp có vi phạm thì Viện kiểm sát cũng không thể trực tiếp kiểm sát đối với các cơ quan này được. Vấn đề này, VKSNDTC sẽ nghiên cứu khi sửa đổi bổ sung Quy chế số 59 và Thông tư liên tịch số 02.

Đối với kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự: Tại Khoản 2 Điều 24 Luật Tổ chức VKSND năm 2002 quy định: "Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới... đối với việc thi hành án", Luật không chỉ rõ là thi hành án hình sự hay thi hành án dân sự. Nhưng theo Điều 159 Luật Thi hành án Dân sự và Quy chế 59 thì không quy định trực tiếp kiểm sát trong lĩnh vực này. Theo Khoản 3, Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì "Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau. Như vậy, nếu Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát là chưa có đầy đủ căn cứ pháp luật.

2. Kiến nghị, kháng nghị trong kiểm sát các hoạt động tư pháp

Điều 1 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là Luật TCVKSND) quy định VKSND có hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; Điều 6 Luật TCVKSND quy định "khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân có quyền ra... kháng nghị, kiến nghị... . Các ... kháng nghị, kiến nghị... của Viện kiểm sát nhân dân phải được các cơ quan, tổ chức... thực hiện nghiêm chỉnh...". Như vậy là theo các quy định nêu trên, VKSND khi thực hiện chức năng của mình, có một số quyền hạn, trong đó có quyền kháng nghị và kiến nghị. Kháng nghị và kiến nghị là hai quyền hạn mà VKSND được giao để thực hiện chức năng, vì vậy, có thể gọi đây là hai "quyền năng" của VKSND. Luật TCVKSND không định nghĩa thế nào là kháng nghị và kiến nghị. Vậy, kháng nghị, kiến nghị thuộc chức năng thực hành quyền công tố hay chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp hay thuộc cả hai chức năng? Theo Điều 3 luật TCVKSND thì VKSND thực hiện chức năng bằng các khâu công tác sau: 1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; 2. Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp; 3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; 4. Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; 5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; 6. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

* Trong 6 khâu công tác trên, quyền kháng nghị và kiến nghị được quy định như sau:

- Khâu công tác thứ nhất bao gồm cả 2 chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; trong chức năng thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra, VKSND không có quyền kháng nghị hoặc kiến nghị; trong chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra (kiểm sát điều tra), VKSND chỉ có quyền "kiến nghị với cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật" (Điều 14); như vậy, quyền kiến nghị được thực hiện trong chức năng kiểm sát tư pháp.

- Khâu công tác thứ hai, đây là một khâu công tác đặc biệt của ngành Kiểm sát (chỉ được giao cho Cục Điều tra hình sự VKSNDTC); ở khâu công tác này, Cơ quan điều tra VKSNDTC có chức năng như một Cơ quan điều tra độc lập (hoạt động theo các quy định của pháp luật về điều tra hình sự); do đó, về bản chất, khâu công tác này không thuộc 2 chức năng của VKSND.

- Khâu công tác thứ ba cũng gồm cả hai chức năng. Khâu này luật không quy định rõ quyền kháng nghị, kiến nghị được thực hiện trong chức năng nào, mà quy định chung là khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, VKSND có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của TAND theo quy định của pháp luật; kiến nghị với TATD cùng cấp và cấp dưới khắc phục vi phạm trong việc xét xử, kiến nghị với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật ..." (Điều 19). Tuy nhiên, qua nghiên cứu Điều 17 và Điều 18 về phạm vi 2 chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử thì thấy rằng, quyền kiến nghị và kháng nghị được thực hiện trong chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp kiểm sát trong giai đoạn xét xừ).

- Khâu công tác thứ tư chỉ thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp; trong khâu này, luật quy định: "khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật; kiến nghị với Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục những vi phạm pháp luật trong việc giải quyết các vụ án..." (Điều 22); như vậy, quyền kiến nghị, kháng nghị được thực hiện trong chức năng kiểm sát tư pháp.

- Khâu công tác thứ năm chỉ thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp; trong khâu này, luật quy định: Khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án, VKS có quyền "kháng nghị với Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm trong việc thi hành án..." (Khoản 5, Điều 24); như vậy, quyền kháng nghị được thực hiện trong chức năng kiểm sát tư pháp.

- Khâu công tác thứ sáu chỉ thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp; trong khâu này, luật quy định: Khi thực hiện công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, VKSND có quyền "kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật"; theo quy định này thì quyền kháng nghị được thực hiện trong chức năng kiểm sát tư pháp.

Từ những quy định trên thấy rằng, xét về góc độ quyền lực nhà nước thì kháng nghị, kiến nghị đều là những quyền hạn của VKSND khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; kháng nghị, kiến nghị chỉ được thực hiện trong chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Xét về bản chất thì kháng nghị, kiến nghị là những ý kiến, quan điểm thể hiện phản ứng của VKSND khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, đối với những quyết định tư pháp (trong đó có cả bản án, quyết định của Tòa án), hành vi tư pháp của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền mà VKSND cho rằng, quyết định, hành vi đó là vi phạm pháp luật; đồng thời yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khắc phục vi phạm, xử lý người vi phạm và phòng ngừa vi phạm. Kháng nghị, kiến nghị có nhiều điểm giống nhau, thể hiện ở chỗ: VKSND là chủ thể thực hiện; được cấu thành bởi hai yếu tố: Quan điểm và yêu cầu, tức là VKSND thể hiện quan điểm (thông qua những căn cứ pháp luật và lập luận) để chỉ ra quyết định hoặc hành vi tư pháp nào đó là trái pháp luật, đồng thời yêu cầu chủ thể có thẩm quyền khắc phục vi phạm, xử lý người vi phạm và phòng ngừa vi phạm; mục đích đều nhằm đảm bảo mọi vi phạm pháp luật phải được khắc phục, xử lý; kháng nghị, kiến nghị là văn bản mang tính pháp lý kết thúc một quá trình thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. Mặc dù về bản chất thì kháng nghị, kiến nghị là giống nhau, nhưng luật vẫn phân biệt thành hai quyền năng khác nhau với hai tên gọi khác nhau và được áp dụng trong những trường hợp khác nhau. Sự khác nhau đó không được luật đưa ra tiêu chí để phân biệt, mà luật chỉ quy định cụ thể những trường hợp áp dụng kiến nghị hoặc kháng nghị. Qua nghiên cứu Luật TCVKSND, Bộ luật TTHS, Bộ luật TTDS, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Thi hành án Hình sự, Luật Thi hành án Dân sự và các Quy chế nghiệp vụ về các khâu công tác của ngành Kiểm sát thấy rằng, những trường hợp đó được phân biệt ở yếu tố đối tượng, cụ thể:

- Quyền kháng nghị của VKSND chỉ thực hiện như sau: Đối với bản án, quyết đình của Tòa án theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; đối với quyết định, hành vi của người có thẩm quyền trong việc thi hành án hình sự, thi hành án dân sự.

Quyền kiến nghị của VKSND được thực hiện như sau: Đối với vi phạm của Tòa án trong việc xét xử, giải quyết các vụ án, vụ việc trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; đối với những trường hợp sau khi Viện kiểm sát có kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp, mà cơ quan bị kiểm sát không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, thì Viện kiểm sát kiến nghị với cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan đó; đối với những việc là nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan; đối với việc xử lý hành vi vi phạm, người có hành vi vi phạm đến mức phải có biện pháp xử lý; đối với việc áp dụng biện pháp phòng ngừa vi phạm, tội phạm của cơ quan, tổ chức hữu quan.

Qua những phân tích trên, có thể thấy rằng, việc áp dụng các quy định của pháp luật để thực hiện quyền kháng nghị và kiến nghị của Viện kiểm sát như sau:

- Viện kiểm sát chỉ áp dụng quyền kháng nghị trong trường hợp:

+ Bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng (ngoài ra, còn có trường hợp kháng nghị tái thẩm do phát hiện tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án, nhưng đây là yếu tố khách quan, không phải là vi phạm của Tòa án);

+ Cơ quan thi hành án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động thi hành án hình sự, dân sự.

- Viện kiểm sát chỉ áp dụng quyền kiến nghị trong trường hợp:

+ Cơ quan tư pháp có vi phạm không lớn, ít nghiêm trọng, chủ yếu về trình tự, thủ tục, thời hạn, không làm ảnh hưởng cơ bản đến nội dung giải quyết vụ án hoặc vụ việc (có thể kiến nghị đối với từng vi phạm đơn lẻ hoặc tập hợp để kiến nghị chung theo tình trạng);

+ Phát hiện nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm, Viện kiểm sát kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền để phòng ngừa, ngăn chặn;

+ Sau khi phát hiện vi phạm pháp luật thì kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người có hành vi vi phạm;

+ Viện kiểm sát đã kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan tư pháp thực hiện nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Viện kiểm sát kiến nghị với cơ quan cấp trên trực tiếp để thực hiện các biện pháp quản lý liên quan.

Qua đó có thể rút ra một nguyên tắc chung là, kháng nghị là quyền năng mạnh hơn, chỉ áp dụng đối với những vi phạm nghiêm trọng; còn kiến nghị chỉ áp dụng đối với những vi phạm ít nghiêm trọng hoặc đối với nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm và xử lý vi phạm; kiến nghị được sử dụng linh hoạt hơn và chủ yếu mang tính phòng ngừa, ngăn chặn.

3. Việc sử dụng quyền kiến nghị, kháng nghị trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.

Hiện tại chưa có văn bản pháp luật nào quy định về công tác khiếu tố, Luật Tổ chức VKSND cũng chưa quy định thành một khâu công tác riêng như các khâu công tác khác, công tác khiếu tố chỉ là cách gọi có tính chất nội bộ ngành. Công tác khiếu tố bao gồm ba công tác chính là: Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiêu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Các nhiệm vụ trên của VKSND đều gắn liền với các khâu công tác khác như: Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án hình sự; kiểm sát xét xử án dân sự; kiểm sát xét xử án hành chính; kiểm sát thi hành án dân sự; kiểm sát giam, giữ đều phải giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đối với các cơ quan tư pháp khác. Do đó, các quyền hạn và nhiệm vụ của của khâu công tác khiếu tố cũng phải tuân theo quy định của các khâu công tác khác, trong đó có quyền kháng nghị và kiến nghị.

Công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp thuộc chức năng "kiểm sát các hoạt động tư pháp" của Viện kiểm sát; khi Viện kiểm sát thực hiện công tác này trong mỗi lĩnh vực của hoạt động tư pháp (như tố tụng hình sự, dân sự, hành chính, thi hành án...), thì về nguyên tắc, việc thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị cũng phải tuân theo quy định tương ứng với mỗi khâu công tác trong Luật TCVKSND. Tuy nhiên, công tác khiếu tố là một công tác đặc thù của Viện kiểm sát, nó vừa gắn liền với các khâu công tác khác, nhưng lại có những hoạt động mang nét đặc trưng riêng, độc lập tương đối với các khâu công tác khác. Điều này thể hiện qua việc nó không được quy định cụ thể (thành chương riêng trong Luật Tổ chức VKSND (chỉ quy định mang tính nguyên tắc trong Điều 4) và chỉ được quy định trong một số điều của một số Quy chế nghiệp vụ về các khâu công tác của ngành Kiểm sát, nhưng nó lại được quy định thành một Quy chế riêng với những hoạt động riêng (Quy chế 59 ngày 6/2/2006). Bên cạnh đó, hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực của hoạt động tư pháp đều có một chương (hoặc mục) riêng quy định về vấn đề khiếu nại, tố cáo, trong đó có quy định về công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo (ví dụ: Bộ luật TTHS, Bộ luật TTDS, Luật Thi hành án Dân sự, Luật Thi hành án Hình sự... và Thông tư 02 ngày 10/8/2005, Thông tư 03 ngày 1/9/2005 của Liên ngành tư pháp Trung ương).

Như vậy, quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp, ngoài việc phải tuân theo những quy định mang tính nguyên tắc của Điều 6 Luật TCVKSND, còn phải tuân theo những quy định của các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan trong mỗi lĩnh vực của hoạt động tư pháp. Hầu hết các văn bản quy định về quyền hạn của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đều chỉ quy định Viện kiểm sát có quyền yêu cầu và kiến nghị, không quy định quyền kháng nghị. Ngay cả Điều 339 Bộ luật TTHS điều chỉnh về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự cũng không quy định cụ thể Viện kiểm sát có quyền kháng nghị hay kiến nghị. Chỉ riêng có Thông tư 02 và Quy chế 59 là có quy định: Sau khi kết thúc kiểm sát trực tiếp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của cơ quan tư pháp mà Viện kiểm sát ban hành kháng nghị hoặc kiến nghị. Như vậy là quyền kháng nghị của Viện kiểm sát tuy không được quy định trong Bộ luật TTHS, nhưng lại được quy định trong Thông tư 02 và Quy chế 59; trong khi đó, Thông tư 02 và Quy chế 59 đều là những văn bản dưới luật, nhưng là văn bản quy phạm pháp luật có tính bắt buộc, nên Viện kiểm sát vẫn phải thực hiện.

Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS, Thông tư 02 và Quy chế 59 để thực hiện quyền kháng nghị hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự hiện nay đang vướng mắc. Vì, Bộ luật TTHS không quy định cụ thể, trong khi Thông tư 02 và Quy chế 59 lại quy định mang tính tùy nghi; vì vậy đã dẫn đến các Viện kiểm sát áp dụng không thống nhất. Hiện nay, để xác định vi phạm có tính chất, mức độ như thế nào thì thực hiện quyền kháng nghị và như thế nào thì thực hiện quyền kiến nghị là một khó khăn. Để giải quyết vấn đề này, có thể áp dụng nguyên tắc của các khâu công tác kiểm sát khác, tức là, Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền kháng nghị trong trường hợp cơ quan tư pháp có "vi phạm nghiêm trọng" trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; "vi phạm nghiêm trọng ở đây cần được hiểu là những sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến làm thay đổi cơ bản nội dung việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, tố cáo. Ngoài ra, còn có một trường hợp khác, đó là trường hợp phát hiện tình tiết khách quan mới, làm thay đổi cơ bản nội dung việc giải quyết khiếu nại, tố cáo mà những người có thẩm quyền giải quyết trước đó không biết được (việc phát hiện tình tiết mới có thể thông qua nhiều kênh thông tin như: Đơn, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức; trên các phương tiện thông tin đại chúng; hoặc do Viện kiểm sát tự phát hiện...); trong trường hợp này, Viện kiểm sát cũng phải kháng nghị theo hướng hủy các kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trước đó để giải quyết lại. Như vậy, điều kiện để thực hiện quyền kháng nghị như sau: Khi phát hiện cơ quan được kiểm sát có vi phạm nghiêm trọng (về nội dung) hoặc phát hiện tình tiết khách quan mới, làm thay đổi cơ bản nội dung trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, thì Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị; nếu chỉ phát hiện vi phạm về thẩm quyền, thủ tục thời hạn hoặc vi phạm về nội dung nhưng không nghiêm trọng (tức là không làm thay đổi cơ bản nội dung) trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, thì thực hiện quyền kiến nghị. Có điểm cần lưu ý là, Thông tư 02 chỉ hướng dẫn việc ban hành kháng nghị trong kiểm sát trực tiếp và chỉ trong trường hợp kiểm sát theo vụ việc cụ thể; còn trong trường hợp kiểm sát gián tiếp hoặc kiểm sát trực tiếp nhưng là kiểm sát tình trạng thì Viện kiểm sát chỉ ban hành kiến nghị.

Do đó, quy định trong Thông tư 02 và quy chế 59 cần được hiểu là, chỉ ban hành kháng nghị khi kiểm sát trực tiếp theo từng vụ việc cụ thể trong tố tụng hình sự và việc kháng nghị chỉ áp dụng đối với những vi phạm nghiêm trọng về nội dung giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc phát hiện tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; các trường hợp khác thì áp dụng quyền kiến nghị.

Sở dĩ, Viện kiểm sát gặp vướng mắc khi thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị trong kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự là do các quy định trong Bộ luật TTHS, Thông tư 02 và Quy chế 59 là chưa cụ thể. Với xu hướng như hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành đều chỉ quy định quyền kiến nghị của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp. Bởi lẽ, do tính chất của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp nói riêng, dù có vi phạm nghiêm trọng (tức là vi phạm về nội dung) thì hậu quả gây ra cũng không lớn, việc khắc phục cũng không khó khăn như hậu quả của vi phạm trong việc giải quyết các vụ án hoặc vụ việc trong các lĩnh vực tố tụng (Ví dụ: Vi phạm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự có thể xâm phạm danh dự, tài sản và các quyền cơ bản khác của công dân, dẫn đến trách nhiệm bồi thường nhà nước). Vì vậy, Thông tư 02 và Quy chế 59 cũng cần phải được sửa đổi quy định về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát, chỉ nên quy định quyền kiến nghị. Hơn nữa, việc sử dụng thuật ngữ "kiến nghị" sẽ giúp Viện kiểm sát sử dụng quyền năng một cách thống nhất, linh hoạt hơn; đồng thời, vẫn đảm đảo được mục đích của hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự là yêu cầu khắc phục và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Thực tiễn công tác khiếu tố trong nhiều năm qua cũng cho thấy, các Viện kiểm sát ở cấp Trung ương cũng như địa phương khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự, dù là kiểm sát tình trạng hay vụ việc, kiểm sát trực tiếp hay gián tiếp, đều chỉ ban hành kiến nghị hoặc kết luận kiểm sát (trong đó có nội dung kiến nghị. Ví dụ: Theo báo cáo thống kê thì từ năm 2005 đến năm 2009 và 6 tháng đầu năm 2010, Viện kiểm sát hai cấp tỉnh và huyện tiến hành kiểm sát và ban hành 1.517 kiến nghị và kết luận (bao gồm cả kiểm sát trực tiếp và gián tiếp), trong đó không ban hành văn bản kháng nghị nào.

4. Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đối với Chánh án Tòa án

* Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của Chánh án Tòa án:

Tòa án là cơ quan tư pháp, có chức năng chính là xét xử; hoạt động xét xử là hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, bên cạnh hoạt động xét xử, Tòa án còn có chức năng khác là quản lý hành chính trong nội bộ cơ quan mình. Cả hoạt động xét xử (tư pháp) và hoạt động quản lý hành chính của Tòa án đều có thể phát sinh khiếu nại, tố cáo. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động quản lý hành chính của Tòa án được áp dụng theo quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực hành chính. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động xét xử (tư pháp) được quy định tại Điểm i, Khoản 1, Điều 38; Điều 331 và Điều 337 Bộ luật TTHS; Điểm e, Khoản 1, Điều 40; Điều 125; Điều 170; Điều 396 và Điều 401 Bộ luật TTDS; Điều 26; Điểm g, Khoản 1, Điều 35; Điều 254, Điều 259 Luật TTHC. Qua nghiên cứu các quy định trong các văn bản pháp luật nêu trên, thấy rằng, về nguyên tắc, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động quản lý hành chính và hoạt động tư pháp của Tòa án chỉ thuộc về Chánh án Tòa án.

* Về chức năng kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát:

- Điều 4 Luật Tổ chức VKSND quy định: "Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật".

- Khoản 2 Điều 339 Bộ luật TTHS quy định: Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Cơ quan điều tra, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra".

- Điều 404 Bộ luật TTDS quy định: "Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Toà án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật”.

- Điều 142, Luật THAHS quy định: "l. Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Toà án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. 2. Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới: a) Ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương XIII của Luật này; b) Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và của cấp dưới; thông báo kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát; c) Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát".

- Mục IV Thông tư 02 và Mục III Thông tư 03 đều quy định Viện kiểm sát kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đối với Tòa án cùng cấp và cấp dưới.

Từ những quy định trên, thấy rằng, Viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, không kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan tư pháp. Tòa án là cơ quan tư pháp, Chánh án TAND là chủ thể có chức danh tư pháp trong Tòa án, đồng thời, Chánh án TAND là cũng là chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp. Vì vậy, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đối với Chánh án TAND cùng cấp và cấp dưới. Vấn đề này không có khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật. Thực tiễn cho thấy, Viện kiểm sát các cấp thường ít tiến hành kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đối với cơ quan Tòa án. Bởi lẽ, do tính chất đặc thù trong chức năng của Tòa án là xét xử, nên những người tham gia tố tụng thường ít khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng, họ chủ yếu chỉ thực hiện quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án, trong khi đó, kháng cáo không phải là khiếu nại, tố cáo.

Riêng có một dạng đơn, đó là khiếu nại đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đây là loại đơn phát sinh trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự và hành chính, có số lượng tương đối lớn, nhiều nhất là trong tố tụng dân sự, đối với ngành Tòa án chủ yếu tập trung ở Tòa án nhân dân tối cao. Loại đơn này tuy được pháp luật về tố tụng quy định là đơn "khiếu nại", nhưng pháp luật về tố tụng lại chưa quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về thủ tục khiếu nại cũng như thẩm quyền, thủ tục và thời hạn giải quyết khiếu nại, nên trong thực tiễn, những loại đơn này vẫn được coi là đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (không phải đơn khiếu nại việc giải quyết dạng đơn này được áp dụng theo thẩm quyền, thủ tục và thời hạn của cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm trong các lĩnh vực tố tụng (không phải là thẩm quyền, thủ tục và thời hạn giải quyết khiếu nại). Chính vì vậy, đối với loại đơn này, Viện kiểm sát không thể kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của Tòa án, mà chỉ kiểm sát việc giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án theo thủ tục tố tụng.

Mặc dù khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án không nhiều, nhưng nếu phát hiện việc giải quyết có vi phạm pháp luật, thì Viện kiểm sát vẫn phải thực hiện trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của Tòa án, mà chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo là Chánh án Tòa án (Ví dụ: Theo các Điều 331, Điều 337 Bộ luật TTHS; Điều 396, Điều 401 Bộ luật TTDS; Điều 254, Điều 259 Luật TTHC).

Riêng đối với loại đơn khiếu nại đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án", cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi theo hướng: Không quy định quyền khiếu nại" mà chỉ dừng lại như quy định tại các điều 74 và 292 Bộ luật TTHS; Điều 284 và 306 Bộ luật TTDS; Điều 211 và 234 Luật TTHC, cụ thể: Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó, đồng thời đề nghị hoặc kiến nghị người có thẩm quyền ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Quy định như vậy sẽ không làm phát sinh quyền khiếu nại của người tham gia tố tụng, nghĩa vụ giải quyết khiếu nại của Tòa án, cũng như trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát.

Từ đó cho thấy Viện kiểm sát có thẩm quyền và (trách nhiệm) kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của Chánh án Tòa án cùng cấp.

Có một điểm cần lưu ý, đó là việc áp dụng phương thức kiểm sát đối với Tòa án. Tòa án các cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Nhưng các văn bản luật cũng như văn bản dưới luật không quy định cụ thể Viện kiểm sát có thẩm quyền trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính đối với Tòa án. Riêng Thông tư 02 quy định cụ thể Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát trực tiếp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Mục 2, P.hần IV); và Quy chế 59 của ngành Kiểm Sát cũng quy định chỉ kiểm sát trực tiếp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Điều 23). Do đó, Viện kiểm sát các cấp chỉ áp dụng biện pháp kiểm sát trực tiếp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án trong tố tụng hình sự; trong các lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính chỉ áp dụng phương thức kiểm sát gián tiếp (thông qua các biện pháp yêu cầu). Thực tế qua theo dõi công tác kiểm sát của các Viện kiểm sát địa phương cho thấy, khi tiến hành kiểm sát trực tiếp đối với Tòa án, một số Viện kiểm sát địa phương ban hành quyết định trực tiếp kiểm sát vẫn ghi chung là "kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp"; các tiêu chí trong văn bản yêu cầu kiểm tra, báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo và các biểu thống kê cũng không ghi cụ thể là khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự"; do đó, Tòa án đã thống kê, báo cáo cả việc giải quyết khiếu nại trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính; dẫn đến quá trình kiểm sát trực tiếp đã xem xét, kết luận và kiến nghị đối với cả khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Viện kiểm sát các cấp cần nghiên cứu kỹ các quy định về kiểm sát trực tiếp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực tố tụng để áp dụng kiểm sát đúng phạm vi

5. Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự

5.1 . Về kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của các cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự (thi hành một số hình phạt như cải tạo không giam giữ, án treo … ) .

Trong Luật Thi hành án Hình sự năm 2010 (viết tắt là Luật THAHS), Điều 10 có quy định về hệ thống tổ chức thi hành án hình sự như sau:

1. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự:

a) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an;

b) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.

2. Cơ quan thi hành án hình sự:

a) Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu (sau đây gọi là trại giam);

b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh);

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện);

d) Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu).

3. Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự:

a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Trại tạm giam cấp quân khu (sau đây gọi là Trại tạm giam);

b) Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã);

c) Đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương (sau đây gọi là đơn vị quân đội)".

Theo quy định trên, trong hệ thống thi hành án hình sự có 3 loại cơ quan: Cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Trong loại cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự có các cơ quan sau: Trại tạm giam, UBND cấp xã và Đơn vị quân đội. Trong phần này chỉ đề cập đến cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự là UBND cấp xã.

Ngoài hình phạt tù và tử hình do cơ quan thi hành án hình sự chuyên trách thực hiện, Luật THAHS còn quy định một số hình phạt khác và một số biện pháp tư pháp được giao cho các cơ quan không phải cơ quan chuyên trách thi hành án hình sự thực hiện. Các hình phạt và biện pháp tư pháp đó gồm:

- Hình phạt (bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung): Án treo; cải tạo không giam giữ; cấm cư trú; quản chế; trục xuất; tước một số quyền công dân; cấm đảm nhiệm chức vụ; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

Biện pháp tư pháp: Bắt buộc chữa bệnh; giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng.

Vậy, UBND cấp xã được được giao thi hành nhiệm vụ thi hành hình phạt và biện pháp tư pháp nào?

Theo Điều 18 Luật THAHS thì Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân và án treo". Ngoài ra, theo Điều 121 Luật THAHS thì UBND cấp xã còn được giao nhiệm vụ thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Như vậy, UBND cấp xã được giao nhiệm vụ thi hành những hình phạt (chính và bổ sung) và biện pháp tư pháp sau: cải tạo không giam giữ; cấm cư trú; quản chế; cấm đảm nhiệm chức vụ; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; tước một số quyền công dân; án treo; giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, UBND cấp xã sẽ phải ban hành những quyết định hoặc thực hiện những hành vi nhất định trực tiếp tác động đến những đối tượng nhất định; những quyết định, hành vi này nếu trái hoặc vi phạm pháp luật và xâm phạm hoặc gây thiệt hại, đe dọa gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người phải chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án hoặc những chủ thể có liên quan khác, thì tùy từng trường hợp, họ có quyền khiếu nại hoặc tố cáo.

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của UBND cấp xã được quy định như sau:

Điều 152 Luật THAHS quy định: "Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan, tố chức, người được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự ở xã, phường, thị trấn".

Điều 168 Luật THAHS quy định: "a) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án hình sự mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó giải quyết; b) Chủ tịch Ủy ban nhân cấp xã giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Trưởng Công an cấp xã".

Như vậy, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án của UBND cấp xã thuộc về Chủ tịch UBND cấp xã; phạm vi là giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức và người được giao giám sát người chấp hành án hình sự ở cấp xã; đối với hành vi vi phạm của Trưởng Công an cấp xã.

Từ những phân tích trên, thấy rằng, UBND cấp xã là cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, đồng thời là cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự (Thẩm quyền này được giao cụ thể cho Chủ tịch UBND cấp xã); về phạm vi: Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của UBND cấp xã được thực hiện trong các hoạt động cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, án treo và giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Điều 142 Luật THAHS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có quy định:

"1. Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Toà án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự".

2. Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới:

a) Ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương XIII của Luật này;

b) Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và của cấp dưới; thông báo kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát;

c) Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát".

Theo quy định trên thì Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự đối với UBND cấp xã; phạm vi kiểm sát là việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các hoạt động cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, án treo và giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Ngoài UBND cấp xã là cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, còn có một số cơ quan, tổ chức khác cũng được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, cụ thể:

Theo Khoản 3 , Điều 10 Luật THAHS thì Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu (sau đây gọi là Trại tạm giam) là cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Nhiệm vụ của Trại tạm giam bao gồm: Tiếp nhận, quản lý giam giữ người bị kết án tử hình; trực tiếp quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân chấp hành án tại Trại tạm giam (Điều 17 Luật THAHS).

Theo Điều 117 và Điều 118 Luật THAHS thì đối với biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, có một chủ thể được giao nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý người bị áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc, đó là Bệnh viện tâm thần được Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định. Như vậy, Bệnh viện tâm thần được chỉ định cũng là cơ quan được giao một số nhiệm vụ về thi hành án hình sự.

- Theo Điều 121 Luật THAHS thì đối với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, ngoài UBND cấp xã, còn có một số chủ thể khác cũng được giao nhiệm vụ giám sát, giáo dục người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo bản án, quyết định của Tòa án, đó là Tổ chức xã hội và Nhà trường được Tòa án chỉ định. Như vậy, Tổ chức xã hội và Nhà trường được Tòa án chỉ định cũng là cơ quan được giao một số nhiệm vụ về thi hành án hình sự.

Vậy, các những quyết định, hành vi của các chủ thể nêu trên có phải là đối tượng của khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự không? Nếu có khiếu nại, tố cáo thì các chủ thể này có thẩm quyền giải quyết không? Nếu giải quyết thì Viện kiểm sát có kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các chủ thể này không?

Về vấn đề này, có thể thấy rằng:

- Đối với Trại tạm giam, mặc dù là cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự; các quyết định, hành vi khi thực hiện nhiệm vụ thi hành án hình sự của chủ thể có thẩm quyền trong Trại tạm giam nếu vi phạm pháp luật thì có thể bị khiếu nại, tố cáo; nhưng Điều 152 Luật THAHS quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự không bao gồm Trại tạm giam; mà thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù chỉ thuộc về Viện kiểm sát (Điều 53; Điều 168 và Điều 159 Luật THAHS; Điều 27 và Điều 29 Luật TCVKSND) .

Đối với Bệnh viện tâm thần, Tổ chức xã hội và Nhà trường, mặc dù là tổ chức được giao một số nhiệm vụ về thi hành án hình sự, nhưng các chủ thể này không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, quyết định và hành vi của các chủ thể này không phải là quyết định và hành vi quyền lực nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự, chỉ là những quyết định và hành vi mang tính chuyên môn kỹ thuật hoặc hành chính đơn thuần có tính bổ trợ tư pháp); do đó, không phải là đối tượng của khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự; nếu có khiếu nại, tố cáo phát sinh đối với những quyết định và hành vi này, thì việc giải quyết sẽ áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong hoạt động quản lý hành chính; hơn nữa, Điều 152 Luật THAHS không quy định Bệnh viện tâm thần, Tổ chức xã hội và Nhà trường là chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự. Vì vậy, Bệnh viện tâm thần, Tổ chức xã hội và Nhà trường không phải là chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát không kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự đối với Trại tạm giam trong việc quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù, đối với Bệnh viện tâm thần, Tổ chức xã hội và Nhà trường trong việc giám sát, giáo dục người bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Một vấn đề cần lưu ý là, hiện nay còn có quan điểm cho rằng, theo Điều 4 Luật TCVKSND thì VKSND chỉ có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp; còn việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan không phải là cơ quan tư pháp thì Viện kiểm sát không có trách nhiệm (hoặc thẩm quyền) kiểm sát. Nếu theo cách hiểu của theo quan điểm này, UBND cấp xã mặc dù là cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự và có thấm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự nhưng UBND cấp xã không phải là cơ quan tư pháp, chỉ là cơ quan quản lý hành chính, nên Viện kiểm sát không kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự đối với cơ quan này.

Quan điểm nêu trên trong chừng mực nào đó cũng có yếu tố hợp lý.

Điều đó có nghĩa là Luật THAHS có mâu thuẫn với Luật Tổ chức VKSND khi quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, trong đó có UBND cấp xã. Tuy nhiên, căn cứ Khoản 3, Điều 83 luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau. Theo quy định trên, Luật thi hành án hình sự và Luật Tổ chức VKSND cùng do Quốc Hội ban hành, nhưng Luật thi hành án hình sự được ban hành sau Luật Tổ chức VKSND, nên cần áp dụng theo quy định của Luật thi hành án hình sự về vấn đề thẩm quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của UBND cấp xã trong thi hành án hình sự.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự đối UBND cấp xã.

5.2. Về tiệc kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động giam, giữ, cải tạo của cơ quan tư pháp cấp huyện

Hoạt động giam, giữ, cải tạo bao gồm các hoạt động sau: Hoạt động tạm giữ, hoạt động tạm giam, hoạt động quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

Các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù như sau:

- Khoản 8, Điều 53 Luật THAHS quy định: Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp quân khu, Viện trưởng Viện kiểm sất cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật trong quản lý, giáo dục phạm nhân của người được giao quản lý, giáo dục phạm nhân. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới. Quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có hiệu lực thi hành".

- Điểm h, Khoản 1, Điều 168 Luật THAHS quy định: "Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của người được giao quản lý, giáo dục phạm nhân".

Điều 159 Luật THAHS quy định: "...Đối với những khiếu nại của phạm nhân quy định tại Khoản 8 Điều 152 của Luật này thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận, Giám thị Trại giam, Giám thị Trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải chuyển ngay khiếu nại cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.

- Điều 27 Luật TCVKSND quy định: "Khi thực hiện công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: ...Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù".

Điều 29 Luật TCVKSND quy định: "Cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù phải chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân khiếu nại, tố cáo của người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được khiếu nại, tố cáo".

Theo các quy định trên, Viện kiểm sát không thể kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù khi mà những khiếu nại, tố cáo đó lại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Hơn nữa, qua nghiên cứu Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù (ban hành kèm theo Quyết định số 989 ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC), thấy rằng, hoàn toàn không có điều khoản nào quy định về trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát, mà tại Điều 11 của Quy chế này cũng quy định: "Sau khi tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù ... trực tiếp giải quyết những khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc chấp hành các quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù... ".

Từ những căn cứ nêu trên, thấy rằng, Viện kiểm sát không có trách nhiệm (hoặc thẩm quyền) kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

Tuy nhiên, trong Luật đặc xá năm 2007, tại Chương V (từ Điều 32 Điều 34) có quy định khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc lập danh sách người được đề nghị đặc xá, trong đó quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại bao gồm các chủ thể: Bộ trưởng Bộ Công an, Công an cấp tỉnh và Giám thị Trại giam, Giám thị Trại tạm giam thuộc Bộ Công an. Đặc xá là hoạt động tư pháp, thuộc công tác quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù. Như vậy đối với công tác quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, chỉ riêng hoạt động đặc xá là Viện kiểm sát không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, mà việc giải quyết khiếu nại trong hoạt động này thuộc thẩm quyền của Bộ Công an, Công an cấp tỉnh, Giám thị Trại giam, Giám thị Trại tạm giam nên việc giải quyết khiếu nại trong hoạt động đặc xá là đối tượng của công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

Như vậy, đối với hoạt động giam, giữ, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, Viện kiểm sát chỉ có thẩm quyền (hoặc trách nhiệm) kiểm sát đối với Bộ Công an, Công an cấp tỉnh, Giám thị Trại tạm giam, Giám thị Trại giam thuộc Bộ Công an trong việc giải quyết khiếu nại liên quan đến việc lập danh sách người được đề nghị đặc xá. Viện kiểm sát không có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp huyện trong hoạt động giam, giữ, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

6. Xử lý đối với những trường hợp các cơ quan tư pháp không chấp hành; chấp hành không đầy đủ hoặc không có văn bản phúc đáp kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát

Theo Điều 6 Luật Tổ chức VKSND thì "... Các quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân phải được các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đây chỉ là quy định mang tính nguyên tắc chung, còn việc các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát thực hiện như thế nào (không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không có văn bản phúc đáp) thì pháp luật lại có quy định cụ thể từng trường hợp và mỗi khâu công tác kiểm sát lại có quy định khác nhau. Riêng công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp, các văn bản luật không có quy định chế tài áp dụng đối với những trường hợp cơ quan tư pháp không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không phúc đáp kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát; mà chế tài lại được quy định ở các văn bản dưới luật. Cụ thể:

 

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỐI CAO

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

¾¾¾¾    

¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾¾

Số: .2132/VKSTC-V7

 V/v: Trả lời thỉnh thị

 

Hà Nội, ngày 13 tháng 7 năm 2011

Kính gửi: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang

 

Phúc đáp công văn số 42 ngày 28/6/2011  của VKSND tỉnh Hậu Giang thỉnh thị đường lối xử lý một số vấn đề còn vướng mắc trong công tác khiếu tố, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 7) trao đổi như sau:

1. Về vấn đề xử lý đối với đơn khiếu nại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh.

Đơn khiếu nại đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về bản chất là đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật do Tòa án cấp tỉnh ban hành; nếu cá nhân, cơ quan tổ chức phát hiện vi phạm hoặc có tình tiết mới và đề nghị hoặc kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, thì về nguyền tắc, thẩm quyền thụ lý và giải quyết chỉ thuộc TANDTC và VKSNDTC (theo quy định của Bộ luật TTDS năm 2004 và Luật TTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011); VKSND cấp tỉnh không có thẩm quyền thụ lý và giải quyết loại đơn này. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, VKSND cấp tỉnh vẫn phải tiếp nhận loại đơn này qua hai nguồn sau:

a) Nguồn thứ nhất: Đơn khiếu nại của đương sự hoặc đơn kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác gửi đến VKSND cấp tỉnh đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.

Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 11 Quy chế "về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát", ban hành kèm theo Quyết định số 59 ngày 6/2/2006 của Viện trưởng VKSNDTC (gọi tắt là Quy chế số 59) thì đây là đơn không thuộc thẩm quyền của VKSND cấp tỉnh, nhưng là đơn thuộc thẩm quyền giai quyết của VKSNDTC (thuộc thẩm quyền cơ quan cấp trên trong ngành), nên VKSND cấp tỉnh vẫn phải tiếp nhận, nhưng không thụ lý để giải quyết, mà làm thủ tục chuyển đơn cùng các tài liệu liên quan đến VKSNDTC để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền; sau khi chuyển đơn, VKSND cấp tỉnh có văn bản báo tin cho người có đơn biết để theo dõi kết quả giải quyết của VKSNDTC.

Tuy nhiên, theo khoản 1 , Điều 17 Quy chế "công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự", ban hành kèm theo Quyết định số 1154 ngày 19/11/2007  của Viện trưởng VKSNDTC (gọi tắt là Quy chế số 1154) thì "khi nhận đơn khiếu nại của đương sự về bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp thì Kiểm sát viên phải thụ lý đơn, kiểm tra hồ sơ vụ án; nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì báo cáo Viện trưởng để báo cáo Viện kiểm sát cấp trên xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (kèm theo hồ sơ vụ án do Tòa án lập)"; theo quy định này thì VKSND cấp tỉnh vẫn phải thụ lý loại đơn này để nghiên cứu, báo cáo VKSNDTC.

Như vậy, có thể thấy rằng, quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 11 Quy chế số 59 và quy định tại khoản 1, Điều 17 Quy chế số 1154 đã mâu thuẫn nhau khi cùng điều chỉnh việc thụ lý, xử lý loại đơn khiếu nại đối với bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực pháp luật. Để giải quyết vướng mắc. này, cần căn cứ khoản 3, Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; theo đó thì “trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau”; theo quy định trên, Quy chế số 59 và Quy chế số 1154 mặc dù là văn bản dưới luật nhưng đều là văn bản quy phạm pháp luật, cùng do Viện trưởng VKSNDTC ban hành; tuy nhiên, Quy chế số 1154 là văn bản được ban hành sau; do đó, về nguyên tắc, các cơ quan, đơn vị trong ngành kiểm sát phải thực hiện theo quy định trong Quy chế số 1154 để xử lý đối với đơn khiếu nại bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, nếu VKSND cấp tỉnh thực hiện theo khoản 1, Điều 17 Quy chế số 1154 (tức là phải thụ lý đối với đơn khiếu nại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh) sẽ dẫn đến một bất cập, đó là việc thụ lý đơn sẽ phát sinh trách nhiệm phải thông báo việc thụ lý cho người gửi đơn, đồng thời phát sinh nghĩa vụ phải giải quyết (trả lời đơn); trong khi VKSND cấp tỉnh không có thẩm quyền giải quyết loại đơn này, và vì không có thẩm quyền giải quyết nên không thể thụ lý đơn. Như vậy, đối với VKSND cấp tỉnh, nếu thực hiện việc thụ lý đơn theo khoản 1, Điều 17 Quy chế số 1154 sẽ không phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý và giải quyết loại đơn đề nghị giám đốc thẩm án dân sự. Bộ luật TTDS năm 2004 quy định "đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị ... (Điều 284); Điều 47 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật TTDS 2004 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2012) cũng quy định người đề nghị kháng nghị GĐT (đương sự) phải có đơn đề nghị theo mẫu và đơn đề nghị cùng các tài liệu, chứng cứ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị GĐT. Do đó, thực hiện theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 11 Quy chế số 59 là phù hợp với quy định pháp luật hiện hành. Nhưng về nguyên tắc như đã phân tích ở trên, VKSND cấp tỉnh vẫn phải thực hiện theo khoản 1 , Điều 17 Quy chế số 1154. Vụ 7 thấy rằng, vướng mắc này có liên quan đến hai khâu nghiệp vụ: Khiếu tố và dân sự (Vụ 7, Vụ 5 và Vụ 12); Vụ 7 không có thẩm quyền hướng dẫn. Theo quy định của ngành, những vướng mắc mà các VKSND địa phương thỉnh thị có liên quan đến nhiều khâu nghiệp vụ, lãnh đạo VKSNDTC giao Viện Khoa học Kiểm sát (Vụ 8) có thẩm quyền hướng dẫn, giải thích; do đó, Vụ 7 sẽ chuyển nội dung vướng mắc này đến Vụ 8 để thực hiện thẩm quyền trả lời thỉnh thị.

b) Nguồn thứ hai: Đơn do Vụ 5, Vụ 12 chuyển về VKSND cấp tỉnh để nghiên cứu, kiểm tra và báo cáo tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh, mà VKSND cấp tỉnh không tham gia phiên tòa (khoản 2, Điều 17 Quy chế số l154).

Như đã phân tích ở trên, trường hợp này VKSND cấp tỉnh phải xác định rõ loại đơn này không thuộc thẩm quyền của mình; do đó, VKSND cấp tỉnh không có thẩm quyền thụ lý và giải quyết; việc thụ lý đơn và thông báo thụ lý đơn do VKSNDTC thực hiện; VKSND tỉnh chỉ thực hiện theo đúng quy định tại khoản 2, Điều 17 Quy chế số 1154, đó là kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định để báo cáo VKSNDTC trả lời đương sự (nếu bản án, quyết định có căn cứ) hoặc đề nghị VKSNDTC xem xét kháng nghị (nếu bản án, quyết đinh có vi phạm cần kháng nghị).

2. Về vấn đề "kiểm sát trực tiếp việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm có xem là kiểm sát trực tiếp giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp không?".

Vấn đề này đã được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng không có bất cập hoặc mâu thuẫn nào cả về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng. Bởi lẽ:

* Thứ nhất khái niệm "tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” về nguyên tắc khác khái niệm "khiếu nại, tố cáo về tư pháp". Cụ thể:

- Khái niệm “khiếu nại, tố cáo về tư pháp" được hiểu là những khiếu nại, tố cáo phát sinh trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và thi hành án (hình sự và dân sự). Các khái niệm "khiếu nại", "tố cáo" trong mỗi lĩnh vực được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng:

+ Trong tố tụng hình sự: Điều 325, Điều 334 Bộ luật TTHS 2003; tiểu mục 2.1 và tiểu mục 2.5 thuộc mục 2, Phần I Thông tư liên tịch số 02 ngày 10/8/2005 của liên ngành tư pháp TW;

+ Trong tố tụng dân sự: Điều 391, Điều 398 Bộ luật TTDS 2004;

+ Trong tố tụng hành chính: Điều 249, Điều 256 Luật TTHC 2010;

+ Trong thi hành án hình sự: Điều 150, Điều 165 Luật THAHS 2010;

+ Trong thi hành án dân sụ: Điều 140, Điều 154 Luật THADS 2008.

Từ những quy định về .khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực cụ thể của hoạt động tư pháp, có thể rút ra định nghĩa về các khái niệm này như sau:

“Khiêú nại trong hoạt động tư pháp” là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi mang quyền lực nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và thi hành án khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

"Tố cáo trong hoạt động tư pháp là việc công dân báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và thi hành án của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền thi hành án, mà họ cho rằng hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền., lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức ".

Khái niệm "tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố" được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, cụ thể:

+ Điều 100 quy định "Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: 1. Tố giác của công dân; 2. Tin báo của cơ quan, tổ chức; 3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ...";

+ Điều 101 quy định: công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức... Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra...";

+ Điều 103 quy định: "l. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến ... "

Từ những quy định nêu trên trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, có thể thấy rằng các khái niệm tô giác về tội phạm, tin báo về tội phạm và kiên nghị khởi tô được hiểu là những nguồn thông tin thuộc một trong những cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm mà cái cừ quan tiên hành tố tụng nắm được do các chủ thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức thông báo.

* Thứ hai, do các khái niệm “khiếu nại, tố cáo về tư pháp" và “tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố" là khác nhau, nên việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp cũng khác việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Việc giải quyết khiết nại, tố cáo về tư pháp được quy định trong Chương 35 Bộ luật TTHS; Chương 33 Bộ luật TTDS; Chương 27 Luật TTHC; Chương 23 Luật THAHS; mục 1 và mục 2 Chương 6 Luật THADS. Việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được quy định tại Điều 103 Bộ luật TTHS; Thông tư liên tịch số 03 ngày 23/5/2006 giữa VKSNDTC, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, Thông tư liên tịch số 05 ngày 7/9/2005 giữa VKSNDTC, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

* Thứ ba, từ khái niệm "khiếu nại, tố cáo về tư pháp" khác khái niệm "tố giác tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố" và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp khác việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, pháp luật quy định chức năng kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp khác chức năng kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp được quy định tại Điều 4 Luật Tổ chức VKSND; Điều 339 Bộ luật TTHS; Điều 404 Bộ luật TTDS; Điều 262 Luật TTHC; Điều 142 Luật THAHS; Điều 159 Luật THADS. Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được quy định tại khoản 4, Điều 103 Bộ luật TTHS. Phương thức kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp được quy định cụ thể trong các văn bản luật tương ứng với mỗi lĩnh vực trong hoạt động tư pháp và các văn bản dưới luật như Thông tư liên tịch số 02, Thông tư liên tịch số 03, Quy chế số 59. Phương thức kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố hiện nay chưa có quy định cụ thể.

* Thứ tư, mặc dù cùng do chủ thể là Viện kiểm sát thực hiện, nhưng về nguyên tắc, hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp và hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là hai hoạt động khác nhau, là hai khâu công tác độc lập và khác nhau của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, hai hoạt động nghiệp vụ này có mối quan hệ tác động qua lại, hỗ trợ cho nhau, cùng thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát, cùng nhằm mục đích đảm bảo việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của Cơ quan điều tra. Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ, thông qua hoạt động kiểm sát việc giải quyết đơn về tư pháp (trong tố tụng hình sự), Viện kiểm sát phát hiện những vi phạm của Cơ quan điều tra trong việc giải quyết tin báo, để từ đó, thực hiện chức năng kiếm sát giải quyết tin báo, yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm trong việc giải quyết tin báo (ví dụ: khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hoặc khiếu nại hành vi không ra quyết định khởi tố vụ án hoặc khiếu nại hành vi chậm giải quyết tin báo của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phát hiện việc giải quyết tin báo của Cơ quan điều tra có vi phạm dẫn đa việc ra quyết định không khởi tố vụ án là trái pháp luật, hoặc phát hiện vụ việc có đủ căn cứ để khởi tố vụ án nhưng Cơ quan điều tra không ra quyết định khởi tố, hoặc phát hiện việc cơ quan điều tra để quá hạn không tiến hành điều tra, xác minh giải quyết tin báo, hoặc có tiến hành điều tra, xác minh nhưng đã hết thời hạn mà không ra một trong hai quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án để kết thúc việc giải quyết tin báo; từ đó, Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát giải quyết tin báo để yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm). Ngược lại, hoạt động kiểm sát giải quyết tin báo sẽ hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động kiểm sát giải quyết đơn trong những trường hợp cần kiểm sát sâu về nội dung giải quyết đơn của Cơ quan điều tra (ví dụ: hoạt động kiểm sát giải quyết đơn muốn kết luận việc giải quyết đơn khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra là có căn cứ hay không, cần dựa trên kết quả của hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo của Cơ quan điều tra).

Chính vì có mối quan hệ chặt chẽ như vậy của hai hoạt động, trong khi chủ thể thực hiện hai hoạt động cùng là Viện kiểm sát, đối tượng kiểm sát của hai hoạt động cùng là Cơ quan điều tra, phạm vi kiểm sát đều trong lĩnh vực tố tụng hình sự; do đó, Viện kiểm sát hoàn toàn có thể kết hợp hai khâu (hoạt động) kiểm sát này trong cùng một cuộc kiểm sát trực tiếp (kiểm sát đa khâu). Đây là sự linh hoạt kết hợp hai hoạt động nghiệp vụ kiểm sát mà thực tiễn gần đây nhiều Viện kiểm sát đã áp dụng mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, các Viện kiểm sát vẫn cần nhận thức rõ đây là hai khâu công tác khác nhau của Viện kiểm sát được kết hợp trong cùng một cuộc kiểm sát. Việc kết hợp này không trái luật mà lại có hiệu quả, nên cần được áp dụng rộng rãi trong ngành. Mặt khác, việc kết hợp này đã được quy định trong Quyết định số 487 ngày 4/9/2008 của Viện trưởng VKSNDTC. Có điểm cần lưu ý là trong các cuộc kiểm sát trực tiếp đối với Cơ quan điều tra có sự kết hợp của hai khâu công tác kiểm sát giải quyết đơn và tin báo, các Viện kiểm sát khi ra quyết định tiến hành kiểm sát trực tiếp cần ghi rõ là "kiểm sát trực tiếp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp và tố giác, tin báo về tội phạm"; tránh trường hợp một số Viện kiểm sát chỉ ghi trong quyết định là "kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp", nhưng nội dung cuộc kiểm sát lại kiểm tra và kết luận cả việc giải quyết tin báo, như vậy là không đúng phạm vi; ngoài ra, nếu cuộc kiểm sát do đơn vị khiếu tố chủ trì thì cần có sự phối hợp của các đơn vị làm nghiệp vụ kiểm sát điều tra, vì về nguyên tắc, đơn vị khiếu tố không chuyên sâu về nghiệp vụ kiểm sát giải quyết tin báo (việc phối hợp cần được tiến hành ngay từ giai đoạn thu thập thông tin xác định vi phạm làm căn cứ kiểm sát trực tiếp).

Trên đây là một số ý kiến phúc đáp của Vụ 7. Nếu còn vướng mắc, đề nghị VKSND tỉnh tiếp tục phản ánh về VKSNDTC (Vụ 7) để trao đổi./.

 

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

TÀI LIÊU TẬP HUẤN CÔNG TÁC KHIẾU TỐ NĂM 2011


THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ TƯ PHÁP

(Phần tham luận của một số VKSND tỉnh, thành phố)


MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ KIẾM SÁT

VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ TƯ PHÁP

                                                                                                        VKSND tỉnh Quảng Ninh

 

I. Khái quát về đặc điểm, tình hình địa phương

Quảng Ninh là tỉnh biên giới Đông Bắc của Tổ quốc, là trọng điểm trong "tam giác kinh tế” ở đồng bằng Bắc bộ, có nhiều tiềm năng, thế mạnh về phát triển kinh tế - xã hội như: Du lịch, cảng biển, cửa khẩu, công nghiệp than, vận tải biển, đánh bắt hải sản, buôn bán thương mại với Trung Quốc... Sau hơn hai mươi năm đổi mới, tỉnh đã thay đổi diện mạo trên mọi lĩnh vực như: Kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh ổn định, trật tự xã hội đảm bảo, đời sống của đông đảo nhân dân các dân tộc trong tỉnh ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố tích cực, tình hình tội phạm trên địa bàn diễn biến khá phức tạp, các tranh chấp về dân sự phát sinh từ lĩnh vực đất đai, giải phóng mặt bằng, mua bán, sản xuất hàng hóa... cũng ngày một gia tăng dẫn đến tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân cũng tăng theo. Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát giữ vai trò rất quan trọng, là nơi tiếp nhận các đề đạt, yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân có liên quan hoặc khi tham gia vai trò tố tụng. Viện kiểm sát không chỉ giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, mà còn kiểm tra, giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp cùng cấp, ban hành kiến, kháng nghị để khắc phục vi phạm, đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tư pháp tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

II. Những kinh nghiệm trong triển khai và thực hiện kế hoạch

1. Công tác triển khai kế hoạch

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác khiếu tố, nhiều năm qua, Ban cán sự Đảng, tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh thường xuyên quan tâm, chỉ đạo đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cả hai cấp. Từ việc triển khai kịp thời Nghị quyết 08/NQ-BCT ngày 02/01/2002; Nghị quyết 48/NQ-BCT ngày 24/5/2005; Nghị quyết 49/NQ-BCT ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 09/CT-TW ngày 06131202 "về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong giải quyết khiếu nại, tố cáo". Hàng năm, lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp đã bám sát Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để xây dựng chương trình, kế hoạch công tác khiếu tố gắn với tình hình thực tế ở địa phương. Việc triển khai kế hoạch được thực hiện đồng bộ, trong đó đặc biệt lưu ý đến sự phối hợp với các ngành, địa phương trong việc nắm, phân loại, xử lý giải quyết đơn của công dân. Đây là một trong những chỉ tiêu để đánh giá công tác thi đua của từng đơn vị:

2. Việc thực hiện kế hoạch

- Công tác tiếp công dân:

Viện kiểm sát đã thực hiện tốt việc tiếp công dân 24/24 giờ trong ngày. Riêng ngoài giờ hành chính, ngày lễ, tết và các ngày nghỉ theo quy định, việc tiếp công dân do bộ phận trực nghiệp vụ đảm nhận. Nơi tiếp công dân đảm bảo theo đúng quy định của ngành; công tác tiếp công dân đồng thời gắn với việc hướng dẫn trợ giúp pháp lý.

- Công tác giải quyết đơn khiếu nại , tố cáo :

Sau khi nhận đơn đã thực hiện việc phân loại ngay, chính xác, đặc biệt lưu ý đến các đơn kêu oan, đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động của ngành... Riêng đơn kêu oan thì khi phân loại đồng thời đề xuất với lãnh đạo Viện rút hồ sơ để nghiên cứu ngay và trả lời người có đơn. Đối với đơn thuộc thẩm quyền, việc tiếp nhận, phân loại, xử lý được thực hiện theo đúng Quy chế số 59 ngày 06/02/2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đối với đơn thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát được phân loại, xử lý theo Quyết định 487 ngày 04/9/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các đơn thuộc thẩm quyền và thuộc trách nhiệm của ngành đều được lập hồ sơ giải quyết và theo dõi kết quả. Định kỳ hàng tuần, tháng, quý, năm, phòng Khiếu tố và bộ phận Khiếu tố ở cấp huyện tiến hành rà soát, có biên bản đối chiếu, đôn đốc các đơn vị nghiệp vụ để giải quyết đơn. Trên cơ sở kết quả đối chiếu đã kịp thời phát hiện thiếu sót trong quá trình giải quyết để ban hành văn bản rút kinh nghiệm, yêu cầu tự kiểm tra, yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc tập hợp vi phạm để tiến hành trực tiếp kiểm sát khi thấy cần thiết ... Nếu có vướng mắc phải báo cáo lãnh đạo Viện chỉ đạo hoặc thông qua công tác giao ban tuần, tháng để bàn biện pháp tháo gỡ. Đối với các đơn do cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đài báo chuyển đến đều được thụ lý, giải quyết kịp thời, có hồ sơ và Viện kiểm sát cấp huyện phải báo cáo về Viện kiểm sát tỉnh để tiện cho việc quản lý chỉ đạo, đồng thời báo báo kết quả giải quyết đơn đối với cơ quan chuyển đơn. Hàng năm tổ chức tập huấn, có văn bản hướng dẫn hoặc thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hướng dẫn trực tiếp cho cán bộ làm công tác khiếu tố ở cấp huyện.

- Việc bố trí cán bộ làm công tác tiếp công dân:

Đây là một trong những việc cần thiết phải chú ý đến, vì vậy nhiều năm qua, lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp đã bố trí các Kiểm sát viên có năng lực, có kinh nghiệm, chịu khó nghiên cứu, am hiểu về pháp luật, đời sống xã hội, tác phong nhanh nhẹn, tự tin trong xử lý các tình huống (như khiếu kiện đông người, lợi dụng thương binh, gia đình chính sách... có lời nói, hành động quá khích) có tinh thần trách nhiệm trong công việc để làm công tác khiếu tố.

Công tác phối hợp liên ngành giữa các cơ quan tư pháp cùng cấp: Viện kiểm sát cả hai cấp chủ động nắm thông tin và đối chiếu kết quả giải quyết đơn với từng đơn vị trên cơ sở thực hiện Quy chế số 01 ngày 10/6/2007 giữa Viện kiểm sát - Tòa án - Công an - Thi hành án dân sự "về việc phối hợp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp". Năm 2010, Viện kiểm sát hai cấp đã cùng với các cơ quan tư pháp cùng cấp ký quy chế phối hợp mới về giải quyết khiếu nại, tố cáo tư pháp thay cho Quy chế năm 2007 vì có những bất cấp, không còn phù hợp.

Cùng với các biện pháp đồng bộ nêu trên, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp của Viện kiểm sát Quảng Ninh trong ba năm qua đã đạt được một số thành tích đáng kể. Theo số liệu thống kê từ năm 2008 đến năm 2010, Viện kiểm sát hai cấp trong tỉnh đã tiếp 474 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ảnh. Tiếp nhận, phân loại, xử lý đối với 2.305 đơn/1.893 vụ, việc. Tuy số lượng đơn tiếp nhận đều tăng (năm 2008: 739 đơn, năm 2009: 773 đơn, năm 2010: 793 đơn) nhưng số đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát lại có xu hướng giảm dần (năm 2008: 91 đơn, năm 2009: 70 đơn, năm 2010: 35 đơn), trong đó khiếu nại có 194 đơn và tố cáo có 02 đơn. Tỷ lệ giải quyết đối với các đơn thuộc thẩm quyền đều đạt tỷ lệ từ 98% đến 100%. Tỷ lệ đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giảm cũng thể hiện sự phân loại chính xác và quá trình xử lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Bên cạnh việc giải quyết tốt các đơn thuộc thẩm quyền, số đơn thuộc trách nhiệm phải kiểm sát cũng đạt tỷ lệ giải quyết khá cao so với tổng số đơn tiếp nhận. Tổng số đơn khiếu nại, tố cáo do các cơ quan tư pháp hai cấp tiếp nhận, giải quyết là 191 đơn, trong đó khiếu nại 171 đơn, tố cáo là 20 đơn, tỷ lệ giải quyết năm 2008 đạt 96%, năm 2009 đạt 98%, năm 2010 đạt 98,5%. Số liệu trên cho thấy số lượng đơn khiếu nại, tố cáo được các cơ quan tư pháp ở Quảng Ninh giải quyết đều tăng qua từng năm. Quá trình giải quyết đơn thuộc lĩnh vực tư pháp của 4 cơ quan (CA-TA-VKS-THADS) đều cơ bản được tiến hành dứt điểm, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người hoặc kéo dài. Điểm nổi bật là trong năm 2008, qua công tác tiếp nhận đơn đề nghị thi hành án, Viện kiểm sát tỉnh đã chủ động báo cáo Ban chỉ đạo thi hành án dân sự tỉnh để chỉ đạo cơ quan Thi hành án dân sự ở cả hai cấp thực hiện theo đề xuất của Viện kiểm sát và đã giải quyết dứt điểm 8 việc tồn đọng. Viện kiểm sát tỉnh đã tập hợp và đề ra các biện pháp tháo gỡ, báo cáo tỉnh chỉ đạo giải quyết các việc tồn đọng tiếp theo được Đảng bộ, chính quyền địa phương đánh giá cao.

3. Một số tồn tại, thiếu sót của các ngành tư pháp - Nguyên nhân

Để đạt được kết quả trên, trước hết phải kể đến sự quan tâm, nỗ lực đồng bộ của các cơ quan tư pháp trong toàn tỉnh, trong đó có vai trò kiểm tra, giám sát, tác động của Viện kiểm sát ở cả hai cấp. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các ngành tư pháp còn bộc lộ một số tồn tại, thiếu sót. Qua tiến hành 17 cuộc kiểm sát trực tiếp đối với: Trại tạm giam Công an tỉnh, Cơ quan điều tra 2 cấp, 3 văn bản yêu cầu tự kiểm tra đối với Tòa án phát hiện thấy một số vi phạm, thiếu sót. Viện kiểm sát đã ban hành một số kiến nghị để khắc phục vi phạm. Các vỉ phạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các ngành thường tập trung ở dạng như: Phân loại, xử lý đơn không chính xác dẫn đến giải quyết không đúng quy trình, kéo dài; vi phạm về thời hạn giải quyết khiếu nại; vi phạm về hình thức ra văn bản như không ban hành quyết định giải quyết (đối với đơn thuộc thẩm quyền) mà chỉ ra thông báo hoặc công văn trả lời; không lập hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các thiếu sót, tồn tại trên có thể nói do các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Về nguyên nhân khách quan:

Hệ thống văn bản pháp luật quy định về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung, khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp nói riêng còn thiếu và gặp nhiều vướng mắc khi thực hiện. Tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng khiếu nại, tố cáo ở các lĩnh vực khác như hình sự, dân sự không quy định về thời hạn, cách thức giải quyết. Có trường hợp khiếu nại, tố cáo về quyết định, hành vi sai phạm trong giai đoạn điều tra nhưng mãi khi vụ án đã được đưa ra xét xử, thi hành án mới phát hiện, khắc phục.

Bên cạnh đó, do trình độ hiểu biết pháp luật của một bộ phận công dân còn thấp và việc triển khai tuyên truyền pháp luật về khiếu nại, tố cáo chưa sâu rộng nên phần lớn những người khiếu nại, tố cáo đều chưa xác định được đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và thường gửi đơn đến nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều lần với cùng một nội dung.

- Về chủ quan: Một số ít người trong ngành tư pháp được giao nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Qua xem xét các dạng vi phạm cho thấy như khi tiếp nhận được đơn không có bước phân loại, hoặc phân loại không chính xác dẫn đến xác định nhầm loại đơn, kéo theo xác định không đúng quy trình giải quyết làm cho cả quá trình xem xét giải quyết kéo dài. Một dạng vi phạm khác là ra văn bản giải quyết không đúng hình thức, biểu hiện ở dạng không ban hành quyết định giải quyết mà chỉ ra thông báo hoặc công văn trả lời… Cá biệt còn những người được giao nhiệm vụ giải quyết chưa tận tâm với công việc, thiếu sự đầu tư nghiên cứu để nâng cao trình độ.

III. Một số đề xuất

Để khắc phục những tồn tại nêu trên trong công tác giải quyết đơn nói chung, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp nói riêng, một vấn đề đặt ra trong thời gian tới đó là cần tiếp tục đổi mới công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Xuất phát từ thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp ở Quảng Ninh, chúng tôi xin đề xuất một số nội dung sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; chủ động triển khai Quy chế phối hợp đã được ký kết giữa các cơ quan tư pháp ở cả hai cấp, trong đó phát huy vai trò của Viện kiểm sát là cơ quan đầu mối; chủ động nắm bắt thông tin và tham mưu, đề xuất với liên ngành để kịp thời giải quyết các đơn phức tạp, kéo dài.

Thứ hai, tăng cường công tác cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác khiếu tố như phòng làm việc, nơi tiếp dân, kinh phí... Đặc biệt là những nơi thuộc vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác khiếu tố và có kế hoạch luân chuyển, bồi dưỡng nghiệp vụ cho phù hợp, ở những vùng sâu, biên giới, đồng bào dân tộc thiểu số cần động viên cán bộ làm công tác khiếu tố tìm hiểu, nắm bắt tập tục, tâm lý, ngôn ngữ giao tiếp của các dân tộc sinh sống ở đó. Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Thứ ba, theo dõi chặt chẽ và tổng hợp các vi phạm, thiếu sót trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo để tiếp tục nâng cao chất lượng kiến, kháng nghị. Tập hợp những vướng mắc, bất cập tại các văn bản quy phạm pháp luật để kiến nghị sửa đổi cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu đổi mới, cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là mô hình tổ chức hệ thống cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát theo khu vực trong thời gian tới./.

MỐI QUAN HỆ PHỐI HỢP GIỮA PHÒNG KHIẾU TỐ

VỚI CÁC ĐƠN VỊ NGHIỆP VỤ TRONG KIỂM SÁT

VIỆC GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ TƯ PHÁP

VKSND tỉnh Tây Ninh

1. Về kỹ năng phát hiện vi phạm

Công tác tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết đơn trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân. Thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo, Viện trưởng VKSNDTC đã ban hành Quyết định số 59 ngày 06/02/2006 về Quy chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát và Quyết định số 487 ngày 04/9/2008 về việc giao nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát hai cấp ở tỉnh làm tốt công tác khiếu tố trong thời gian qua.

Thông qua các hoạt động trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành, VKSND hai cấp phát hiện nhiều vi phạm của các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cụ thể:

+ Thông qua đơn từ tiếp công dân hoặc do các nguồn khác chuyển đến: Đối với nguồn đơn này, khi tiếp nhận, phân loại, xử lý, qua đối chiếu với kết quả giải quyết đơn của các cơ quan có thẩm quyền, VKSND hai cấp phát hiện các cơ quan tư pháp có những vi phạm chủ yếu như: Thụ lý, giải quyết đơn không thuộc thẩm quyền (không phải đơn tư pháp nhưng vẫn thụ lý là đơn tư pháp; khi giải quyết đơn bằng công văn, không phải bằng quyết định); vi phạm về thẩm quyền ký quyết định giải quyết đơn (đơn khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, khi ban hành quyết định giải quyết đơn cũng do chính Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký); từ khi thụ lý đơn cho đến khi có quyết định giải quyết để quá thời hạn quy định; nội dung quyết định giải quyết đơn không đúng ...Những vi phạm nói trên của các cơ quan tư pháp , VKSND hai cấp đã phát hiện kịp thời, ban hành kiến nghị yêu cầu khắc phục sửa chữa đều được chấp nhận.

+ Thông qua công tác kiểm tra cấp dưới:

Qua kiểm tra công tác giải quyết đơn đối với liên ngành tư pháp cấp huyện (kể cả công tác giải quyết đơn của VKSND các huyện, thị trong tỉnh), VKSND tỉnh phát hiện những vi phạm chủ yếu như: Phân loại đơn tư pháp thuộc thẩm quyền chưa chính xác, thụ lý giải quyết đơn sai thẩm quyền, chưa mở sổ tiếp công dân, thụ lý đơn hoặc có mở sổ nhưng ghi chép không đầy đủ các cột mục; đơn tư pháp do Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký sau đó có đơn khiếu nại, khi Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết đơn bằng công văn hoặc thông báo, không ban hành quyết định giải quyết theo quy định, thời hạn ban hành quyết định giải quyết đơn chậm so với thời gian quy định của pháp luật Viện kiểm sát cũng đã làm rõ nguyên nhân của những tồn tại nêu trên. Đó là do nhiều cán bộ làm công tác khiếu tố của cơ quan tư pháp cấp huyện chưa được tập huấn, hướng dẫn về nghiệp vụ, hoặc do nhu cầu công tác phải chuyển đổi vị trí làm việc, số cán bộ mới chưa có kinh nghiệm thực tiễn nên việc nhận thức, tham mưu giúp việc phân loại, xử lý đơn còn gặp khó khăn, chưa có sự phân biệt chính xác giữa đơn tư pháp và đơn khác...làm hạn chế kết quả công tác giải quyết đơn khiếu tố.

+ Thông qua việc theo dõi giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp:

Trong quá trình thực hiện công tác khiếu tố, VKSITD hai cấp tỉnh Tây Ninh đã thực hiện đúng Quyết định số 487 ngày 04/9/2008 . đơn vị Khiếu tố VKSND hai cấp trong quá trình tiếp nhận, phân loại đơn, xác định là đơn tư pháp thì chuyển đến các đơn vị nghiệp vụ có liên quan xem xét chuyển đến cơ quan tư pháp giải quyết theo thẩm quyền; trên cơ sở đó, đơn vị Khiếu tố có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc kiểm sát việc giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp; khi nhận được kết quả giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp gửi đến, các đơn vị nghiệp vụ phối hợp với đơn vị Khiếu tố kiểm tra tính có căn cứ của quyết định giải quyết đơn, nếu phát hiện vi phạm thì báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện xem xét kiến nghị kịp thời. Những vi phạm của các cơ quan tư pháp đã phát hiện chủ yếu là: Giải quyết đơn quá thời hạn luật định, việc lập hồ sơ giải quyết chưa theo đúng quy định của pháp luật, giải quyết đơn sai thẩm quyền ...

2. Về hoạt động phối hợp

Hoạt động phối hợp trong công tác khiếu tố giữa Phòng Khiếu tố với các phòng nghiệp vụ có liên quan thuộc VKSND tỉnh và với VKSND các huyện, thị được thực hiện trên cơ sở Quy chế số 59 và Quyết định số 487 của Viện trưởng VKSNDTC. Khi các phòng nghiệp vụ thuộc VKSND tỉnh và các bộ phận nghiệp vụ thuộc VKSND huyện nhận được kết quả giải quyết đơn về tư pháp của các cơ quan tư pháp thì sao gửi 01 bản cho đơn vị khiếu tố để tiến hành kiểm sát; hàng tuần sẽ có đối chiếu kết quả trên cơ sở danh sách do đơn vị khiếu tố chuyển đến các đơn vị nghiệp vụ. Qua đó tổng hợp những vi phạm làm cơ sở tham mưu cho lãnh đạo Viện xây dựng kế hoạch, quyết định kiểm sát trực tiếp đối với cơ quan tư pháp mà không phải qua bước khảo sát nắm tình hình vi phạm của cơ quan được kiểm sát. Do tổng hợp nắm chắc vi phạm của ngành bạn nên khi kiểm sát trực tiếp về công tác thụ lý, giải quyết đơn về tư pháp đều đạt chất lượng hiệu quả cao, những vi phạm được phát hiện đều được ngành bạn tiếp thu sửa chữa.

Định kỳ, VKSND tỉnh tiến hành kiểm tra toàn diện các khâu công tác đối với VKSND cấp huyện, trong đó có kiểm tra, kết luận việc thực hiện Quy chế số 59 và Quyết định số 487 của Viện trưởng VKSNDTC. Từ đó, chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết đơn thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết đơn tư pháp của các cơ quan tư pháp không ngừng được nâng lên.

3. Một số kinh nghiệm

- Công tác giải quyết đơn thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết đơn tư pháp của các cơ quan tư pháp là một nhiệm vụ quan trọng của ngành, do đó trước hết cần phải được kiện toàn về mặt tổ chức, cán bộ được phân công làm công tác này phải có kiến thức pháp luật, có trình độ nghiệp vụ và linh nghiệm thực tiễn, yêu thích công việc được giao.

- Các đơn vị trong ngành phải thường xuyên tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc Quy chế số 59, Quyết định số 487; định kỳ có kiểm tra rút kinh nghiệm nghiệp vụ trong ngành về công tác giải quyết đơn thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết đơn tư pháp của các cơ quan tư pháp.

VKSND phải nắm chắc tình hình thụ lý, kết quả giải quyết đơn, nhất là phải tổng hợp đầy đủ các vi phạm trong công tác giải quyết đơn tư pháp của các cơ quan tư pháp để khi trực tiếp kiểm sát có kết luận chính xác những vi phạm và kiến nghị biện pháp khắc phục, sửa chữa có hiệu quả./.

KỸ NĂNG PHÁT HIỆN VI PHẠM TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,

TỐ CÁO VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA CÁC C Ơ QUAN TƯ PHÁP.

VKSND tỉnh Gia Lai

 

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP

1. Một số khái niệm

+ Khiếu nại: Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận. Dưới góc độ pháp lý, khiếu nại được hiểu là: Việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại, tố cáo quy định đề nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo).

+ Tố cáo: Cùng với khiếu nại, quyền tố cáo của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật Khiếu nại, tố cáo và nhiều văn bản pháp luật khác. Khái niệm tố cáo có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ pháp lý, tố cáo được hiểu: "là việc công dân do Luật Khiếu nại, tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Khoản 2, Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo).

+ Hoạt động tư pháp: Ở nhiều nước trên thế giới, nói đến hoạt động tư pháp là nói đến hoạt động xét xử của Tòa án cũng như nói đến cơ quan tư pháp là nói đến Tòa án. Còn ở nước ta, khái niệm "hoạt động tư pháp" luôn có những thay đổi theo các giai đoạn lịch sử, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nếu theo tinh thần của Hiến pháp năm 1946, với quy định về cơ quan tư pháp là Tòa án, hoạt động tư pháp thuần túy được hiểu là hoạt động xét xử của Tòa án. Từ Hiến pháp 1959 trở đi, khái niệm "hoạt động tư pháp" từng bước được mở rộng và đến nay đã gồm nhiều hoạt động khác nhau, như: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Các hoạt động tư pháp hiện nay được thực hiện bởi nhiều chủ thể, như: Tòa án; Viện kiểm sát; Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng và một số cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra, như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển... Các hoạt động tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ các quyền tự do, tính mạng, tài sản của công dân...

Như vậy, khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp là những khiếu nại, tố cáo liên quan đến tố tụng (hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) thuộc thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết của các cơ quan tư pháp (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án) do những người tiến hành tố tụng được pháp luật quy định thực hiện. Còn những đơn khiếu nại, tố cáo không liên quan đến tố tụng không phải là đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp.

2. Những quy định pháp lý về việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.

Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các VKSND địa phương, các Viện kiểm sát Quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vị trách nhiệm do luật định". Điều 1 Luật Tổ chức VKSND năm 2002 quy định: "VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật" và Điều 4 quy định "VKSND có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật". Như vậy, VKSND tập trung giải quyết các khiếu nại thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã dành hẳn một Chương XXXV với 15 điều quy định rõ thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của VKSND được quy định trong các Điều 329, 330, 332, 333. Bộ luật quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi tiến hành kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp (Điều 339). Đối với các khiếu nại đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự được áp dụng các quy định tại chương XXX và XXXI của Bộ luật để giải quyết. Các Điều 274 và 277 của Bộ luật còn quy định việc tổ chức, cơ quan, người bị kết án có quyền phát hiện các vi phạm pháp luật trong các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thông báo cho người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm biết, nếu không có căn cứ kháng nghị thì trước khi hết thời hiệu kháng nghị, người có quyền kháng nghị phải trả lời cho người, cơ quan, tổ chức đã phát hiện biết rõ lý do về việc không kháng nghị.

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 cũng dành Chương XXXIII quy định về khiếu nại, tố cáo, trong đó quy định rõ quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự có thể bị khiếu nại; thời hiệu, thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng VKSND; thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thẩm phán, Phó Chánh án, Chánh án ... Tuy Bộ luật không quy định các biện pháp công tác khi VKSND tiến hành kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo như Điều 339 Bộ luật Tố tụng Hình sự, nhưng Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng đề cập trách nhiệm của Viện kiểm sát khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự (Điều 404).

Khoản 2 Điều 391 Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng nêu rõ, việc giải quyết khiếu nại đối với án sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân, các quyết định tố tụng khác của người tiến hành tố tụng dân sự ban hành không áp dụng Chương XXXIII mà áp dụng các chương tương ứng của Bộ luật Tố tụng Dân sự để giải quyết.

Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 tại Chương VI có quy định quyền khiếu nại về thi hành án, thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại về thi hành án; tố cáo và giải quyết tố cáo về thi hành án... Tại khoản 2 Điều 12 của Luật này và khoản 2 Điều 21 Luật Tổ chức VKSND năm 2002 đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND là kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của đương sự, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên...và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án.

Bên cạnh các quy định pháp luật nêu trên, Viện trưởng VKSNDTC cũng đã ban hành một số quyết định để quy định về thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp trong ngành như Quy chế số 59, Quyết định số 487.

Như vậy, để thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải nêu cao tinh thần trách nhiệm mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong nội bộ ngành KSND cần nhanh chóng đổi mới nhận thức, nâng cao trách nhiệm, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp theo đúng các quy định của pháp luật.

II. KỸ NĂNG PHÁT HIỆN VI PHẠM TRONG GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ TƯ PHÁP

1. Nguồn phát hiện vi phạm

+ Thông qua công tác tiếp công dân và thụ lý đơn khiếu nại, tố cáo.

Theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Quy chế số 59, tất cả đơn khiếu nại, tố cáo gửi đến VKSND đều được quản lý thống nhất qua một đầu mối là đơn vị khiếu tố, đơn vị khiếu tố có trách nhiệm phân loại và chuyển những đơn khiếu nại, tố cáo đến các đơn vị nghiệp vụ liên quan giải quyết, đồng thời theo dõi việc giải quyết đơn tư pháp của các đơn vị nghiệp vụ; đối với những đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết thì hướng dẫn công dân khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền. Thông qua việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp trong thời gian qua thấy rằng, đây là nguồn thông tin quan trọng trong việc phát hiện vi phạm về giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp, vì qua việc tiếp nhận, phân loại, theo dõi việc xử lý đơn tư pháp sẽ giúp cho Viện kiểm sát có những thông tin vi phạm của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng để làm cơ sở pháp lý cho Viện kiểm sát thực hiện các phương thúc kiểm sát khác nhau.

+ Thông qua kết quả giải quyết đơn do các cơ quan tư pháp chuyển đến.

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 02 ngày 10/8/2005 thì kết quả giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo phải được gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết cuối cùng và Viện kiểm sát cùng cấp. Do vậy, thông qua công tác kiểm sát kết quả giải quyết đơn do các cơ quan tư pháp chuyển đến đã giúp cho Viện kiểm sát phát hiện một số vi phạm về thời hạn, thẩm quyền, nội dung, hình thức giải quyết... Đây cũng là một nguồn thông tin chủ yếu giúp cho Viện kiểm sát phát hiện vi phạm của các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

+ Thông qua việc kiểm tra thực hiện Chỉ thị 09/CT-TW của Ban Bí thư.

Đây là một căn cứ . quan trọng để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp đối với các cơ quan tư pháp ở địa phương, vì việc làm này đặt dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của cấp ủy Đảng. Do vậy, việc thực hiện rất thuận lợi, bên cạnh đó việc kiểm tra có sự phối hợp của các ngành do Viện kiểm sát chủ trì nên những vi phạm được phát hiện qua kiểm tra thường được khắc phục kịp thời, hạn chế tối đa đơn thư tồn đọng, kéo dài. Như vậy, Viện kiểm sát đã thực hiện tốt việc tham mưu cho cấp ủy chấn chỉnh việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp ở địa phương, nâng cao trách nhiệm của các ngành trong việc tiếp nhận, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân.

+ Thông qua việc thực hiện Quy chế phối hợp liên ngành.

Thực hiện tốt Quy chế phối hợp liên ngành sẽ giúp Viện kiểm sát nắm được các vi phạm của các cơ quan tư pháp để tiến hành kiểm sát, nhưng hiệu quả nhất đó là giúp cho các cơ quan tư pháp thấy được các tồn tại, thiếu sót của mình trong giải quyết đơn, từ đó có biện pháp khắc phục vi phạm để việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp được tốt hơn.

+ Thông qua sự phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ, giữa VKSND cấp trên và VKSND cấp dưới trong việc phát hiện cũng như khi tiến hành kiểm sát.

Đây là một trong những biện pháp để nắm nguồn thông tin quan trọng đáng tin cậy về các vi phạm của các cơ quan tư pháp. Nhưng hiện tại đang có nhiều trở ngại khi việc phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ, VKSND cấp trên và VKSND cấp dưới chưa tốt, còn có biểu hiện "khoán trắng" cho đơn vị khiếu tố nên việc phát hiện vi phạm còn hạn chế, chủ yếu dừng lại ở việc phát hiện trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết mà chưa đi sâu phát hiện vi phạm trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết.

2. Xác định thẩm quyền giải quyết và trách nhiệm kiểm sát giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp

Để xác định thẩm quyền giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của cơ quan tư pháp, đồng thời cũng là xác định trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết đơn của Viện kiểm sát thì phải dựa vào nhiều căn cứ, đó là sự tổng hợp nhiều yếu tố: Nội dung đơn khiếu nại, tố cáo, căn cứ pháp luật về thẩm quyền giải quyết, về trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết, trong đó nội dung đơn là căn cứ quan trọng đầu tiên để phân loại đơn, xác định thẩm quyền giải quyết và tiếp đó là trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết.

+ Quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu nại về tư pháp.

Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định tại các Điều 329, 330, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự và trong Thông tư liên tịch số 02 ngày 10/8/2005 của liên ngành tư pháp Trung ương.

Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định tại Điều 395 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và trong Thông tư liên tịch số 03 ngày 1/9/2005 của VKSNDTC và TANDTC.

Đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, thẩm quyền giải quyết được quy định tại Điều 275, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 285, 307 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại khác của Viện kiểm sát bao gồm: Khiếu nại quyết định, hành vi của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết; trường hợp người khiếu nại không đồng ý với kết quả giải quyết mà khiếu nại tiếp thì Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Việc giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là giải quyết cuối cùng.

- Khiếu nại quyết định, hành vi của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Việc giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là giải quyết cuối cùng.

- Khiếu nại quyết định, hành vi của Kiểm sát viên VKSNDTC, Thủ trưởng Cơ quan điều tra của VKSNDTC, Phó Viện trưởng VKSNDTC do Viện trưởng VKSNDTC giải quyết. Việc giải quyết của Viện trưởng VKSNDTC là giải quyết cuối cùng.

- Khiếu nại quyết định, hành vi của Kiểm sát viên, Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự Trung ương do Viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự Trung ương giải quyết. Việc giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự Trung ương là giải quyết cuối cùng.

+ Về thẩm quyền giải quyết tố cáo trong hoạt động tư pháp

Căn cứ khoản 2 điều 19 Quy chế số 59 thì thẩm quyền giải quyết tố cáo trong hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát được thực hiện như sau: Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát, của người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra và giải quyết tố cáo liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự và các thông tư hướng dẫn liên quan.

- Thẩm quyền giải quyết các tố cáo khác được thực hiện theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. Riêng giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát nơi quản lý người chấp hành án phạt tù.

+ Quy định về trách nhiệm kiểm sát

Về căn cứ pháp luật để tiến hành kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp là các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tổ chức VKSND, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Thi hành án Dân sự, Luật Thi hành án Hình sự. Ngoài ra còn có các thông tư liên tịch như Thông tư liên tịch số 02 ngày l0/8/20ọ5, Thông tư liên tịch số 03 ngày 1/9/2005.

Đối với biện pháp trực tiếp kiểm sát chỉ được quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự và Thông tư liên tịch số 02. Tuy nhiên, với quy định hiện tại thì khó tìm ra căn cứ để tiến hành trực tiếp kiểm sát bởi vì trước khi tiến hành trực tiếp kiểm sát phải yêu cầu tự kiểm tra, nếu cơ quan tư pháp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì tiếp tục yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu. Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu nếu thấy việc giải quyết chưa đúng thì mới có quyền trực tiếp kiểm sát. Việc yêu cầu tự kiểm tra cũng chỉ được thực hiện khi có một trong các điều kiện là khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Thực hiện đúng quy trình này dẫn đến khoảng thời gian từ khí Viện kiểm sát phát hiện dấu hiệu vi phạm đến khi trực tiếp kiểm sát là khá dài. Bên cạnh đó còn một số hạn chế khác là khi để các cơ quan tư pháp tự kiểm tra và báo cáo kết quả thì thông thường họ không báo cáo về sai phạm của họ và Viện kiểm sát không trực tiếp kiểm tra sổ sách và các tài liệu liên quan nên không biết việc họ báo cáo đã trung thực và đầy đủ chưa. Viện kiểm sát không thể tùy tiện ra quyết định trực tiếp kiểm sát và trong quyết định trục tiếp kiểm sát luôn phải nêu rõ căn cứ để kiểm sát. Vì vậy, để công tác kiểm sát có hiệu quả hơn thì cần sửa đổi, bổ sung quy định về căn cứ để tiến hành trực tiếp kiểm sát theo hướng mở rộng quyền này hơn.

3. Những vi phạm điển hình trong công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

+ Vi phạm về trình tự, thủ tục giải quyết.

Theo quy định tại Điều 37 Luật Khiếu nại, tố cáo thì người giải quyết khiếu nại phải gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại. Song trên thực tế, người giải quyết khiếu nại tiến hành thẩm tra, xác minh và ra quyết định giải quyết khiếu nại ít khi gặp gỡ, đối thoại. Do vậy, người khiếu nại không có cơ hội tiếp cận với các thông tin, tài liệu làm cơ sở để giải quyết khiếu nại, không được yêu cầu các cơ quan cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan phục vụ việc giải quyết khiếu nại.

- Kết thúc việc giải quyết khiếu nại, một số đơn vị chỉ ban hành công văn trả lời đơn, không ban hành quyết định giải quyết hoặc giải quyết tố cáo chỉ ban hành văn bản giải quyết, không ban hành kết luận. Điều đó trái với quy định của Thông tư liên tịch số 02 cũng như Luật Khiếu nại, tố cáo.

- Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 02, quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết cuối cùng và Viện kiểm sát cùng cấp. Tuy vậy, vẫn còn một số cơ quan tư pháp không gửi quyết định giải quyết theo quy định trên nên đơn vị khiếu tố không nắm được nội dung, kết quả giải quyết đơn nên khó khăn trong việc kiểm sát giải quyết đơn và không nắm được các văn bản trả lời cuối cùng.

Theo quy định, người khiếu nại có quyền nhận được văn bản trả lời về việc thụ lý, quyết định giải quyết khiếu nại. Song trên thực tế, cơ quan có thẩm quyền không thực hiện nghiêm túc quy định này, điều đó đã gây ảnh hưởng đến việc khiếu nại tiếp theo của công dân như muốn khiếu nại tiếp thì phải có quyết định giải quyết lần đầu kèm theo đơn; tình trạng chuyển đơn lòng vòng, vi phạm thời hạn giải quyết còn rất nhiều.

+ Vi phạm về thẩm quyền giải quyết.

Thông qua việc nghiên cứu văn bản trả lời đơn của các cơ quan tư pháp chuyển đến, VKSND đã phát hiện một số vi phạm như việc ký không đúng thẩm quyền các kết luận điều tra của Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra dẫn đến một số Viện kiểm sát cấp huyện ra văn bản giải quyết cuối cùng trái với quy định tại Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vi phạm Điều 330 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Thông tư liên tịch số 02 về thẩm quyền ký quyết định giải quyết khiếu nại cáo trạng. Một số đơn vị không ra quyết định giải quyết khiếu nại loại này mà lưu đơn vào hồ sơ vụ án, chuyển Tòa án xét xử; một số đơn vị khác tuy có ra văn bản giải quyết khiếu nại nhưng ở dạng giấy báo tin; một số trường hợp văn bản kết luận điều tra do Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra ký, khi bị khiếu nại thì chính Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra lại ký văn bản giải quyết khiếu nại.VV...

Theo Điều 36, Điều 330 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì, Viện trưởng Viện kiểm sát mới có quyền ký quyết định giải quyết khiếu nại. Đơn khiếu nại cáo trạng do Phó Viện trưởng ký (kể cả do Viện trưởng ký) thì đều phải được Viện trưởng xem xét, ký quyết định giải quyết. Nếu công dân không đồng ý khiếu nại tiếp thì thẩm quyền giải quyết cuối cùng là Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Tuy nhiên, một số đơn vị nghiệp vụ chưa nhận thức đúng đắn quy định trên nên có tình trạng văn bản giải quyết khiếu nại cáo trạng do Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng ký thừa lệnh Viện trưởng.

+ Vi phạm về thời hạn giải quyết

Thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực tố tụng đến nay đã được quy định rõ trong các Bộ luật, luật. Tuy vậy, hầu hết các cơ quan tư pháp thụ lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, thậm chí có vụ việc kéo dài làm cho công dân phải đi lại nhiều lần, gửi đơn nhiều nơi, gửi vượt cấp.

4. Nguyên nhân của vi phạm

Các cơ quan tư pháp chưa thực sự quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; một số cán bộ, công chức còn thiếu kinh nghiệm, kỹ năng giải quyết đơn, không thực hiện đúng trình tự, thời gian giải quyết, không ra quyết định giải quyết theo quy định của pháp luật, chưa quan tâm đầy đủ đến việc tiếp công dân, gặp gỡ, đối thoại và lắng nghe ý kiến của công dân, nhất là những người có trách nhiệm giải quyết lần đầu không xem xét lại một cách nghiêm túc quyết định của mình bị khiếu nại; còn tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong việc tiếp công dân cũng như giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Các đơn vị nghiệp vụ trong ngành chưa chú trọng thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp trong từng vụ án cụ thể, mới chỉ quan tâm giải quyết án, không giám sát được việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan thi hành án, trong khi đó đơn vị khiếu tố chỉ kiểm sát về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn (về hình thức), không nắm bắt được nội dung vụ án thì rất khó kiểm sát việc giải quyết đơn; các đơn vị chưa phân công cụ thể cán bộ làm nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết đơn, chỉ chuyển đơn đến các cơ quan tư pháp là hết trách nhiệm, việc kiểm sát chủ yếu dựa vào kết quả giải quyết vụ án, không lập hồ sơ kiểm sát giải quyết đơn riêng.

- Pháp luật quy định công dân, đương sự có quyền khiếu nại đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng không quy định trách nhiệm, nghĩa vụ cụ thể. Vì vậy, không ít người lợi dụng quyền dân chủ để khiếu nại tràn lan, không có điểm dừng. Mặt khác, chất lượng kiểm sát còn hạn chế làm cho công tác giải quyết đơn chưa thực sự có hiệu quả.

- Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực tố tụng ban hành tương đối đầy đủ nhưng nhiều quy định còn chồng chéo, thiếu tính khả thi trong khi việc hướng dẫn thi hành của các cơ quan có thẩm quyền còn chậm.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

1. Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật quy định việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp

- Để hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo và giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo đòi hỏi phải có những biện pháp cơ bản, đồng bộ, tiến hành đồng thời với cải cách tư pháp. Trước hết là phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong từng ngành, từng lĩnh vực theo hướng:

- Quy định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết đơn tư pháp thống nhất trong các cơ quan tư pháp để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo; quy định chặt chẽ về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự; hoàn thiện quy định về chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức, đảm bảo cho các hoạt động của cơ quan tư pháp rõ ràng, hạn chế những vi phạm, sai sót trong quá trình thực hiện dẫn đến phát sinh khiếu nại, tố cáo.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở cấp cơ sở, nhất là pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thông qua nhiều hình thức nhằm tăng thêm nhận thức, ý thức pháp luật cho người dân.

- Cần minh bạch trong công tác thẩm tra, xác minh, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, tạo điều kiện cho công dân giám sát việc giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp.

Tăng cường phối hợp giữa Viện kiểm sát với các cơ quan tư pháp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo phức tạp, bức xúc.

2. Tăng cường năng lực, trách nhiệm cán bộ giải quyết đơn

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, có bản lĩnh chính trị đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Chú trọng việc bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở tất cả các khâu nghiệp vụ, tiếp tục đổi mới toàn diện hoạt động nghiệp vụ của khâu công tác này.

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của VKSND các cấp trong việc phổ biến, quán triệt các văn bản pháp luật, các chính sách mới ban hành về khiếu nại, tố cáo.

- Lãnh đạo VKSND các cấp cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của ngành Kiểm sát để từ đó có trách nhiệm chăm lo và bố trí tạo mọi điều kiện cho đơn vị khiếu tố làm tròn nhiệm vụ; thường xuyên kiểm tra, khắc phục kịp thời những vướng mắc giữa đơn vị khiếu tố với các đơn vị nghiệp vụ khác; tăng cường quản lý, chỉ đạo điều hành đối với các đơn vị trực thuộc VKSND cấp mình và VKSND cấp dưới.

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo ngay tại cơ sở

- Hệ thống các cơ quan tư pháp phối hợp với chính quyền địa phương, tổ hòa giải tại cơ sở chủ động giải thích thắc mắc của dân thông qua việc tiếp công dân, trao đổi với công dân. Qua đó giúp cho các đơn vị cơ sở phát hiện được nguyên nhân và ngăn ngừa khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp. Khi có khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền thì kịp thời giải quyết, nếu thuộc thẩm quyền cấp trên thì hướng dẫn người dân khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; vận động, thuyết phục người dân thực hiện các quyết định giải quyết của cấp trên.

Các cơ quan Đảng, chính quyền cấp trên thường xuyên chỉ đạo cấp cơ sở rà soát những khiếu nại, tố cáo để kịp thời giải quyết; khi phát sinh những khiếu nại, tố cáo phức tạp thì phải phối hợp để cùng giải quyết. Các cơ quan tư pháp cấp trên trực tiếp chỉ đạo giải quyết những khiếu nại, tố cáo phức tạp, điểm nóng xảy ra ở cơ sở, hạn chế khiếu kiện đông người, gây rối ở các cơ quan tư pháp, khắc phục kịp thời những hậu quả xảy ra, tạo niềm tin cho công dân với các cơ quan tư pháp.

4. Thực hiện có hiệu quả Quyết định số 487 ngày 4/9/2008 của Viện trưởng VKSNDTC

- Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp theo Quyết định số 487, Ban cán sự Đảng, lãnh đạo VKSND các cấp cần nhận thức toàn diện, đầy đủ về yêu cầu nhiệm vụ của công tác này; tiếp tục quán triệt yêu cầu, nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Quyết định số 487 đến toàn thể cán bộ, công chức trong ngành, coi đây là chỉ tiêu thi đua; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác khiếu tố, tăng cường cơ sở vật chất, biên chế cho đơn vị khiếu tố.

- Các đơn vị nghiệp vụ tăng cường các biện pháp, quản lý theo dõi chặt chẽ kết quả giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp; phối hợp chặt chẽ cùng đơn vị khiếu tố trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

- Đơn vị khiếu tố cần chủ động tham mưu giúp lãnh đạo Viện tăng cường quản lý Nhà nước về giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; thường xuyên đối chiếu, đôn đốc việc giải quyết đơn của các đơn vị nghiệp vụ./.

MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA VKSND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO

VỀ TỘI PHẠM VÀ GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA

VKSNDTP Hải Phòng

 

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, còn kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra tuân theo các quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng và bảo đảm.

Tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra là một yêu cầu quan trọng để nâng cao vai trò, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp. Xác định rõ tầm quan trọng của công tác này, trong những năm qua, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã và đang triển khai thực hiện một số biện pháp để nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng. Trên cơ sở những kết quả bước đầu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng rút ra một số kinh nghiệm như sau:

1. Làm chuyển biến về nhận thức và xác định trách nhiệm của Lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra. Công tác khiếu tố của ngành Kiểm sát nói chung và công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng đã có thời gian ít được quan tâm, đặc biệt là giai đoạn Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 có hiệu lực thi hành. Điều này thể hiện rõ ở nhận thức của Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp và các Kiểm sát viên, vì vậy công tác này ít được quan tâm trong công tác chỉ đạo, điều hành và chưa được đầu tư đúng mức về con người cũng như trang thiết bị phục vụ công tác. Trước những yêu cầu mới về nhiệm vụ của công tác khiếu tố, đó là thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp, bảo đảm tính chuyên sâu về nghiệp vụ, kết quả các cuộc kiểm sát không chỉ dừng lại ở số lượng mà còn bảo đảm cả về chất lượng, bảo đảm cả về thủ tục và nội dung giải quyết, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã đề ra những biện pháp để đẩy mạnh làm chuyển biến công tác này, cụ thể là: Phân công lại lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân thành phố phụ trách công tác khiếu tố và kiện toàn lại đội ngũ làm công tác khiếu tố ở Viện kiểm sát nhân dân thành phố như: Bổ sung một đồng chí Phó Trưởng phòng, một Kiểm sát viên cấp tỉnh cho phòng Khiếu tố; các phòng nghiệp vụ đều bố trí Kiểm sát viên làm công tác này.

- Tổ chức các hội nghị chuyên sâu về công tác khiếu tố (năm 2008 và 2010) để trao đổi, truyền đạt nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng về công tác khiếu tố. Để đạt được mục đích, yêu cầu trên, Hội nghị mời đại diện một số VKSND tỉnh, thành (Trưởng phòng Khiếu tố Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội) tham dự và trao đổi kinh nghiệm.

Xác định rõ chỉ tiêu nghiệp vụ khiếu tố trong kế hoạch công tác hàng năm cho các đơn vị nghiệp vụ như, đối với Viện kiểm sát nhân dân thành phố và các Viện kiểm sát quận, huyện tiến hành ít nhất 01 cuộc kiểm sát trực tiếp.

2. Những biện pháp để bảo đảm thực hiện tết nhiệm vụ.

Tham mưu và tranh thủ sự lãnh đạo của Thành uỷ để Viện kiểm sát chủ trì xây dựng Quy chế phối hợp liên ngành: Viện kiểm sát - Công an - Hải quan Bộ đội biên phòng - Cảnh sát biển vùng I - Thanh tra - Cục thuế - Kiểm lâm - Chi cục quản lý thị trường thành phố về công tác tiếp nhận giải quyết, quản lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Định kỳ 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thường trực của liên ngành có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo tình hình về công tác tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, giúp Thành uỷ và lãnh đạo liên ngành nắm bắt được tình hình diễn biến tội phạm xảy ra trên địa bàn thành phố để có sự chỉ đạo xử lý kịp thời.

Tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ, nắm vững pháp luật, rèn luyện kỹ năng về nghiệp vụ kiểm sát khiếu tố, kỹ năng tiếp công dân, phân loại và xử lý đơn, đặc biệt là kỹ năng áp dụng các phương thức kiểm sát để tiến hành kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

Viện trưởng Viện kiểm sát thành phố đã ban hành và triển khai thực hiện Quyết số 73/QĐ-VKS-V7 ngày 17/9/2010 kèm theo Quy chế phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; Quyết định số 44/QĐ-VKS-P7 ngày 7/5/2010 về nội quy tiếp công dân, tăng cường công tác tiếp dân ở hai cấp kiểm sát.

Tăng cường công tác kiểm tra của Viện kiểm sát nhân dân thành phố đối với các Viện kiểm sát nhân dân cấp quận, huyện, phát huy vai trò đầu mối và vai trò giám sát của phòng Khiếu tố trong công tác này.

Tập hợp số liệu, cập nhật, tích luỹ vi phạm của các Cơ quan điều tra ở cả hai cấp để phục vụ công tác kiểm sát, đây là cơ sở cho việc triển khai trực tiếp kiểm sát, bởi vì có phát hiện được vi phạm thì mới tiến hành yêu cầu kiểm tra hoặc trực tiếp kiểm sát. Ví dụ: Khi thấy đủ dấu hiệu vi phạm thì áp dụng ngay cuộc kiểm sát trực tiếp, nếu chưa rõ dấu hiệu vi phạm thì áp dụng phương thức kiểm sát yêu cầu tự kiểm tra, sau đó mới tiến hành trực tiếp kiểm sát.

3. Những kinh nghiệm để phát hiện vi phạm của Cơ quan điều tra

3.1 . Phát hiện vi phạm thông qua các nguồn sau đây

Xác định địa bàn và đơn vị trọng điểm, thông qua hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra để phát hiện vi phạm.

Thông qua công tác tiếp công dân hoặc tiếp nhận đơn của công dân gửi đến; qua việc thực hiện quy chế phối hợp liên ngành của Trung ương và quy chế phối hợp liên ngành ở địa phương để tổng hợp tình hình tội phạm xảy ra trên địa bàn, xem xét việc xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm để phát hiện vi phạm của Cơ quan điều tra.

Thông qua thực hiện Chỉ thị 09-CT/TW ngày 6/3/2002 của Ban Bí thư để rà soát phát hiện những tố giác, tin báo về tội phạm, các khiếu nại, tố cáo kéo dài, quá hạn giải quyết mà không giải quyết.

Qua thực hiện sự phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ của Viện kiểm sát trong công tác quản lý tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm để phát hiện vi phạm của Cơ quan điều tra. Năm 2010, phòng 7 và phòng lA Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã triển khai trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiếp nhận, quản lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tại Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC45) Công an thành phố Hải Phòng, đã phát hiện nhiều vi phạm của phòng PC45, trong đó có vi phạm bỏ lọt tội phạm, Viện kiểm sát đã kiến nghị yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng khởi tố vụ án hình sự về tội "Mua bán người" theo Điều 119 Bộ luật hình sự.

3.2. Tổng hợp dấu hiệu các dạng vi phạm của Cơ quan điều tra theo các nhóm sau đây

Một là, vi phạm về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đây là dạng vi phạm phổ biến, thường xuyên, kéo dài và thường xảy ra ở nhiều Cơ quan điều tra của cả hai cấp (cấp quận, huyện và cấp thành phố). Đó là tình trạng để quá hạn nhiều tháng Cơ quan điều tra mới ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Ví dụ: năm 2010 Viện kiểm sát nhân dân thành phố trực tiếp kiểm sát phòng Cảnh sát điều tra (PC45) Công an thành phố, qua nghiên cứu 14 hồ sơ giải quyết thì có 6 hồ sơ giải quyết quá hạn trên 02 tháng (tỷ lệ 42,8%), Viện kiểm sát đã kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm.

Hai là, vi phạm về thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Cơ quan điều tra không thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội cho người tố giác tội phạm biết hoặc không thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo cho người khiếu nại, tố cáo.

Việc lập hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm chưa bảo đảm theo quy định, hồ sơ sơ sài, thiếu biên bản xác minh quan trọng, kết thúc giải quyết khiếu nại không ra quyết định giải quyết hoặc không ra kết luận giải quyết tố cáo theo quy định.

Ba là, vi phạm về nội dung giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm như: Kết thúc việc xác minh giải quyết, đủ tài liệu, chứng cứ để khởi tố vụ án hình sự nhưng lại "bỏ lửng" không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết không khởi tố vụ án. Ví dụ: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng nhận được đơn của ông Nguyễn Văn Phồn khiếu nại việc Cơ quan điều tra để quá hạn giải quyết đơn tố giác Đinh Văn Dương phạm tội cố gây thương tích, Viện kiểm sát huyện Tiên lãng đã ban hành văn bản số 01/VKS ngày 20/3/2011 yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lãng cung cấp hồ sơ, tài liệu giải quyết đơn của ông Phồn. Qua nghiên cứu hồ sơ thấy, Cơ quan điều tra đã để quá hạn giải quyết 10 tháng mà không ra quyết định giải quyết, Viện kiểm sát đã ban hành quyết định trực tiếp kiểm sát việc giải quyết đơn tố giác tội phạm trên. Kết thúc cuộc kiểm sát đã ra văn bản kiến nghị yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội "cố ý gây thương tích" để tiến hành điều tra

3.3. Xác định thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra và trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của Viện kiểm sát

Trên cơ sở nghiên cứu kỹ nội dung đơn để phân loại đơn theo bản chất của từng loại đơn, từ đó xác định thẩm quyền giải quyết từng nội dung đơn. Căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định thẩm quyền giải quyết đồng thời xác định trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết tố giấc, tin báo về tội phạm và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra.

Các căn cứ đó là: Bộ luật Tố tụng Hình sự; Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 10/8/2005 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Toà án nhân dân tối cao - Bộ Quốc phòng - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về khiếu nại, tố cáo.

4. Triển khai các phương thức kiểm sát

Căn cứ các Điều 103, Điều 339 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Phần IV Mục 1, 2 Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 10/8/2005 của liên ngành Trung ương và các văn bản hướng dẫn pháp luật có liên quan để áp dụng các phương thức kiểm sát thích hợp, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra sao cho tương ứng và phù hợp với từng dạng vi phạm đã nêu ở trên.

Dạng vi phạm về thời hạn và thủ tục giải quyết theo quy định của Khoản 2 và 3 Điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trường hợp này nên áp dụng phương thức kiểm sát được quy định ở Khoản 4 Điều l03; Điểm a và b Khoản 1 Điều 339 Bộ luật Tố tụng Hình sự yêu cầu Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát.

Dạng vi phạm về nội dung giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp: Trường hợp này có thể áp dụng phương thức kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp hồ sơ, tài liệu để kiểm sát và kiểm sát trực tiếp, trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ mới có thể xem xét đánh giá hết tính chất, mức độ và nguyên nhân của vi phạm.

5. Những bài học kinh nghiệm và đề xuất kiến nghị

3.1. Những bài học kinh nghiệm

Nắm vững pháp luật và những hướng dẫn của pháp luật về công tác tiếp nhận, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra.

Không ngừng hoàn thiện các nội quy, quy chế làm việc, quy chế phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ trong Viện kiểm sát, quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát với các cơ quan chức năng ở địa phương đã tham gia ký kết quy chế phối hợp, đồng thời phải tổ chức thực hiện tốt các nội dung quy chế đã ban hành. Định kỳ, tổ chức sơ, tổng kết việc thực hiện quy chế, đánh giá kết quả và tiêu chí để xét thi đua; động viên khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác để phát triển phong trào.

Công tác phối hợp: Giữa các phòng nghiệp vụ của Viện kiểm sát thành phố phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau; Viện kiểm sát thành phố phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan và phối hợp chặt chẽ với các Viện kiểm sát cấp quận huyện trong công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

Lãnh đạo, Kiểm sát viên, cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các đơn vị khiếu tố và phòng nghiệp vụ phải nêu cao trách nhiệm, tâm huyết với nghề nghiệp và phải đặt tầm quan trọng của công tác khiếu tố có vị trí ngang với các công tác khác.

5.2. Những kiến nghị, đề xuất

Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến kinh nghiệm của các đơn vị làm tốt để các địa phương nghiên cứu học tập.

Đối với các cơ quan tố tụng: Kiến nghị các cơ quan chức năng rà soát lại những quy định của pháp luật về việc tiếp nhận, quản lý tố giác, tin báo về tội phạm, nội dung nào đến nay không còn phù hợp thì nghiên cứu sửa đối, bổ sung hoặc bãi bỏ; xây dựng Thông tư liên ngành mới về công tác quản lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cho phù hợp với tình hình mới.

Trang bị đầy đủ phương tiện, điều kiện làm việc cho đơn vị kiểm sát khiếu tố theo quy định tại Điều 29 Quy chế 59./.

MỐI QUAN HỆ PHỐI HỢP CÔNG TÁC GIỮA PHÒNG KHIẾU TỐ VỚI CÁC

ĐƠN VỊ NGHIỆP VỤ TRONG GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ TƯ PHÁP

VKSNDTP Hồ Chí Minh

 

Để thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, từ trước và sau khi có Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát được ban hành kèm theo Quyết định số 59/2006-QĐ-VKSTC- V7 ngày 06/02/2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (gọi tắt là Quy chế 59), lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo phòng Khiếu tố tham mưu xây dựng nhiều văn bản, quy định trách nhiệm của các phòng nghiệp vụ trực thuộc và các Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện trong việc quản lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; trong đó có các quy định về mối quan hệ phối hợp giữa phòng Khiếu tố với các phòng nghiệp vụ và Viện kiểm sát nhân dân 24 quận, huyện để đảm bảo cho đơn vị Khiếu tố có cơ sở thuận lợi hơn trong việc thực thi nhiệm vụ của mình. Cụ thể, Viện trưởng VKSND Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành các văn bản sau:

- Quyết định số 397/QĐ-KSKT ngày 20/10/2003 về Quy trình tiếp công dân, tiếp nhận, giải quyết và quản lý đơn khiếu nại, tố cáo; tin báo, tố giác tội phạm.

- Văn bản số 11/VKS-P7 ngày 22/01/2007 để chỉ đạo toàn ngành Kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nghiêm túc các quy định của Quy chế 59 về giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.

- Văn bản số 19/VKS-P7 ngày 07/4/2011 về tăng cường công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.

Với việc ban hành các văn bản trên đã giúp công tác này trong những năm qua đạt được một số kết quả tích cực, góp phần vào việc thực hiện chức năng chung của ngành. Sau đây là một số kết quả nổi bật trong công tác khiếu tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

1. Trong việc phân loại, giải quyết đơn

Với vị trí của Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm về kinh tế, văn hoá của cả nước ở phía Nam với dân số hơn 8 triệu người, tình hình tội phạm, tranh chấp xảy ra trong nhân dân diễn biến phức tạp. Vì vậy, hàng năm, ngành Kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh phải thụ lý giải quyết một số lượng lớn án so với cả nước và đồng thời cũng là đơn vị tiếp nhận nhiều đơn thư khiếu kiện. Xác định công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh luôn quan tâm chỉ đạo sát sao đơn vị khiếu tố, trong đó xác định xử lý đơn thư ban đầu là một công việc rất quan trọng; giúp cho công tác điều hành quản lý được sâu sát hơn; cũng như tạo điều kiện cho các phòng nghiệp vụ không bị nhầm lẫn giữa đơn thuộc thẩm quyền với đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát (đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tư pháp).

Với số lượng tiếp nhận hàng năm trên 2000 đơn, tập thể cán bộ, công chức của đơn vị khiếu tố nỗ lực phân loại, xử lý đảm bảo đúng thời hạn theo quy định để chuyển đến các đơn vị nghiệp vụ có thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết của các cơ quan tư pháp.

Việc phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo đều tuân thủ theo quy định của Quy chế 59 và các văn bản hướng dẫn của Vụ Khiếu tố Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nhất là văn bản số 717/VKSTC-V7 ngày 24/3/2008 quy định danh mục đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát nhân dân. Việc phân loại, xử lý đơn của phòng Khiếu tố luôn kịp thời, chính xác, không có tình trạng đơn tồn đọng chậm được xử lý, tạo điều kiện cho các phòng nghiệp vụ giải quyết đúng thời hạn luật định.

Trên cơ sở quản lý tốt đơn thư từ đầu vào, sau khi cán bộ nghiên cứu phân loại và đề xuất, đơn thư khiếu nại, tố cáo đều được chuyển ngay đến các đơn vị nghiệp vụ có thẩm quyền giải quyết. Việc giao nhận đơn đều có ký nhận và kèm theo phiếu theo dõi giải quyết đơn, hàng tuần phòng Khiếu tố tổ chức đối chiếu kết quả thụ lý, giải quyết đơn với các đơn vị nghiệp vụ. Những trường hợp đơn quá thời hạn chưa giải quyết đều được lên danh sách thông báo đến các phòng nghiệp vụ và báo cáo lãnh đạo khối để nhắc nhở trong buổi họp giao ban của lãnh đạo Viện với các Trưởng phòng.

Đối với các Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện, hàng quý phòng Khiếu tố tổ chức giao ban với cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác khiếu tố để nắm bắt tình hình và trao đổi hướng dẫn nghiệp vụ cũng như tháo gỡ các vướng mắc. Hàng năm, phòng Khiếu tố đều tham mưu cho lãnh đạo Viện tổ chức kiểm tra từ 3 đến 4 VKSND quận, huyện để phát hiện, uốn nắn các tồn tại, thiếu sót về công tác khiếu tố và rút kinh nghiệm chung.

Từ việc phối hợp tốt giữa phòng Khiếu tố với các đơn vị nghiệp vụ, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của các đơn vị nghiệp vụ tỷ lệ đạt tỷ lệ cao, không còn tình trạng đơn tồn đọng kéo dài khắc phục tình trạng sử dụng giấy báo tin thay văn bản giải quyết; nhận thức về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của cán bộ, Kiểm sát viên ngày càng được nâng cao.

Trong năm 2010, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết 370/382 đạt tỷ lệ 96,85%. Hầu hết việc giải quyết đều đảm bảo đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thể thức ban hành văn bản, áp dụng pháp luật chính xác để giải quyết, hạn chế tối đa tình trạng tái khiếu.

Tuy nhiên, việc giải quyết khiếu nại quyết định tố tụng (cáo trạng) tại Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh còn gặp một số vướng mắc, có trường hợp khi tiếp nhận đơn khiếu nại, hồ sơ vụ án đã chuyển đến Toà án. Có ý kiến cho rằng việc ra quyết định giải quyết không còn tác dụng mà chỉ là hình thức. Về thẩm quyền giải quyết, Viện trưởng uỷ quyền cho 01 Phó Viện trưởng ký thay quyết định giải quyết khiếu nại cáo trạng, khi có đơn khiếu nại tiếp theo; khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại gửi đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì các Vụ chuyển lại đơn cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mà không giải quyết đơn theo quy định ..., lúc này Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không còn thẩm quyền giải quyết tiếp.

2. Việc theo dõi, quản lý kết quả kiểm sát đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các đơn vị nghiệp vụ

Công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp là một khâu công tác hiện nay còn chưa được sự quan tâm thật sự của cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác nghiệp vụ, nhận thức về công tác này cũng chưa thật sự đầy đủ.

Bên cạnh đó, việc tổ chức tập huấn chưa được tổ chức thường xuyên, biểu mẫu để thực hiện công tác này chưa được đầy đủ, khối lượng công việc của các phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phải thụ lý giải quyết rất lớn nên công tác này còn có mặt hạn chế.

Để khắc phục hạn chế trong công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp hiện nay, phòng Khiếu tố đã tham mưu cho Viện trưởng ban hành chỉ thị trong toàn ngành Kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh tăng cường công tác này, mặt khác xây dựng biểu mẫu để phối hợp việc rà soát đơn, tham mưu cho lãnh đạo Viện chỉ đạo các phòng nghiệp vụ tăng cường kiểm sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp bằng nhiều phương thức khác nhau và đang tiến hành biên soạn tài liệu để tập huấn cho công tác này.

3. Việc tham mưu giúp lãnh đạo Viện của đơn vị khiếu tố trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp

Trên cơ sở nội dung quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo quy định tại Điều 25 Quy chế 59, phòng Khiếu tố Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tốt công tác tham mưu giúp lãnh đạo Viện từ việc ban hành Quy định, Chỉ thị, hướng dẫn nghiệp vụ, tổ chức tập huấn, ứng dụng công nghệ thông tin... trong công tác này. Hàng tuần, tổ chức rà soát, đối chiếu việc thụ lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo với các đơn vị nghiệp vụ để báo cáo lãnh đạo Viện chỉ đạo kịp thời trong buổi họp giao ban.

Tuy nhiên, do một thời gian dài phòng Khiếu tố không có Trưởng phòng nên việc tham mưu cho lãnh đạo Viện còn có hạn chế, nhất là việc tổng kết kinh nghiệm để nhân rộng điển hình và rút kinh nghiệm trong công tác này.

* Một số việc khiếu tại, tố cáo giải quyết có hiệu quả

Trong quá trình theo dõi tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, phòng Khiếu tố Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy có trường hợp giải quyết có hiệu quả cụ thể như sau: Vụ khiếu nại của bà Hồ Thị Toàn, địa chỉ: 64 Lý Thường Kiệt, phường 8, quận Tân Bình.

Nội dung: Khiếu nại một số cán bộ Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, bỏ lọt tội phạm gây thiệt hại về tài sản của bà.

Sau khi tiếp nhận đơn, phòng Khiếu tố đã chuyển đến phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự để giải quyết theo thẩm quyền.

Qua nghiên cứu, phòng Thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự đã ban hành văn bản trả lời cho bà Toàn với nội dung: Vụ án đã được xét xử ở hai cấp. Bà Toàn không đồng ý, tiếp tục khiếu nại, gửi đơn nhiều nơi và khiếu nại vượt cấp đến các cơ quan Trung ương.

Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo phòng Thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự tiếp tục nghiên cứu hồ sơ để giải quyết dứt điểm vụ kiện của bà Toàn. Qua thẩm tra lại hồ sơ xét xử ở hai cấp, không có vi phạm, đối chiếu với nội dung khiếu nại của bà Toàn nhận thấy, đơn của bà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo Viện đã chỉ đạo làm văn bản hướng dẫn bà Toàn gửi đơn khiếu nại đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao để giải quyết theo thẩm quyền. Bà Toàn không đồng ý và tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi đến nhiều cơ quan từ thành phố đến Trung ương, đồng thời yêu cầu lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp và giải thích.

Phòng Khiếu tố đã tham mưu cho lãnh đạo Viện tiếp bà Toàn, lãnh đạo phòng Khiếu tố đã trực tiếp làm việc với bà Toàn, ghi lời trình bày về tâm tư nguyện vọng của bà, đồng thời giải thích quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo.

Qua tập hợp ý kiến của bà Toàn, phòng Khiếu tố đã tham mưu cho lãnh đạo Viện tổ chức tiếp công dân với đầy đủ thành phần theo quy định của Quy chế 59. Tại buổi tiếp, lãnh đạo Viện đã giải thích, hướng dẫn cho bà Toàn từng nội dung mà bà khiếu nại và lập biên bản giao cho bà 01 bản theo yêu cầu. Sau buổi tiếp, bà Toàn đã chấm dứt việc gửi đơn khiếu nại liên tiếp trong hơn hai năm.

Với vụ việc giải quyết khiếu nại nêu trên nhận thấy, trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc đối thoại với người khiếu nại, tố cáo là rất quan trọng. Khi cần thiết, lãnh đạo phải tổ chức tiếp công dân để lắng nghe đầy đủ nội dung khiếu nại cũng như nguyện vọng của người dân, qua đó giải thích, hướng dẫn họ. Đối với người dân họ cho rằng, đây là thể hiện sự tôn trọng đối với họ, mặt khác tiếng nói của lãnh đạo Viện là thay mặt cho cả cơ quan và tạo tâm lý tin tưởng cho người khiếu nại.

* Nhận xét, đánh giá tổng quát

Công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền tại Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đúng theo các quy định của Quy chế 59, không để đơn thư tồn đọng kéo dài gây bức xúc cho nhân dân. Việc phối hợp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo giữa các đơn vị nghiệp vụ với phòng Khiếu tố được chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt nên chưa để xảy ra trường hợp nào khiếu kiện đông người làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương.

Nguyên nhân đạt được những kết quả trên, trước hết là do có sự quan tâm chỉ đạo của Ban Cán sự, Đảng uỷ và tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền.

Phòng Khiếu tố đã làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo Viện trong quản lý nhà nước về công tác này cùng với sự nỗ lực của tất cả cán bộ Kiểm Sát viên các đơn vị nghiệp vụ trong giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyên.

* Một số đề xuất kiến nghị

Qua thực tiễn công tác khiếu tố, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất và kiến nghị với Viện kiểm sát nhân dân tối cao một số vấn đề sau:

Hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm tiếp nhận một số lớn đơn nhưng không thuộc loại đơn khiếu nại hoặc tố cáo; loại đơn này là những kiến nghị của người dân. Quy định của pháp luật hiện nay chưa bắt buộc các cơ quan tư pháp có trách nhiệm trả lời đơn kiến nghị. Từ đó, việc tuỳ nghi vận dụng để trả lời hoặc không trả lời cho công dân là phụ thuộc vào ý thức chủ quan của từng cán bộ và cơ quan tiếp nhận đơn nên dễ dẫn đến tùy tiện gây bức xúc cho công dân. Vì vậy, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu để bổ sung vào các quy định về trách nhiệm xử lý, giải quyết kiến nghị của công dân.

- Công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp hiện nay còn nhiều mặt hạn chế và còn mới đối với nhiều cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác nghiệp vụ. Việc theo dõi kiểm sát loại đơn này cần phải có một thời gian nhất định, từ khi chuyển đơn đến cơ quan tư pháp để giải quyết theo thẩm quyền, đôn đốc ra văn bản giải quyết và thông báo cho Viện kiểm sát; kiểm sát văn bản giải quyết (về hình thức, nội dung)..., cán bộ, Kiểm sát viên thường không cập nhật theo để dõi, thậm chí có trường hợp xem việc chuyển đơn đến cơ quan tư pháp là đã xử lý xong hoặc bỏ quên không tiếp tục theo dõi nữa. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý loại đơn này, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị Vụ Khiếu tố nghiên cứu xây dựng phiếu kiểm sát đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát, với các tiêu chí phù hợp và đưa vào Quy chế để thực hiện.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có tập huấn chuyên sâu việc giải quyết đơn theo từng lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính, thi hành án ... đáp ứng kịp thời yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay./.

HIỆU QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA CƠ QUAN TƯ PHÁP

VKSND tỉnh Bắc Giang

1. Phân công trách nhiệm kiểm sát

Kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những chức năng, nhiệm vụ trọng tâm của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và trong Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Ban chấp hành Trung ương về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Trong kiểm sát hoạt động tư pháp thì kiểm sát giao quyết đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp cũng là một trong những chức năng, nhiệm vụ trọng tâm của Viện kiểm sát nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ này được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự ... và được quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002: "Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật".

Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, trong những năm qua, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang rất quan tâm đến công tác này, coi đây là một trong những nhiệm vụ lớn của ngành. Bám sát nội dung Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các văn bản hướng dẫn nghiệp của Vụ 7 Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ngay từ đầu mỗi năm công tác, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố đều xây dựng chương trình kế hoạch về công tác khiếu tố của đơn vị mình; phân công một đồng chí lãnh đạo Viện trực tiếp chỉ đạo và cử cán bộ, Kiểm sát viên chuyên trách thực hiện công tác tiếp dân và tiếp nhận, phân loại đơn khiếu nại, tố cáo. Tại Điều 22 Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định 59/2006/QĐ-VKSTC-V7 ngày 06/2/2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (gọi tắt là Quy chế 59) quy định: "... Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ của mình và căn cứ vào tình hình thực tế, phân công đơn vị khiếu tố và các đơn vị nghiệp vụ khác thực hiện kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp theo quy định của quy chế này". Tuy nhiên, do Điều 22 Quy chế 59 chưa phân công rõ ràng, cụ thể trách nhiệm thực hiện việc kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp giữa đơn vị khiếu tố và các đơn vị nghiệp vụ khác nên trong thực tiễn, chất lượng công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hạn chế hoặc có sự đùn đẩy trách nhiệm giữa đơn vị khiếu tố và các đơn vị nghiệp vụ.

Để giúp các địa phương tháo gỡ vướng mắc và khắc phục tồn tại nêu trên, ngày 04/9/2008 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quyết định 487/VKSTC-V7 và ngày 24/11/2008  Vụ 7 Viện kiểm sát nhân dân tối cao có công văn số 3745/VKSTC-V7 hướng dẫn các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hiện Quyết định 487. Các văn bản này đã quy định rất cụ thể việc kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp là thuộc trách nhiệm của các đơn vị nghiệp vụ. Sau khi nhận được các văn bản này, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tổ chức quán triệt, triển khai những nội dung của quyết định trên đến toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên ở Viện kiểm sát hai cấp (tỉnh và huyện). Từ đó công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp ở ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang có nhiều chuyển biến tích cực. Các đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh cũng như các bộ phận nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, thành phố đã xác định và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình đối với công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, xây dựng mối quan hệ phối kết hợp giữa đơn vị khiếu tố với các đơn vị nghiệp vụ, giữa các đơn vị nghiệp vụ Viện tỉnh với Viện kiểm sát cấp huyện trong việc phát hiện vi phạm cũng như tiến hành trực tiếp kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp.

Để thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã chủ trì cùng các ngành liên quan xây dựng Quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát với Mặt trận Tổ quốc và Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang trong việc quản lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và Quy định về việc phối hợp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp giữa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Cục thi hành dân sự tỉnh. Do vậy, công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của ngành Kiểm sát Bắc Giang được tiến hành thuận lợi và đạt kiểm sát tiếp nhận thông qua sổ công văn đến, sổ tiếp nhận, phân loại, xừ lý đơn từ đó xác định phân loại chính xác đơn về tư pháp mà đơn vị được kiểm sát phải giải quyết.

Để thực hiện tốt và có hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của cơ quan tư pháp theo Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì việc đánh giá, xác định chính xác đơn nào là đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của cơ quan tư pháp có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả công tác; đồng thời cũng là trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát. Phân loại, xử lý đơn là công việc được tiến hành sau khi tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, nó không thể thiếu và có ý nghĩa quan trọng trong trình tự xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp nói riêng.

4. Dấu hiệu vi phạm của cơ quan tư pháp

Qua thực tế làm công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát hiện thấy các cơ quan tư pháp thường mắc phải những vi phạm: Vi phạm về thời hạn giải quyết; hồ sơ không thiết lập đầy đủ các tài liệu theo quy định của pháp luật, không đánh số thứ tự, bút lục, không thiết lập hồ sơ riêng mà để chung vào hồ sơ nghiệp vụ (hồ sơ giải quyết án, hồ sơ thi hành án); không có sổ thụ lý đơn về hoạt động tư pháp riêng mà thụ lý vào sổ theo dõi đơn chung của cơ quan. Một số cơ quan tư pháp giải quyết đơn về hoạt động tư pháp còn sơ sài, thiếu chính xác và không triệt để nên xảy ra việc công dân khiếu kiện bức xúc, kéo dài.

5. Việc áp dụng biện pháp kiểm sát

Với mục đích của công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của cơ quan tư pháp là đưa công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp vào nề nếp và có hiệu quả, Viện kiểm sát cần có những biện pháp cụ thể như sau:

- Yêu cầu cơ quan tư pháp ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Yêu cầu cơ quan tư pháp kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình, cấp dưới và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát.

Yêu cầu cơ quan tư pháp cung cấp hồ sơ tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát.

- Tiến hành trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp theo định kỳ và sau mỗi cuộc kiểm sát sẽ tiến hành tổng hợp thiếu sót vi phạm để ban hành kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu khắc phục sửa chữa vi phạm. Các đơn vị hoặc bộ phận nghiệp vụ cùng phòng Khiếu tố hoặc bộ phận khiếu tố có trách nhiệm phối hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp theo đúng Quyết định 487 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

6. Bước tiến hành kiểm sát và kết thúc kiểm sát

Các bước tiến hành kiểm sát bao gồm:

- Thông báo Quyết định kiểm sát đến cơ quan được kiểm sát.

- Yêu cầu cơ quan được kiểm sát báo cáo kết quả việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

- Nghiên cứu các hồ sơ, tài liệu liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; xác minh những vấn đề liên quan (nếu cần).

- Tổng hợp kết quả kiểm sát, dự thảo văn bản kết luận, kiến nghị.

- Làm việc với lãnh đạo và các đồng chí có trách nhiệm của cơ quan được kiểm sát để thống nhất về những nội dung dự thảo kết luận, kiến nghị.

- Chỉnh lý dự thảo kết luận, kiến nghị.

- Ban hành văn bản kết luận, kiến nghị.

Nghiên cứu đơn khiếu nại, tố cáo hoặc xác minh thông tin liên quan đến việc vi phạm của cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo để xác định chính xác việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tư pháp. Thực hiện các yêu cầu bằng văn bản như: Yêu cầu cơ quan tư pháp ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo; yêu cầu cơ quan tư pháp kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình và thông báo kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát; yêu cầu cơ quan tư pháp cung cấp hồ sơ tài liệu liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát. Nếu nhận được yêu cầu bằng văn bản của Viện kiểm sát mà cơ quan tư pháp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Viện kiểm sát có văn bản kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên để có biện pháp đôn đốc thực hiện. Khi cần thiết, Viện kiểm sát có thể trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, tố cáo, người bị khiếu nại, tố cáo và những người liên quan để xác minh những vấn đề cần làm rõ nhằm kết luận việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của cơ quan tư pháp. Sau khi kết thúc việc nghiên cứu tài liệu và xác minh những vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo của cơ quan tư pháp, tuỳ từng tính chất và mức độ vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tư pháp có thể ban hành kiến nghị, kháng nghị yêu cầu sửa chữa khắc phục vi phạm. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có văn bản kiến nghị cơ quan cấp trên để yêu cầu thực hiện biện pháp quản lý liên quan .

7. Hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp

Làm tốt chức năng, nhiệm vụ kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp là góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Với kết quả về hoạt động kiểm sát trong thời gian qua đã khẳng định vị trí vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp.

Hàng năm, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp (tỉnh và huyện) của tỉnh Bắc Giang đã linh hoạt áp dụng nhiều phương thức kiểm sát để kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp địa phương. Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp góp phần đưa công tác này của các cơ quan tư pháp có sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng. Thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát đã phát hiện được nhiều vi phạm của các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp; ban hành các kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm. Các kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát đã được các cơ quan tư pháp tiếp thu để sửa chữa. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn tăng cường kiểm tra việc thực hiện kiến nghị, yêu cầu cơ quan tư pháp thực hiện triệt để các kiến nghị đã ban hành. Qua đó, giúp cơ quan tư pháp thấy được những tồn tại, yếu kém của mình để đề ra biện pháp khắc phục, từng bước nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc thẩm quyền của mình.

8. Những kinh nghiệm

- Cần có sự quan tâm chỉ đạo đúng mực, thường xuyên của lãnh đạo Viện và lãnh đạo các phòng nghiệp vụ.

- Cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phấn đấu, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Tăng cường tập huấn, rút kinh nghiệm bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác khiếu tố, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của cơ quan tư pháp.

- Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt chuyên đề nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm của ngành và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp.

Xây dựng tốt mối quan hệ phối hợp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo giữa các khâu nghiệp vụ của ngành với các ngành hữu quan trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo.

9. Những đề xuất, kiến nghị

Các ngành tư pháp Trung ương sớm xây dựng và ban hành danh mục đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp, vì hiện nay các ngành tư pháp còn có nhận thức khác nhau về phân loại các loại đơn, do vậy việc kiểm sát đối với các đơn của cơ quan tư pháp gặp nhiều khó khăn.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao tăng cường tập huấn, bồi dưỡng, chỉ đạo kiểm tra, đúc rút kinh nghiệm về công tác khiếu tố và công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp với cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác này ở các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và có chế độ bồi dưỡng về vật chất cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác khiếu tố và tiếp dân chuyên trách./.

TĂNG CƯỜNG SỰ PHỐI HỢP VỚI CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP TRONG VIỆC THỰC

 HIỆN CHỈ THỊ 09-CT/TW CỦA BAN BÍ THƯ, KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

VKSND tỉnh Hà Tĩnh


Trước tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân còn nhiều diễn biến phức tạp, số lượng gia tăng, khiếu kiện đông người có tổ chức, vượt cấp lên Trung ương vẫn xảy ra gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ngày 06/3/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 09-CTITW về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay, trong đó chỉ rõ: Đảng uỷ, Ban cán sự Đảng các ngành Bộ Công an, Viện kiểm sát, Toà án, Bộ Tư pháp chỉ đạo rà soát, phân loại các vụ, việc khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp có kế hoạch giải quyết và chỉ đạo cấp dưới giải quyết các khiếu nại, tô cáo ... . có biện pháp khắc phục kịp thời những sai phạm và xem xét việc bồi thường thiệt hại do những sai phạm đó gây ra".

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thực hiện Chỉ thị 09-CT/TW của Ban Bí thư, tại địa phương, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã sớm tổ chức quán triệt Chỉ thị 09-CTITW đến lãnh đạo chủ chốt các ban, ngành liên quan và lãnh đạo chính quyền địa phương, đồng thời giao cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh chủ trì phối hợp với các ngành Công an, Toà án, Sở Tư pháp và Thanh tra trong phạm vi trách nhiệm của mình, tổ chức kiểm tra, rà soát việc giải quyết đơn, từng bước đưa công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp ngày càng đi vào nề nếp và có hiệu quả. Để cụ thể hoá và tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp uỷ Đảng trong việc thực hiện Chỉ thị 09- CT/TW, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Tĩnh đã ban hành Chỉ thị số 24-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đến năm 2008, sau khi có Thông báo 130-TB/TW của Bộ Chính trị về tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo", Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành chương trình 682-CTr/TU và UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch 80- KH/UBND về thực hiện Kết luận tại Thông báo số 130-TB/TW của Bộ Chính trị.

Ngay trong năm 2002, Đảng uỷ các ngành Công an, Toà án, Sở Tư pháp, Thanh tra tỉnh đã ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; định kỳ hàng năm, các ngành đã tổ chức các lớp tập huấn cho lãnh đạo các đơn vị và cán bộ làm công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đồng thời triển khai tích cực các biện pháp phối hợp thường xuyên để thục hiện tốt Chỉ thị 09-CT/TW.

Ngành Kiểm sát Hà tĩnh với vai trò là đơn vị chủ trì đã không ngừng nâng cao trách nhiệm, chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp; phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp địa phương trong việc triển khai thực hiện Chỉ thị 09-CT/TW. Để công tác triển khai thực hiện Chỉ thị 09- CT/TW có chiều sâu, gắn kết nhiệm vụ phối hợp giữa các đơn vị nghiệp vụ, giữa Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện với Viện kiểm sát cấp tỉnh và các cơ quan tư pháp hai cấp trong việc rà soát, giải quyết đơn, Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị 09-CT/TW trong ngành Kiểm sát Hà Tinh (năm 2002), đồng thời tổ chức các lớp tập huấn, quán triệt việc thực hiện nghiêm túc Kế hoạch 06/KH-LN ngày 15/4/2002 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp về tổng rà soát các đơn thư khiếu nại về tư pháp và phân loại, xử lý theo thẩm quyền của các cơ quan tư pháp; Kế hoạch số 04 ngày 7/3/2003 của VKSTC- TATC-BCA về tiếp tục rà soát đơn khiếu nại về tư pháp và phân loại, giải quyết theo thẩm quyền của các cơ quan tư pháp...

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xác định, cùng với những yếu tố chủ quan tích cực trong công tác phối hợp thì việc ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy định cụ thể về hoạt động phối hợp là yếu tố quan trọng hàng đầu cho các cơ quan tư pháp và làm cơ sở pháp lý cần thiết để vận dụng trong quá trình giải quyết, phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tư pháp. Với nhận thức đó, VKSND tỉnh đã chủ động xây dựng và ban hành các Quy chế phối hợp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp giữa VKS với cấp uỷ, các cơ quan tư pháp cùng cấp và giữa đơn vị khiếu tố với các đơn vị nghiệp vụ khác trong ngành Kiểm sát. Điển hình: Năm 2007, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã chủ trì xây dựng và ký kết Quy chế phối hợp với Văn phòng Tỉnh uỷ trong việc quản lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh (số 01/QCPHLN/VKS-VPTU ngày 8/4/2007); năm 2008 ban hành Quy chế phối hợp số 01/2008/QĐ-VKS-KT giữa phòng Khiếu tố với các phòng nghiệp vụ, phòng Tổ chức cán bộ và Văn phòng tổng hợp trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; năm 2010, ban hành quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát, Toà án, Công an, Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp... Trên cơ sở đó, VKSND tỉnh chỉ đạo các Viện kiểm sát huyện, thị, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm tình hình địa phương để xây dựng Quy chế phối hợp với các cơ quan tại địa phương. Đến nay, các đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện đều đã xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp với các cơ quan tư pháp và với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, cấp uỷ cùng cấp.

Việc tăng cường quan hệ phối hợp, đổi mới các biện pháp rà soát, phân loại xú lý đơn khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tư pháp được ngành Kiểm sát Hà Tĩnh thực hiện ngay sau khi Chỉ thị 09-CT/TW được ban hành. Trong năm 2002-2003, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã chủ trì phối hợp với cơ quan Công an, Toà án tỉnh tiến hành tổng rà soát và phân loại xử lý các khiếu nại, tố cáo về tư pháp còn tồn đọng. Qua đó, đã xác định được chính xác các khiếu nại còn tồn đọng, nguyên nhân của việc tồn đọng, thẩm quyền giải quyết và tham mưu cho lãnh đạo liên ngành cấp tỉnh bàn biện pháp tập trung giải quyết dứt điểm. Điển hình như trong đợt tổng rà soát đơn tại Công an tỉnh đã xác định được 3 nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng tồn đọng đơn thư trong ngành Công an, đó là:

- Do người bị hại trong các vụ, việc hình sự thường có tâm lý bức xúc yêu cầu cơ quan Công an phải giải quyết ngay, do đó đã viết đơn và gửi đi rất nhiều nơi. Vì vậy, lượng đơn phát sinh trong lĩnh vực này rất lớn, đơn chồng chéo và tồn đọng do chưa kịp giải quyết từ cá nhân, cơ quan này gửi đến, thì lại có đơn từ cá nhân, cơ quan khác chuyển về...

Đối với các vụ án liên quan đến quan hệ bồi thường dân sự, do muốn thúc ép gia đình người phạm tội đền bù nhanh, đền bù vượt quá mức quy định của Nhà nước nên người bị hại hoặc gia đình người bị hại viết đơn yêu cầu cơ quan Công an giải quyết. Tuy nhiên, đến khi vụ án được khởi tố, xử lý theo luật, do nhận được đền bù nên chính người bị hại hoặc gia đình bị hại lại viết đơn bãi nại...

- Một số trường hợp, do người khiếu nại không nắm vững pháp luật, hoặc cố tình không thừa nhận kết quả giải quyết của các cơ quan chức năng, nên mặc dù khiếu nại đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đúng pháp luật, nhưng họ vẫn tiếp tục khiếu nại dẫn tới đơn tồn đọng, khiếu nại kéo dài. Xác định được nguyên nhân tồn đọng đơn thư trong ngành Công an như trên đã giúp lãnh đạo liên ngành cấp tỉnh sớm có biện pháp giải quyết, nhất là lãnh đạo ngành Công an, qua đó đã phối hợp giải quyết dứt điểm 94% đơn thư tồn đọng, trong đó điển hình là đơn khiếu nại của bà Trương Thị Tuý ở Sơn Lĩnh - Hương Sơn; đơn của ông Lê Tiến Sỹ ở Thạch Đỉnh - Thạch Hà; đơn của ông Nguyễn Đình Phạm Tài ở Kỳ Anh .v v...

Đợt tổng rà soát việc giải quyết đơn tại các ngành Kiểm sát, Toà án cũng đã xác định được nguyên nhân tồn đọng đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tư pháp của các các ngành, từ đó đề ra được phương án phân loại, biện pháp giải quyết dứt điểm ngay trong năm 2003, đảm bảo đúng trình tự, quy định của pháp luật.

Đối với ngành Kiểm sát Hà Tĩnh, trên cơ sở Quy chế 59/2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác tiếp dân, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo; Quy chế phối hợp giữa phòng Khiếu tố với các phòng nghiệp vụ trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; Quyết định 487/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giao nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong toàn ngành... , các đơn vị nghiệp vụ cấp phòng và Viện kiểm sát cấp huyện có sự phối hợp chặt chẽ trong rà soát, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo. Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh trực tiếp giao nhiệm vụ cho phòng Khiếu tố (phòng 7) chịu trách nhiệm theo dõi, tham mưu cho lãnh đạo Viện trong công tác rà soát, giải quyết đơn thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của ngành Kiểm sát. Hoạt động phối hợp giữa các đơn vị nghiệp vụ trong công tác rà soát, phân loại giải quyết đơn được thực hiện trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị nghiệp vụ, hoạt động này có thuận lợi cơ bản là kế thừa sự đổi mới phương pháp tiếp dân, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo trong ngành Kiểm sát Hà Tĩnh từ trước, theo một quy trình chặt chẽ và hợp lý.

Trong hoạt động tiếp công dân, căn cứ nội dung công dân đến khiếu nại, tố cáo mà cán bộ tiếp dân của phòng Khiếu tố có trách nhiệm mời lãnh đạo, Kiểm sát viên của phòng nghiệp vụ có liên quan trực tiếp tiếp công dân để nắm bắt nội dung, thông tin và xem xét, xử lý nội dung khiếu nại của công dân. Hàng tháng, lãnh đạo Viện cùng với bộ phận giúp việc là lãnh đạo các phòng chuyên môn nghiệp vụ trực tiếp tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, do đó đã kịp thời phân loại để giải quyết khiếu kiện kiện ngay từ đầu.

Trong hoạt động tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh thống nhất quản lý về một đầu mối là Phòng 7. Phòng 7 có trách nhiệm tiếp nhận và phân loại đơn, nếu đơn thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của các phòng nghiệp vụ thì Phòng 7 làm thủ tục chuyển đơn đến phòng nghiệp vụ để nghiên cứu giải quyết, nếu đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tư pháp thì chuyển đơn của công dân đến cơ quan có thẩm quyền, đồng thời vào sổ theo dõi và kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết đơn của cơ quan, đơn vị đó và có trách nhiệm thông báo kết quả chuyển đơn, giải quyết đơn đến công dân. Đồng thời, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh thường xuyên có công văn đôn đốc, nhắc nhở các đơn vị trực thuộc, cũng như các cơ quan tư pháp theo dõi, thụ lý hết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp, xem xét tiến độ để có biện pháp giải quyết dứt điểm trong từng tháng.

Những biện pháp đổi mới trong công tác tiếp dân, tiếp nhận, phân loại xử lý đơn như trên trong ngành Kiểm sát Hà Tĩnh đã hình thành một quy trình tiếp nhận, phân loại, giải quyết khiếu nại, tố cáo khoa học và hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác theo dõi, quản lý, chỉ đạo, điều hành giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, không để xảy ra việc tồn đọng đơn thư, cũng như xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người, kéo dài tại trụ sở Viện kiểm sát. Điển hình là việc giải quyết dứt điểm các đơn khiếu kiện phức tạp, vượt cấp của ông Dương Ngọc Hồng ở Kỳ Anh; bà Nguyễn Thị Bích Ngọc ở Quy Nhơn; vợ chồng Hùng - Thảo ở Hương Khê; bà Đậu Thị Thanh Vân, Lê Xuân Trực, Nguyễn Thị Thuỷ .v.v ...

Việc tăng cường phối hợp thường xuyên giữa các cơ quan tư pháp nhằm phân loại, giải quyết đúng quy định pháp luật các khiếu nại, tố cáo không chỉ bảo vệ được các quyền cơ bản của công dân mà còn góp phần quan trọng để giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật các vụ án hình sự, dân sự, tổ chức thi hành án hình sự, dân sự bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, hạn chế phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Do đó, hoạt động phối hợp trong công tác này được các cơ quan tư pháp Hà Tính thực hiện thường xuyên, theo quy trình thống nhất chặt chẽ trên cơ sở quy định tại các Bộ luật và Quy chế phối hợp liên ngành; việc phối hợp không chỉ bó hẹp trong phạm vi cấp tỉnh mà đi sâu tới các đơn vị cấp huyện. Công tác kiểm tra, phối hợp kiểm tra cũng được liên ngành tư pháp tỉnh Hà Tĩnh chú trọng. Chỉ tính từ năm 2007 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã chủ trì phối hợp với Công an, Toà án, Cục thi hành án dân sự tỉnh thành lập đoàn kiểm tra liên ngành trực tiếp kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị 09-CT/TW của Ban Bí thư tại 44/48 cơ quan tư pháp cấp huyện. Trong quá trình kiểm tra, đoàn đã phát hiện, tổng hợp được nhiều thiếu sót, vi phạm của các cơ quan tư pháp cấp huyện, phổ biến là các dạng vi phạm, thiếu sót sau đây:

- Không lưu giữ hoặc tuy có lưu giữ nhưng chưa tập trung về một đầu mối các văn bản hướng dẫn của liên ngành Trung ương, của cấp uỷ, chính quyền địa phương về thực hiện Chỉ thị 09-CTITW. điển hình là các đơn vị: Công an, Toà án, Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, huyện Đức Thọ; Toà án và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc, huyện Cẩm Xuyên, thị xã Hồng Lĩnh và các cơ quan tư pháp huyện Vũ Quang.

Việc quản lý theo dõi, ghi chép sổ tiếp công dân không đúng quy định pháp luật, như: Không có sổ tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo hoặc tuy đã có sổ nhưng các tiêu chí, cột mục ghi không đầy đủ hoặc phản ánh việc tiếp công dân thiếu cụ thể... Điển hình là các cơ quan tư pháp các huyện: Nghi Xuân, Hương Khê, Thạch Hà và thành phố Hà Tĩnh; Công an và Toà án huyện Hương Sơn; Công an thị xã Hồng Lĩnh; Công an các huyện: Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Kỳ Anh...

Việc phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp còn lúng túng, chưa phân biệt rõ đơn khiếu nại về hoạt động tư pháp với các loại đơn thư khiếu nại, tố cáo khác, đơn yêu cầu, kiến nghị hoặc nhầm lẫn đơn tố giác tin báo tội phạm (quy định tại điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự), như: Công an thành phố Hà Tĩnh, Công an huyện Hương Khê, Can Lộc, Kỳ Anh, Hương Sơn, Nghi Xuân; Toà án huyện Kỳ Anh; Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc.

Vi phạm về thẩm quyền giải quyết, việc lập hồ sơ theo dõi việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp: Qua kiểm tra thấy, nhiều cơ quan tư pháp cấp huyện chưa thực hiện đúng Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự về thầm quyền giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, một số đơn vị không ra quyết định giải quyết đơn mà ban hành công văn trả lời đơn (Không đúng với quy định tại Thông tư liên tịch số 02 của liên ngành tư pháp Trung ương); hoặc sau khi giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp chưa lập hồ sơ riêng để quản lý (trái với Luật Khiếu nại, tố cáo và Thông tư liên tịch số 02); hoặc chưa gửi văn bản giải quyết đơn cho cơ quan chuyển đơn đến và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết đơn tư pháp theo quy định của pháp luật, như; Công an huyện Kỳ Anh, Thạch Hà, Nghi Xuân, thành phố Hà Tĩnh; Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, Can Lộc, Vũ Quang, Cẩm Xuyên, Hương Sơn, thị xã Hồng Lĩnh...

Việc xừ lý đơn do các cơ quan Đảng, Nhà nước chuyển đến không đúng với quy định, xử lý đơn còn chậm như: Công an thành phố Hà Tinh, Công an huyện Hương Sơn, Toà án thành phố Hà Tĩnh...

Những vi phạm, thiếu sót được phát hiện qua các đợt kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị 09-CT/TW của Đoàn kiểm tra liên ngành đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh chủ trì họp kiểm điểm với lãnh đạo liên ngành tư pháp cấp tỉnh, đồng thời Viện kiểm sát đã ban hành thông báo kết luận sau mỗi đợt kiểm tra đến các đơn vị liên quan để rút kinh nghiệm và kiến nghị các ngành có biện pháp kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những vi phạm nêu trên. Kết quả, các cơ quan tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đã nghiêm túc tiếp thu kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và ban hành văn bản chỉ đạo các đơn vị trực thuộc khắc phục tồn tại, thiếu sót, đưa hoạt động tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tư pháp đi đúng quỹ đạo pháp luật quy định. Cụ thể: Ngày 02/6/2010, Toà án nhân dân tỉnh đã ban hành văn bản số 10/CV-GĐKT yêu cầu Toà án nhân dân các huyện, thị xã, thành phố tăng cường công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp; Công an tỉnh Hà Tĩnh ban hành thông báo số 977/CAT-PCI4 ngày 22/6/2010 yêu cầu Công an các huyện, thị xã, thành phố chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, thiếu sót mà Đoàn kiểm tra liên ngành tư pháp cấp tỉnh đã kết luận, kiến nghị; Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh ban hành văn bản số 234/CV-THA ngày 2/6/2008, số 179/THS-TCH- TV ngày 10/6/2009 và số 365/CV-THA ngày 24/3/2011  chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp. Đặc biệt, đầu năm 2011, tiếp thu những kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh qua các đợt kiểm tra liên ngành, Chi cục thi hành án dân sự tỉnh đã xây dựng chuyên đề "khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong giải quyết khiếu nại, tố cáo thi hành án dân sụ”  để tập huấn cho cán bộ thi hành án hai cấp.

Kết quả trên đây đã khẳng định vị trí, vai trò của ngành Kiểm sát Hà Tĩnh trong công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, góp phần đưa công tác giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp địa phương đi vào nề nếp, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp hai cấp đúng quy định pháp luật; giải quyết dứt điểm các đơn khiếu nại, tố cáo kéo dài nhiều năm, tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân đối với Đảng, chính quyền và các cơ quan tư pháp địa phương, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn toàn tỉnh. Từ hoạt động thực tiễn đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp và tăng cường sự phối hợp, thực hiện hiệu quả Chỉ thị 09-CT/TW của Ban Bí thư như sau:

1. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp phải đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng; phải kịp thời triển khai thực hiện các chủ trương, Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương và cấp uỷ Đảng về giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; định kỳ báo cáo và chú trọng phát huy vài trò giám sát của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc đối với công tác này.

2. Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải chú trọng nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác phổ biến, quán triệt các Bộ luật, các văn bản quy phạm pháp luật quy định về khiếu nại, tố cáo; phải kết hợp giữa hoạt động nghiệp vụ với tuyên truyền chính sách pháp luật về khiếu nại, tố cáo, đảm bảo khiếu nại, tố cáo về tư pháp được giải quyết và kiểm sát việc giải quyết ngay tại nơi phát sinh khiếu nại, tố cáo.

3. Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải chăm lo và bố trí tạo mọi điều kiện cho cán bộ, công chức thuộc bộ phận khiếu tố yên tâm làm việc và làm tốt nhiệm vụ được phân công; thường xuyên kiểm tra để xem xét, khắc phục kịp thời những vướng mắc trong quan hệ phối hợp giữa đơn vị khiếu tố với các đơn vị nghiệp vụ khác; tăng cường quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Viện kiểm sát cấp huyện để đưa công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tư pháp có chất lượng, hiệu quả hơn.

4. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân các cấp với các cơ quan tư pháp cùng cấp; quan hệ phối hợp này phải được duy trì thường xuyên ngay từ khâu tiếp nhận, phân loại đơn. Điều này đảm bảo thuận lợi cho Viện kiểm sát trong việc tiến hành kiểm sát hoạt động giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tư pháp của các cơ quan tư pháp. Trong quá trình tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn, nếu có khó khăn, vướng mắc các đơn vị cùng nhau bàn bạc thống nhất để tìm ra biện pháp tối ưu nhằm giải quyết dứt điểm, không để dây dưa kéo dài.

5. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phải tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, chỉ đạo nhằm giúp cho Viện kiểm sát cấp huyện hiểu rõ, làm đúng các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc thẩm quyền, kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tư pháp của các cơ quan tư pháp đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn. Đồng thời phải chú trọng việc bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ lãnh đạo và Kiểm sát viên, chuyên viên của Viện kiểm sát nhân dân các cấp làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở tất cả các khâu nghiệp vụ; tiếp tục đổi mới toàn diện hoạt động nghiệp vụ của khâu công tác này, từ hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại và xừ lý đơn.

KẾT QUẢ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG 3 NĂM (2008-2010)

VKSND tỉnh Bình Dương

 

I. CÔNG TÁC TRIỂN KHAI, QUÁN TRIỆT

Luật Khiếu nại, tố cáo (được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005) đã góp phần vào việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những khâu công tác hết sức quan trọng và nhạy cảm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của công dân cũng như lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy mà Ban Bí thư đã có Chỉ thị 09- CT/TW ngày 06/3/2002, Bộ Chính trị đã có Thông báo kết luận số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 về "Tình hình kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới: Nhằm thực hiện tốt các chủ trương trên của Đảng, Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã xây dựng kế hoạch, tiếp tục triển khai, quán triệt Chỉ thị 09- CT/TW của Ban Bí thư và Thông báo kết luận số 130- TB/TW của Bộ Chính trị đến toàn thể cán bộ, đảng viên trong ngành, qua đó đã giúp cho cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; nắm vững các quy định của pháp luật và vận dụng tốt vào thực tiễn công tác.

Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác này, Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã xác định việc giải quyết khiếu nại, tố cáo là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên để chỉ đạo toàn ngành; phân công 1 đồng chí trong Ban lãnh đạo trực tiếp phụ trách công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; thường xuyên tổ chức các cuộc rà soát các đơn khiếu nại, tố cáo, kiểm tra định kỳ và đột xuất các đơn vị trực thuộc; đồng thời tăng cường đôn đốc giải quyết, không để đơn tồn đọng, kéo dài. Với sự quyết tâm và nỗ lực thực hiện của cán bộ công chức, trong 3 năm qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ngành Kiểm sát Bình Dương đạt được nhiều kết quả tích cực.

II.  TÌNH HÌNH TIẾP CÔNG DÂN, TIẾP NHẬN ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

Trong những năm qua, lãnh đạo Viện kiểm sát 2 cấp đặc biệt quan tâm đến công tác tiếp công dân, Viện kiểm sát 2 cấp đã duy trì và thực hiện tốt việc tiếp công dân đến khiếu nại tại trụ sở làm việc; phân công cán bộ, Kiểm sát viên thường trực tiếp công dân. Hàng tuần vào ngày thứ năm có Lãnh đạo Viện trực tiếp tiếp công dân. Việc tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn được phản ảnh đầy đủ kịp thời đúng theo Quy chế 59 của ngành.

Viện kiểm sát 2 cấp bố trí địa điểm tiếp công dân, trước phòng tiếp dân có đặt hòm thư nhận tố giác, tin báo tội phạm. Tại phòng tiếp dân có niêm yết nội quy, lịch tiếp công dân theo đúng quy định; bố trí cán bộ có năng lực tiếp công dân.

Công tác tiếp công dân của Viện kiểm sát 2 cấp trong 3 năm đạt nhiều kết quả cao, tạo sự tin tưởng của người dân vào pháp luật, không xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người. Cụ thể đã tiếp 1.154 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo, trong đó lãnh đạo Viện tiếp 141, cán bộ, Kiểm sát viên tiếp 1013 lượt. Trong 3 năm qua, Viện kiểm sát 2 cấp đã tiếp nhận 2.081 đơn (khiếu nại: 802, tố cáo: 165, kiến nghị phản ảnh: 931, tin báo tố giác tội phạm: 153 và 30 đơn không rõ nội dung).

III. KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, Tố Cáo

Tổng số đơn tiếp nhận: 2081 đơn (cấp tỉnh 1.395, huyện 686). Đã phân loại, xử lý:

- Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết: 607 đơn.

- Đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát: 550 đơn.

- Thông báo chỉ dẫn, lưu đơn: 924 đơn.

1. Đơn thuộc thẩm quyền

Được sự quan tâm của lãnh đạo Viện và sự phối hợp giữa các đơn vị nghiệp vụ, công tác giải quyết đơn thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát luôn kịp thời và đạt kết quả cao. Viện kiểm sát 2 cấp đã xây dựng được Quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát, Công an, Toà án, Thi hành án trong việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực hoạt động tư pháp nên đã phần nào tháo gỡ được những khó khăn trong quá trình thụ lý giải quyết đơn. Trong thời điểm trên, VKSND tỉnh Bình Dương đã giải quyết 607/ 607 đơn, đạt tỷ lệ 100%. Qua kết quả giải quyết đơn thấy rằng, đơn thuộc thẩm quyền giải quyết chủ yếu là đơn khiếu nại cáo trạng, đơn khiếu nại theo trình tự phúc thẩm án dân sự, đơn khiếu nại việc thu thập chứng cứ. Phần lớn người dân khiếu nại là không có căn cứ nhưng do tâm lý cầu may hoặc lợi dụng quyền tự do dân chủ để khiếu nại nhằm kéo dài vụ việc có lợi cho mình, nhất là trong vụ kiện dân sự về đòi nợ.

Tuy nhiên, qua kiểm tra một số Viện kiểm sát cấp huyện thấy, công tác tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại xử lý đơn chưa tốt, chưa thực hiện đúng hình thức ban hành văn bản trả lời khi giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp như: Không ban hành quyết định giải quyết, giải quyết đơn còn chậm.

Nguyên nhân:

Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp huyện đôi lúc chưa quan tâm đúng mức đến công tác khiếu tố.

Cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát 2 cấp 100% đều phải kiêm nhiệm công việc khác nên kết quả công tác kiểm sát giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo cũng chưa đạt kết quả như mong muốn.

2. Đối với đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát

Tổng số đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát là 550 đơn, Viện kiểm sát 2 cấp đã chuyển cho cơ quan tư pháp cấp tỉnh: 45 đơn, huyện: 505 đơn. Số đơn trên đã được các cơ quan tư pháp giải quyết đạt tỷ lệ 100%.

Qua thực tiễn công tác nhận thấy: Khi người dân đến khiếu nại và họ trình bày rất nhiều nội dung, chúng ta phải xác định được vụ việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nào, thông qua đó chúng ta nắm bắt được vi phạm của các cơ quan tư pháp. Song song với việc người dân trực tiếp đến trình bày tại phòng tiếp dân thì còn một kênh thông tin nữa là người dân gửi đơn thông qua đường bưu điện. Sau khi nhận đơn và nghiên cứu nội dung đơn chúng ta xác định được đơn khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nào thì chúng ta chuyển đơn đến phòng nghiệp vụ tương ứng, phòng nghiệp vụ chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thực hiện việc kiểm sát.

Qua 03 năm, Viện kiểm sát nhân dân 2 cấp đã tiến hành kiểm sát trực tiếp 15 cơ quan tư pháp cùng cấp và cấp dưới. Thông qua các cuộc kiểm sát thấy, nguồn để phát hiện các vi phạm của cơ quan tư pháp chủ yếu là qua đơn công dân gửi và qua tiếp công dân. Các dạng vi phạm của các cơ quan tư pháp tập trung là: Để đơn tồn đọng kéo dài, giải quyết đơn quá hạn luật định, giải quyết không tuân thủ theo hình thức văn bản...Viện kiểm sát cũng đã làm rõ nguyên nhân của các tồn. tại trên là: Lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; cán bộ làm trực tiếp công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo còn kiêm nhiệm, không chuyên trách. Tuy nhiên, có một vài trường hợp đã được giải quyết đúng quy định của pháp luật nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại đến nhiều ngành, nhiều cấp , một số vụ việc phức tạp xảy ra đã lâu nên việc giải quyết cũng gặp không ít khó khăn.

IV. MỘT SỐ KINH NGHIỆM - GIẢI PHÁP

Lãnh đạo thường xuyên quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thì khiếu nại, tố cáo được giải quyết tốt, kịp thời không có đơn tồn đọng, tạo được lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Do đó, Lãnh đạo các cơ quan tư pháp phải quan tâm hơn nữa đến công tác khiếu tố; quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 09-CT/rrw ngày 6/3/2002 của Ban Bí thư Thông báo kết luận số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính tả; Chương trình hành động số 62-CTr/TU ngày 11/4/2008 và Chỉ thị số 21- CT/TU ngày 27/02/2008 của Tỉnh uỷ Bình Dương. Đối với những vụ việc bức xúc kéo dài phải chỉ đạo tập trung giải quyết dứt điểm, không để tồn đọng dẫn tới khiếu kiện vượt cấp.

Đội ngũ cán bộ làm công tác khiếu tố ở Viện kiểm sát 2 cấp phải có năng lực thực sự, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Do đó, phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực hoạt động tư pháp, sắp xếp bố trí cán bộ, Kiểm sát viên có năng lực làm công tác khiếu tố và tránh tình trạng thường xuyên hoán đổi cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác khiếu tố (nhất là ở cấp huyện).

V. NHỮNG BẤT CẬP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO THUỘC LĨNH VỰC ĐỘNG TƯ PHÁP.

l. Về chính sách pháp luật.

Tại Khoản 2 điều 24 Luật Tổ chức Viện kiểm sát năm 2002 quy định:

"2. Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của cơ quan thí hành án cùng cấp và cấp dưới. Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức đơn vị và cá nhân có liên quan và việc giải quyết kháng cáo, khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án", nhưng tại Điều 159 Luật Thi hành án dân sự lại quy định: Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật". Như vậy, theo quy định như 2 điều luật nêu trên thấy rằng, pháp luật chưa có sự thống nhất, theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát được quyền kiểm sát trực tiếp nhưng theo Luật Thi hành án Dân sự thì Viện kiểm sát chỉ có quyền yêu cầu kiến nghị.

Tại Khoản 8 Điều 2 Quy chế 59 quy định: Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp (dưới đây gọi tắt là kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp) là việc Viện kiểm sát xem xét việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án của Cơ quan điều tra, Toà án, cơ quan thi hành án và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra". Nhưng tại điều 23 Khoản 1 Điểm d Quy chế 59 lại quy định: "Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tư pháp (chỉ áp dụng trong kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự). Quy định như vậy nên trong thực tế gây không ít khó khăn cho công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Ngoài ra, một số biểu mẫu dùng trong công tác khiếu tố đến nay không còn phù hợp với thực tế cần phải sửa đổi, bổ sung.

2. Về phía người dân

Nhận thức pháp luật còn hạn chế, nhiều trường hợp đơn đã được giải quyết đúng theo quy định của pháp luật, đã có quyết định cuối cùng hoặc lần hai nhưng công dân vẫn không đồng ý với nội dung giải quyết và tiếp tục có đơn gửi đến nhiều cấp, nhiều ngành Trung ương và địa phương, trong khi không cung cấp được những tình tiết mới. Lượng đơn này tiếp tục được các cơ quan chuyển về địa phương đề nghị xem xét, trả lời cho cơ quan chuyển đơn và người khiếu nại, do đó làm mất nhiều thời gian của cơ quan có thầm quyền xử lý.

VI. KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT

Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến với Quốc hội xem xét sửa đổi bổ sung 2 điều Luật nêu trên cho phù hợp với thực tế, tránh chồng chéo để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thực thi pháp luật.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao nên xem xét sửa đổi bổ sung Khoản 8 Điều 2 và Điều 23 Khoản 1 Điểm d Quy chế 59.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét sửa đổi, bổ sung hệ thống biểu mẫu dùng trong công tác khiếu tố, bỏ những biểu mẫu cũ không còn phù hợp và ban hành biểu mẫu mới.

Thường xuyên tổ chức tập huấn công tác khiếu tố.

Tuyên truyền pháp luật sâu rộng trong nhân dân dưới mọi hình thức.

MỐI QUAN HỆ PHỐI HỢP CÔNG TÁC GIỮA PHÒNG KHIẾU TỐ VÀ

ĐƠN VỊ NGHIỆP VỤ TRONG GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

VỀ TƯ PHÁP TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

VKSND tỉnh Bắc Ninh


Trong những năm qua, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh quan tâm và ngày càng có những chuyển biến tích cực. Thông qua công tác này cho thấy, đơn khiếu nại, tố cáo của công dân đã được Viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh xem xét, giải quyết kịp thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Có được kết quả trên là do Viện kiểm sát đã thực hiện nghiêm túc Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Quy chế số 59 ngày 06/02/2006, Quyết định số 487 ngày 04/9/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đồng thời, đề ra các biện pháp nhằm tăng cường mối quan hệ phối hợp, nâng cao trách nhiệm trong quá trình giải quyết và kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp.

Hàng năm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã bám sát Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Vụ Khiếu tố để xây dựng kế hoạch, đề ra các chỉ tiêu nhằm thực hiện có hiệu quả công tác khiếu tố; chủ động, kịp thời hướng dẫn công tác khiếu tố đối với các đơn vị nghiệp vụ và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; chỉ đạo, quán triệt cho cán bộ, Kiểm sát viên trong ngành nhận thức đúng, đầy đủ về nhiệm vụ và trách nhiệm giải quyết và kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp. Đồng thời, căn cứ vào tình hình thực tiễn của đơn vị chủ động đề ra các biện pháp nhằm tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa phòng Khiếu tố với các đơn vị nghiệp vụ; giữa Viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp cùng cấp trong thực hiện nhiệm vụ công tác khiếu tố nói chung và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp nói riêng.

Để thực hiện có hiệu quả chủ trương, kế hoạch trên, tháng 01/2010 Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có Nghị quyết đề nghị được Viện kiểm sát nhân dân tối cao phê chuẩn về việc thành lập Phòng Khiếu tố Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tách Phòng Tổ chức cán bộ - Khiếu tố với biên chế gồm 03 đồng chí (01 đồng chí Kiểm sát viên cấp tỉnh giữ chức vụ Trưởng phòng; 01 đồng chí Kiểm tra viên và 01 đồng chí chuyên viên) . Mặc dù từ tháng 4/2010, 01 đồng chí Kiểm tra viên là cán bộ cũ duy nhất của phòng được cử đi học lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát thời hạn 01 năm và đồng chí chuyên viên đang trong thời gian tập sự, song trước yêu cầu nhiệm vụ công tác và được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các đồng chí lãnh đạo Viện, trực tiếp là đồng chí Viện trưởng đã động viên, khích lệ kịp thời và tạo mọi điều kiện để hoạt động của phòng Khiếu tố thực sự có hiệu quả chất lượng công tác khiếu tố từng bước được nâng cao.

Để hoạt động của công tác khiếu tố đi dần vào nề nếp, phòng Khiếu tố đã chủ động tham mưu với Viện trưởng sửa đổi và bổ sung Nội quy tiếp công dân tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp giữa Phòng Khiếu tố và các đơn vị nghiệp vụ trong công tác tiếp công dân, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp; phối hợp với các cơ quan tư pháp cùng cấp xây dựng và ban hành Quy định phối hợp trong công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp nhằm nâng cao trách nhiệm và tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa phòng Khiếu tố và các đơn vị nghiệp vụ khác, giữa Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan tư pháp cùng cấp trong công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp đảm bảo thực hiện nghiêm túc Luật Khiếu nại, tố cáo; quy chế nghiệp vụ về công tác khiếu tố và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Ngành.

Trong năm 2010 và 06 tháng đầu năm 2011, phòng Khiếu tố Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiếp nhận 663 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị và phản ảnh. Trong đó:

- Số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát là 210 đơn, tỷ lệ chiếm 32%. Nội dung đơn chủ yếu tập trung khiếu nại cáo trạng; khiếu nại việc bắt, tạm giam; khiếu nại quyết định của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cùng cấp, quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện về giải quyết khiếu nại; đề nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự, dân sự.

Số đơn chuyển các cơ quan tư pháp khác Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát giải quyết là 158 đơn, tỷ lệ chiếm 23%. Nội dung đơn chủ yếu tập trung khiếu nại các quyết định của Thẩm phán, Chấp hành viên; tố cáo hành vi Điều tra viên, Chấp hành viên, Thẩm phán khi thi hành công vụ; đề nghị được thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật...

Đối với công tác tiếp công dân: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh xác định, tiếp công dân, giải quyết và kiểm sát giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp là trách nhiệm chung của tất cả các phòng nghiệp vụ. Vì vậy, khi công dân yêu cầu, phòng Khiếu tố đều thông báo cho phòng nghiệp vụ liên quan cử cán bộ cùng tiếp dân. Trong trường hợp cần thiết như công dân đến khiếu nại, tố cáo đông người, có tính chất phức tạp và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh, chính trị thì phòng Khiếu tố báo cáo ngay để Lãnh đạo Viện chỉ đạo phòng nghiệp vụ có liên quan phối hợp với phòng Khiếu tố tiếp công dân. Thông qua việc tiếp công dân các đơn vị nghiệp vụ được trực tiếp đối thoại với công dân, nắm bắt thông tủi nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan, thu thập những thông tin, tài liệu còn thiếu để đề xuất các biện pháp xử lý và giải quyết kịp thời. Năm 2010, phòng Khiếu tố đã phối hợp với phòng 1A tiếp 02 lượt công dân khiếu kiện vượt cấp, đông người (từ 70- 200 người) khiếu nại việc bắt, tạm giam trong vụ án chống người thi hành công vụ" xảy ra tại xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành liên quan trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng. Sau khi trực tiếp lắng nghe và giải thích các quy định của pháp luật, phân tích rõ các hành vi vi phạm và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc khởi tố, bắt tạm giam của Cơ quan điều tra, đã không còn tập trung khiếu kiện đông người và yên tâm chờ đợi kết quả điều tra, xừ lý của các cơ quan pháp luật.

Trong công tác tiếp nhận phân loại xử lý và giải quyết đơn: Thực hiện nghiêm túc Quy chế 59, phòng Khiếu tố là đơn vị đầu mối để tiếp nhận đơn. Mọi nguồn đơn gửi đến Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đều được chuyển đến phòng Khiếu tố để thụ lý và phân loại xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật. Đối với đơn thuộc thẩm quyền giải quyết, phòng Khiếu tố báo cáo đề xuất các đồng chí lãnh đạo Viện bằng văn bản để chuyển cho phòng nghiệp vụ được phân công giải quyết. Phòng nghiệp vụ tiếp nhận, thụ lý và giải quyết đơn theo quy định của pháp luật và gửi kết quả giải quyết đơn đến phòng Khiếu tố để theo dõi. Trường hợp đơn có tính chất phức tạp, bức xúc, phòng tham mưu đề xuất với Viện trưởng để giao lãnh đạo Viện phụ trách khối trực tiếp chỉ đạo giải quyết. Hàng tuần, phòng Khiếu tố có trách nhiệm đôn đốc và tổng hợp kết quả giải quyết đơn của các đơn vị nghiệp vụ (kết quả thụ lý, giải quyết; thời hạn, chất lượng giải quyết...); phối hợp với các phòng nghiệp vụ rà soát đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát giải quyết; tổng hợp những kiến nghị, phản ánh, những khó khăn vướng mắc trong công tác khiếu tố và những ý kiến tham mưu đề xuất biện pháp giải quyết để Viện trưởng cho ý kiến chỉ đạo thẹo từng vụ việc hoặc định kỳ trong các buổi giao ban. Đồng thời trong báo cáo tuần, phòng Khiếu tố báo cáo tình hình giải quyết đơn thuộc thẩm quyền bằng văn bản gửi đến các đồng chí lãnh đạo Viện, trong đó phân tích rõ số liệu thụ lý, giải quyết, thời hạn và lý do chậm giải quyết ... để các đồng chí lãnh đạo Viện chỉ đạo kịp thời. Định kỳ hàng quý, phòng Khiếu tố tham mưu cho Viện trưởng về việc thông báo kết quả công tác khiếu tố trong đó có nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác khiếu tố; thông báo cụ thể từng trường hợp đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc kiểm sát việc giải quyết chưa nhận được kết quả và những vấn để cần lưu ý trong công tác khiếu tố thời gian tới để các đơn vị trong Ngành thực hiện nghiêm túc. Để có căn cứ chính xác trong việc tham mưu với Viện trưởng ban hành quyết định kiểm sát trực tiếp các cơ quan tư pháp trong giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp, phòng Khiếu tố đã duy trì việc thường xuyên nắm bắt và định kỳ 6 tháng một lần có công văn trao đổi với các phòng nghiệp vụ để tổng hợp vi phạm trong quá trình giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp. Thông qua công tác tiếp công dân và nguồn đơn khiếu nại, tố cáo, phòng đã thông tin kịp thời đến các đơn vị nghiệp vụ những kiến nghị, phản ánh của người dân trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp để các đơn vị nghiệp vụ kiểm tra và áp dụng linh hoạt các biện pháp kiểm sát đối với vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng nghiệp vụ nên thời gian qua, Viện kiểm sát tỉnh Bắc Ninh giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền đạt tỷ lệ 100%, đảm bảo đúng về thời gian, trình tự, thẩm quyền và quy định của pháp luật, không có trường hợp đơn tồn đọng, kéo dài vi phạm về thời hạn giải quyết, chất lượng công tác giải quyết đơn từng bước được nâng cao và đặc biệt là sau khi đã giải quyết không còn khiếu nại tiếp; thực hiện tết kiểm sát việc thụ lý và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp cùng cấp, đảm bảo việc giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật và thông báo kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát theo Quy chế phối hợp liên ngành đã đề ra. Vì vậy, năm 2010 Viện kiểm sát đã không phải áp dụng phương thức kiểm sát trực tiếp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp vì những vi phạm của các cơ quan này mang tính giản đơn (như một vài trường hợp thụ lý đơn và thông báo kết quả giải quyết đơn chậm) và không có tính phổ biến.

Ngoài ra, thông qua công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp, Viện kiểm sát đã phối hợp với các cơ quan tư pháp cùng cấp kiểm tra quyết định giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp cấp huyện, phát hiện vi phạm và kịp thời chỉ đạo giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Năm 2010 và 6 tháng đầu năm 2011, thông qua nguồn đơn khiếu nại, tố cáo do phòng Khiếu tố chuyển đến, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo các phòng nghiệp vụ tiến hành các biện pháp nghiệp vụ như: Chỉ đạo phòng 1 xác minh làm rõ đơn tố cáo của ông Nguyễn Công Uốn về hành vi tham nhũng của cán bộ thôn Bùi Xá - xã Ngũ Thái - huyện Thuận Thành. Kết quả xác minh thấy, nội dung tố cáo là có cơ sở và quyết định giải quyết đơn của cơ quan tư pháp cấp huyện là chưa thoả đáng nên đã yêu cầu Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh khởi tố vụ án, khởi tố 02 bị can Nguyễn Văn Tráng và Nguyễn Văn Sự về tội tham ô tài sản. Đến nay, vụ án đã được xét xử, Hội đồng xét xừ đã tuyên phạt 02 bị cáo là 5 và 7 năm tù về tội tham ô tài sản; chỉ đạo phòng 1A tiến hành kiểm tra, xác minh và phối hợp với Công an tỉnh Bắc Ninh phục hồi điều tra vụ án Nguyễn Tài Hơn bị khởi tố về tội "Cố ý gây thương tích" trong trường hợp đối với người già và có tính chất côn đồ gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân (đã được Cơ quan điều tra cấp huyện đình chỉ điều tra do giám định lại thương tích không đủ % thương tật truy tố) để điều tra, truy tố và xét xử về tội gây rối trật tự công cộng" với mức hình phạt đối với Hơn là 16 tháng tù.

Ngoài ra, thông qua đơn kiến nghị và đề nghị của công dân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 01 vụ án dân sự của TAND cấp huyện theo hướng huỷ án. Toà án tỉnh Bắc Ninh đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát; báo cáo Vụ 5 - VKSNDTC kháng nghị giám đốc thẩm 01 vụ án dân sự, hiện nay đã được Toà án tối cao chấp nhận kháng nghị của VKSNDTC.

Từ thực tiễn mối quan hệ trong công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp giữa phòng Khiếu tố và các đơn vị nghiệp vụ trong ngành, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm và đề xuất, kiến nghị như sau:

Về kinh nghiệm:

- Có sự quan tâm chỉ đạo sâu sát và thường xuyên của Thủ trưởng đơn vị trong công tác khiếu tố, xác định công tác khiếu tố là một trong những khâu công tác thường xuyên, trọng tâm của ngành Kiểm sát; tạo mọi điều kiện để phòng Khiếu tố hoạt động có nề nếp và hiệu quả; thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác khiếu tố như: Sửa đổi, bổ sung Nội quy tiếp công dân; xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy chế phối hợp giữa phòng Khiếu tố và các phòng nghiệp vụ khác trong công tác tiếp công dân, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp của các cơ quan tư pháp nhằm giải quyết có hiệu quả tình trạng khiếu kiện đông người, giải quyết 100% đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, góp phần ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Đối với trường hợp khiếu nại, tố cáo có đông người tham gia, phải chủ động xây dựng kế hoạch tiếp công dân, phối hợp thực hiện có hiệu quả trong công tác tiếp công dân giữa phòng Khiếu tố và các phòng nghiệp vụ.

Không ngừng nâng cao chất lượng công tác của cán bộ, Kiểm sát viên phòng Khiếu tố.

Đề xuất và kiên nghị:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và cho phép Viện kiểm sát nhân dân địa phương vận dụng Quyết định 487 ngày 4/9/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn của địa phương (như cho phép phòng Khiếu tố trực tiếp phân loại, chuyển đơn đến các cơ quan tư pháp và thông báo ngay bằng văn bản, phô tô đơn và tài liệu kèm theo gửi phòng nghiệp vụ để kiểm sát việc giải quyết) bảo đảm việc chuyển đơn được kịp thời theo Quy chế 59.

- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với các cơ quan tư pháp Trung ương ban hành và hướng dẫn bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính.

- Hàng năm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức hội thảo và tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác khiếu tố theo khu vực; xây dựng các chuyên đề về công tác khiếu tố.

- Kiện toàn đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ công tác khiếu tố như: Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác khiếu tố, bố trí cán bộ có chức danh pháp lý, am hiểu về pháp luật và xã hội. Cần có hình thức động viên, khuyến khích cán bộ làm công tác khiếu tố như: Có chính sách luân chuyển cán bộ, ưu tiên bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật kịp thời./.

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC PHÁT HIỆN VI PHẠM

TRONG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

VỀ HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP

VKSND tỉnh Vĩnh Phúc

 

 

1. Căn cứ pháp luật và phạm vi áp dụng

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp được qui định trong các văn bản pháp luật sau đây:

Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân có qui định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo qui định của pháp luật".

Điều 339 Bộ luật Tố tụng Hình sự qui định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự; trong đó qui định Viện kiểm sát có quyền yêu cầu ra văn bản giải, kiểm tra việc giải quyết, cung cấp hồ sơ tài liệu, trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ quan Điều tra, Toà án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Điều 404 Bộ luật Tố tụng Dân sự qui định: Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự theo qui định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu , kiến nghị đối với Toà án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ đúng pháp luật". Điều 262 Luật Tố tụng Hành chính qui định: Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính theo qui định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Toà án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 159 Luật Thi hành án Dân sự có qui định: Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự theo qui định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ đúng pháp luật".

Điều 142 Luật Thi hành án Hình sự có qui định: "Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự cùng cấp và cấp  dưới:

a. Ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo qui định tại Chương XIII của Luật này;

b. Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và của cấp dưới thông báo kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát;

c. Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát".

Như vậy, theo qui định nêu trên Viện kiểm sát các cấp có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các Cơ quan điều tra, Toà án, Thi hành án (cả hình sự và dân sự) và một số cơ quan được giao một số nhiệm vụ trong hoạt động điều tra hình sự, thi hành án. Nhưng chỉ khi các cơ quan này hoạt động theo tố tụng và thi hành án được qui định trong các luật tố tụng và thi hành án. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp nêu trên thuộc các lĩnh vực khác như lĩnh vực hành chính, không liên quan đến tố tụng và thi hành án thì Viện kiểm sát không có thẩm quyền kiểm sát. Qua đó có thể thấy, đối tượng và phạm vi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát rất ít và hạn chế, nên Viện kiểm sát rất khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ này.

Một vấn đề nữa là theo qui định tại Thông tư liên tịch số 02 ngày 10/8/2005, Thông tư liên tịch số 03 ngày 1/9/2005 và Qui chế số 59 ngày 6.2.2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì Viện kiểm sát muốn áp dụng một biện pháp kiểm sát nào đều phải trên cơ sở có dấu hiệu vi phạm pháp luật của cơ quan có trách nhiệm trong giải quyết đơn. Ví dụ: Viện kiểm sát muốn yêu cầu Cơ quan điều tra ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo khi Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại của đương sự hoặc có căn cứ xác định cơ quan điều tra không ra văn bản giải quyết khiếu nại trong thời hạn qui định.

Từ những qui định nêu trên, để phát hiện vi phạm làm căn cứ cho Viện kiểm sát áp dụng các biện pháp kiểm sát theo đúng qui định của pháp luật thì Viện kiểm sát phải có nhiều phương pháp thu thập các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Qua thực tiễn công tác Viện kiểm sát Vĩnh Phúc nêu một số kinh nghiệm để các đơn vị tham khảo .

2. Nguồn thông tin để phát hiện vi phạm

Để nắm được các thông tin giúp cho công tác kiểm sát khiếu tố xác định có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo phải đa dạng trong việc thu thập qua các nguồn thông tin khác nhau như:

+ Qua công tác tiếp công dân, nhận đơn

Đây là nguồn thông tin thường xuyên Viện kiểm sát nắm được qua công tác tiếp dân và nhận đơn hàng ngày. Các đơn thư gửi đến Viện kiểm sát rất đa dạng bao gồm đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn đề nghị, kiến nghị, phản ánh. Có đơn liên quan đến lĩnh vực quản lý hành chính, có đơn liên quan đến hoạt động tư pháp. Ngoài việc thực hiện phân loại xử lý đơn theo qui định, cán bộ làm công tác khiếu tố còn phải nghiên cứu kỹ các đơn liên quan đến hoạt động tư pháp, xem những đơn đó công dân khiếu nại, tố cáo vấn đề gì, họ đã gửi đến cơ quan có thẩm quyền chưa, nội dung đã giải quyết như thế nào, thời hạn giải quyết ra sao ...?

Qua xem xét nếu đơn công dân đã gửi đến cơ quan có thẩm quyền nhưng quá thời hạn mà chưa được giải quyết thì Viện kiểm sát ra văn bản yêu cầu giải quyết. Nếu đã có văn bản giải quyết nhưng có vi phạm về thời hạn, thẩm quyền hay nội dung thì có thể ban hành văn bản yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu. Sau đó nếu qua nghiên cứu tài liệu thấy vi phạm đã rõ thì chỉ cần lập biên bản làm việc xác nhận nội dung vụ việc để căn cứ vào đó ban hành kiến nghị. Nếu việc vi phạm chưa rõ hoặc còn nhiều vấn đề cần phải xác minh làm rõ thì ra quyết định .kiểm sát trực tiếp.

+ Qua nghiên cứu kết quả giải quyết đơn cơ quan tư pháp gửi đến Viện kiểm sát

Theo qui định của pháp luật, trong một số lĩnh vực khi giải quyết khiếu nại, cơ quan ra văn bản giải quyết phải gửi văn bản đó cho Viện kiểm sát cùng cấp (Thông tư 02 qui định về giải quyết đơn trong tố tụng hình sự). Tuy nhiên, cũng có lĩnh vực không qui định các cơ quan khi giải quyết khiếu nại về tư pháp phải gửi quyết định giải quyết cho Viện kiểm sát (như tố tụng dân sự, thi hành án). Trong thực tế những đơn khiếu nại, tố cáo do Viện kiểm sát chuyển đến các cơ quan tư pháp Viện kiểm sát đều yêu cầu các cơ quan này gửi kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát, nên các cơ quan tư pháp thường có thông báo kết quả hoặc gửi văn bản giải quyết đến Viện kiểm sát.

Qua nghiên cứu các văn bản của cơ quan có thẩm quyền gửi đến nếu thấy có dấu hiệu vi phạm, Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan đó cung cấp hồ sơ, tài liệu cho Viện kiểm sát. Nếu qua nghiên cứu thấy có vi phạm thì tuỳ từng trường hợp sẽ ban hành kiến nghị ngay hoặc ra quyết định kiểm sát trực tiếp. Điển hình như năm 2010, Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc nhận được nhiều đơn khiếu nại, đề nghị của công dân liên quan đến việc xử lý của cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Vĩnh Tường. Sau khi chuyển đơn, Viện kiểm sát đã có các công văn yêu cầu thông báo hoặc gửi văn bản giải quyết cho Viện kiểm sát tỉnh Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Vĩnh Tường có các báo cáo và gửi kèm các tài liệu liên quan đến việc giải quyết các đơn mà Viện kiểm sát đã chuyển đến. Qua nghiên cứu Viện kiểm sát thấy rất rõ các vi phạm về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn cũng như nội dung giải quyết khiếu nại đối với nhiều đơn. Căn cứu tài liệu đó, Viện kiểm sát tỉnh ra quyết định kiểm sát trực tiếp cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường. Sau khi kiểm sát đã kết luận được nhiều vi phạm như đã xác định ban đầu, Viện kiểm sát đã ban hành kiến nghị và Cơ quan điều tra có văn bản tiếp thu sửa chữa ngay.

+ Qua kiểm tra, rà soát thực hiện Chỉ thị 09/CT-TW của Ban Bí thư

Hàng năm, liên ngành tư pháp tỉnh đều tiến hành rà soát toàn bộ công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp ít nhất 1 lần ở cả 2 cấp và do Viện kiểm sát chủ in. Thông qua việc rà soát, Viện kiểm sát đã nắm được toàn bộ hoạt động giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp, có biện pháp đôn đốc giải quyết những đơn bức xúc, tồn đọng lâu ngày chưa được giải quyết. Đồng thời, thông qua việc rà soát đơn giúp Viện kiểm sát hai cấp cũng nắm được một số tồn tại vi phạm trong giải quyết đơn để có biện pháp kiểm sát phù hợp.

Thông qua đợt rà soát, một số đơn vị đã mở được điểm kiểm sát như: Năm 2009 sau rà soát đơn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Viện kiểm sát tỉnh thấy có một số vi phạm như giải quyết đơn không đúng thời hạn, kết thúc việc giải quyết có ban hành quyết định nhưng không gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, không gửi cho đương sự quyết định mà chỉ gửi thông báo kết quả giải quyết. Viện kiểm sát tỉnh đã ra văn bản yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra cung cấp hồ sơ tài liệu. Sau khi nghiên cứu, xác minh và làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát đã xác định được vi phạm và ban hành kiến nghị. Sau khi nhận được kiến nghị, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cố văn bản tiếp thu khắc vị phạm kịp thời.

+ Qua sự phối hợp công tác với các phòng nghiệp vụ và Viện kiểm sát cấp huyện

Theo qui định tại Quyết định số 487/QĐ-VKSTC-V7 ngày 4/9/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về giao nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp thì trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc các đơn vị nghiệp vụ trong ngành Kiểm sát. Do vậy việc phối hợp giữa đơn vị khiếu tố với các đơn vị nghiệp vụ khác trong kiểm sát đơn là rất cần thiết. Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Qui chế phối hợp trong việc tiếp dân, giải quyết đơn và kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp giữa phòng Khiếu tố với các phòng nghiệp vụ khác. Qua thực tế thực hiện đã đạt được kết quả rất tốt. Mọi việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo phòng nghiệp vụ đều phối hợp với phòng Khiếu tố để giải quyết, cũng như các cuộc kiểm sát do phòng Khiếu tố chủ trì đều có sự phối hợp của phòng nghiệp vụ.

Thông qua sự phối hợp này, phòng Khiếu tố thường xuyên nắm được tình hình giải quyết đơn của các cơ quan tư pháp cùng cấp, kịp thời phát hiện các dấu hiệu vi phạm để cùng phối hợp xừ lý, áp dụng các biện pháp kiểm sát phù hợp. Cũng từ công tác phối hợp, Viện kiểm sát tỉnh còn phát hiện cả những vi phạm của cơ quan tư pháp cấp huyện, sau đó thông báo cho Viện kiểm sát cấp huyện thực hiện việc kiểm sát. Điển hình như vụ đương sự khiếu nại việc làm trái pháp luật của Thư ký Toà án huyện Bình Xuyên, sau khi Viện kiểm sát tỉnh chuyển đơn, Toà án huyện giải quyết và có thông báo kết quả cho Viện kiểm sát. Qua nghiên cứu thấy có vi phạm, Viện kiểm sát tỉnh thông báo và gửi tài liệu cho Viện kiểm sát huyện. Viện kiểm sát đã kiểm sát và ban hành kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm.

3. Những vướng mắc trong kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp

Qua thực tiễn công tác cho thấy, công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp là nhiệm vụ khó khăn khi vừa phải đảm bảo chỉ tiêu đề ra hàng năm, vừa phải tuân theo các qui định chặt chẽ của pháp luật. Trong thực tế đã gặp phải không ít khó khăn vướng mắc, chúng tôi xin nêu một số nội dung để cùng trao đổi và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét.

Theo qui định của các văn bản pháp luật hiện hành thì việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết k