Về vấn đề đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp ở Việt Nam.

Thời gian gần đây đã diễn ra những cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nghiệp vụ để tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp ở Việt Nam.

Theo các quy định hiện hành, chức danh kiểm sát viên, thẩm phán là các chức danh do bổ nhiệm chứ không phải do thi tuyển. Một người để có thể trở thành kiểm sát viên đòi hỏi phải “có trình độ cử nhân luật, đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát” (Điều 2 Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002); để trở thành thẩm phán đòi phải có “trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử” (Điều 5 Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002). Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Điều 1 Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002, kiểm sát viên và thẩm phán là chức danh do bổ nhiệm.Việc bổ nhiệm chức danh kiểm sát viên, thẩm phán được tiến hành với trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc đào tạo đối với các đối tượng đã có trình độ cử nhân luật trước khi bổ nhiệm các chức danh tư pháp thực chất là đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp chứ không phải là đào tạo các chức danh tư pháp.

Về việc đào tạo nguồn để bổ nhiệm chức danh tư pháp, hiện nay có quan điểm cho rằng, không nên tổ chức việc đào tạo nguồn để bổ nhiệm thẩm phán, kiểm sát viên … trong các cơ sở đào tạo khác nhau mà nên  tập trung vào một đầu mối đảm nhiệm. Bởi vì, việc đào tạo chung trong một cơ sở đào tạo sẽ tạo điều kiện trang bị mặt bằng kiến thức chung về chuyên môn, nghiệp vụ cho thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, là những người trực tiếp tham gia tố tụng, cùng giải quyết một vụ án, vụ việc, tạo cơ sở thực hiện chủ trương trong các nghị quyết của Đảng về mở rộng tranh tụng tại Tòa án, góp phần làm cho hoạt động tố tụng ngày càng chuyên nghiệp hơn, nhanh chóng hơn…

Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này. Để được xem xét bổ nhiệm kiểm sát viên, bổ nhiệm thẩm phán, người được xem xét bổ nhiệm phải trải qua một quá trình đào tạo, bao gồm đào tạo cử nhân luật ở bậc đại học và đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, nghiệp vụ xét xử. Công việc này là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, trách nhiệm của các cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, là trách nhiệm của các trường đại học luật, khoa luật Trường Đại học Quốc gia Hà nội và các trường đại học khác trong việc đào tạo cử nhân luật với một nền tảng kiến thức chung, cơ bản về pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong việc đào tạo các kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành.

Đúng là các chức danh kiểm sát viên, thẩm phán, cũng như luật sư đòi hỏi phải có mặt bằng kiến thức chung. Tuy nhiên, mặt bằng kiến thức chung của Kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư là kiến thức cử nhân luật được trang bị trong quá trình học tập tại các trường đại học luật hoặc khoa luật của các trường đại học khác. Khác với các kiến thức chung, các kiến thức về nghiệp vụ kiểm sát, nghiệp vụ xét xử là các kiến thức thuộc kỹ năng nghề nghiệp có tính đặc thù của từng chức danh kiểm sát viên, thẩm phán. Không thể có mặt bằng chung về kiến thức nghề nghiệp của tất cả các chức danh tư pháp kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư...

Hoạt động tại phiên tòa xét xử hình sự, có sự tham gia của thẩm phán, luật sư, kiểm sát viên, là hoạt động áp dụng pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật. Nghị quyết số 49- NQ/TW của Bộ Chính trị Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định chủ trương  “nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Để thực hiện chủ trương này chúng ta phải có nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có việc đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ về số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư để tham gia tranh tụng, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm cơ chế tranh tụng… Yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa không có nghĩa là sau khi đã có mặt bằng cử nhân luật, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư đều phải được đào tạo chung để có kỹ năng hành nghề như nhau. Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố thực hiện chức năng buộc tội, luật sư đại diện cho bị cáo thực hiện chức năng gỡ tội, thẩm phán thực hiện chức năng xét xử. Để thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, yêu cầu về kỹ năng tranh tụng theo hướng buộc tội của kiểm sát viên khác với kỹ năng tranh tụng theo hướng gỡ tội của luật sư và khác với kỹ năng xét xử của thẩm phán.

Khác với hoạt động của thẩm phán, hoạt động của Kiểm sát viên có phạm vi rộng hơn. Hoạt động tham gia thực hành quyền công tố tại phiên tòa chỉ là một trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của kiểm sát viên. Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, kiểm sát viên phải tham gia tố tụng hình sự ngay từ khi có tin báo, tố giác tội phạm để tiến hành kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm; xem xét quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án, khởi tố hay không khởi tố bị can. Kiểm sát viên phải tham gia kiểm sát điều tra ngay từ đầu nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật để giải quyết, bảo đảm việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra đúng quy định của pháp luật. Trong tố tụng hình sự, kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm chính về những oan, sai trong quá trình bắt, giam, giữ, điều tra. Viện kiểm sát là người quyết định việc truy tố, nhân danh Nhà nước truy tố bị can trước Tòa án.

Để thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, với mục đích là bảo đảm việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia các hoạt động tư pháp, kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật để kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục, kiểm sát viên phải được trang bị các kiến thức nghiệp vụ về kiểm sát điều tra, kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự, kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, kiểm sát việc thi hành án dân sự, kiểm sát việc thi hành án hình sự, kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp… Đây là những kiến thức nghiệp vụ mang tính đặc thù của riêng kiểm sát viên.

Bản chất của việc đào tạo nghiệp vụ tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp là đào tạo nghề nghiệp cụ thể, nên để bảo đảm chất lượng công tác đào tạo việc giảng dạy phải do chính các giảng viên là những người có trình độ, kinh nghiệm nghề nghiệp thuộc quyền quản lý của các cơ quan tư pháp thực hiện. Các chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo phải luôn được cập nhật, sát với yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ và được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn mang tính nghề nghiệp và tính chính trị sâu sắc, gắn kết giữa rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ với bồi dưỡng đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ. Phương pháp đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp phải  luôn kết hợp giữa học đi đôi với hành, lý thuyết gắn thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp; có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với các cơ quan tiến hành tố tụng tại các địa phương trong quá trình xây dựng chương trình, giáo trình, cử giảng viên tham gia giảng dạy, hướng dẫn học viên thực tập nghề. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, hệ thống trường ngành của ngành Kiểm sát, Tòa án mới có thể đáp ứng tốt các yêu cầu về đào tạo nghiệp vụ để tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh kiểm sát viên, thẩm phán.

Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, việc đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, nghiệp vụ xét xử đều thực hiện theo nguyên lý: Lấy kiểm sát viên giỏi đào tạo kiểm sát viên, thẩm phán giỏi đào tạo thẩm phán.

Ở các nước có truyền thống pháp luật giống Việt Nam như Trung Quốc, Liên bang Nga, Ucraina… đang tồn tại Học viện kiểm sát viên thuộc ngành Kiểm sát, Học viện Thẩm phán thuộc ngành Tòa án. Ở Trung Quốc, ngoài Học viện kiểm sát viên Quốc gia, Học viện Thẩm phán Quốc gia, mỗi tỉnh đều có các Phân viện Học viện Kiểm sát viên Quốc gia do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh trực tiếp phụ trách, các Phân viện Học viện Thẩm phán do Chánh án hoặc Phó Chánh án tỉnh phụ trách.

Ở một số nước, Bộ Tư pháp quản lý về mặt tổ chức bộ máy và kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát (Viện Công tố) và Tòa án nên Bộ Tư pháp cũng quản lý cơ sở đào tạo nguồn để bổ nhiệm Kiểm sát viên, Thẩm phán. Tuy nhiên, Bộ Tư pháp   chỉ quản lý về mặt tổ chức và kinh phí đào tạo, còn về nội dung, chương trình, giáo trình và quá trình đào tạo đều do đội ngũ giảng viên là những kiểm sát viên (công tố viên) thẩm phán giỏi của cơ quan Viện kiểm sát (Viện công tố) và Tòa án đảm nhiệm.

Hiện có ý kiến cho rằng, giao nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ để tạo nguồn bổ nhiệm thẩm phán, kiểm sát viên cho Học viện Tư pháp sẽ tạo điều kiện cho các trường của các ngành Tòa án, Kiểm sát tập trung đẩy mạnh hoạt động bồi dưỡng theo chuyên đề, nhất là bồi dưỡng theo định kỳ bắt buộc để nâng cao chất lượng đội ngũ của mình .

Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này. Công tác bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ chung của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, của các bộ, ban, ngành chứ không phải chỉ riêng của ngành Kiểm sát, Tòa án. Với chủ trương “Xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo cán bộ tư pháp (chúng tôi nhấn mạnh – PMH)” thì Học viện Tư pháp cũng phải tập trung làm tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của mình, bao gồm các công chức hành chính – tư pháp và các chức danh bổ trợ tư pháp, như chấp hành viên, kiểm tra viên thi hành án, công chứng viên, hộ tịch viên, giám định viên tư pháp, đăng ký viên giao dịch có bảo đảm… và cán bộ lãnh đạo, quản lý của các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của Bộ Tư pháp.

Hiện nay, hầu hết các trường thuộc các Bộ, ban, ngành đều là trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Hoạt động đào tạo và hoạt động bồi dưỡng cán bộ là hai hoạt động thực hiện đồng thời trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của các ngành.  

Hoạt động đào tạo nghiệp vụ tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp và hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp có điểm chung là đều trang bị những kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Hoạt động của Kiểm sát viên, thẩm phán không chỉ là hoạt động vận dụng những kỹ năng cần thiết trong quá trình áp dụng pháp luật mà còn là hoạt động thực hiện các nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn nhất định. Vì hoạt động kiểm sát, hoạt động xét xử thực chất là hoạt động phục vụ yêu cầu chính trị nên không thể có một chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng bất biến áp dụng chung cho các giai đoạn khác nhau của quá trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, nghiệp vụ xét xử. Dù là trang bị những kiến thức cơ bản (đào tạo) hay chuyên sâu (bồi dưỡng) thì cả nội dung, chương trình đào tạo và bồi dưỡng đều phải thường xuyên được cập nhật, bổ sung cho phù hợp. Để thực hiện điều này các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ, các chuyên đề tổng kết, rút kinh nhiệm từ việc giải quyết các vụ án thực tiễn của ngành Kiểm sát và Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nội dung, chương tình đào tạo và bồi dưỡng. Do vậy, tách hoạt động đào tạo nghiệp vụ với hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, nghiệp vụ xét xử với tính cách là hai hoạt động do các cơ sở đào tạo của các ngành khác nhau thực hiện là không phù hợp.

Về mặt quản lý, nếu một chủ thể vừa làm nhiệm vụ đào tạo những kiến thức cơ bản, vừa làm nhiệm vụ bồi dưỡng những kiến thức chuyên sâu sẽ biết được liều lượng cần đào tạo những kiến thức cơ bản gì cho người mới vào nghề và mức độ bồi dưỡng những kiến thức chuyên sâu gì cho đối tượng trước đây mình đã đào tạo. Trên cơ sở đó, thường xuyên sửa đổi, bổ sung nội dung, chương trình đào tạo và bồi dưỡng cho phù hợp. Như vậy, gắn đào tạo với bồi dưỡng trong cùng một cơ sở đào tạo sẽ mang lại hiệu quả tích cực hơn so với việc tách đào tạo và bồi dưỡng ra để thực hiện ở hai cơ sở đào tạo khác nhau.

 Mặt khác, công tác đào tạo, bồi dưỡng luôn gắn với công tác tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức. Đây là một quy trình thống nhất, liên hoàn, nằm trong quy hoạch, kế hoạch, chiến lược về phát triển nguồn nhân lực của mỗi ngành nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng ngành. Mỗi ngành phải chủ động và chịu trách nhiệm về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của ngành mình. Trong quá trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính, việc đề cao trách nhiệm và tính chủ động của các cơ quan tư pháp trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, phù hợp với yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ các ngành và yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế là cần thiết và mang tính khách quan.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi