Những vấn đề đặt ra từ thực tế giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Giải thích pháp luật là công việc tất yếu trong đời sống pháp lý cùa một quốc gia. Đó là công việc bát buộc, không thế xem nhẹ, nảy sinh tất yếu trong quá trình thực hiện pháp luật, bởi mọi quy tắc xử sự và quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh luôn có một khoảng cách cho dù là rất nhỏ do ngôn ngữ biểu đạt quy tắc không thể tuyệt đối, do hiện thực của đời sống luôn biến động, và bởi mọi quy tắc xử sự đều quan hệ tới trật tự xã hội, tới bổn phận và quyền lợi của người dân, tới trách nhiệm của Nhà nước.

Từ thực tế hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta trên 60 năm qua, nhận thấy, Việt Nam chưa có một truyền thống mạnh về giải thích pháp luật. Để xây dựng được một cơ chế hiệu quả về giải thích pháp luật cần phải tiến hành đồng bộ nhiều công việc, trong đó, nhận thức được những tồn tại trong công tác giái thích pháp luật nước nhà là một công việc cực kỳ quan trọng, không thể né tránh.

1. Vấn đề không tưong thích giũa lực lượng giải thích pháp luật và nhu cầu giải thích pháp luật

Việc Việt Nam quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ƯBTVQH) là chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật như hiện nay không phải là không có lý do của nó, lý do này có nguồn gốc từ cách nhận thức, cách tổ chức và vận hành quyền lực của Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, đây nhất định không phải là chủ thể thích hợp nhất cho thẩm quvền giải thích pháp luật, đặc biệt trong giai đoạn nước ta đang tiến hành cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền như hiện nay.

“UBTVQH thời gian qua mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn không thể thực hiện chức năng giải thích pháp luật một cách hiệu quả. Điều này có thể lý giải bởi các lý do sau:

Thứ nhất, UBTVQH không có các chất liệu đời sống: từ phía người dân để cân bằng với các quy phạm hiến định, pháp định từ phía cơ quan nhà nước.

Thứ hai, họ nhìn các quy định hiến định và pháp định dưới con mắt của người trong cuộc chứ không phải dưới con mắt của chủ thể phản biện, chủ thể đánh giá.

Thứ ba, tư cách của họ không hoàn toàn độc lập với các chủ thể lập pháp, lập hiến, bởi vì họ là chủ thể đắc lực tham gia vào quá trình lập pháp, lập hiến đó [1] .

Và, thứ tư, quan trọng hơn, các yêu cầu về giải thích pháp luật không đến với họ, một phần vì họ không nhận thấy, phần khác vì đã luôn có các chủ thể khác bằng nhiều cách thức, thực hiện công việc giải thích pháp luật trong thực tế.

Đây thực chất là sự phá vỡ mối quan hệ giữa chủ thể giải thích pháp luật và nhu cầu giải thích pháp luật. Chủ thể được trao quyền hoặc không phù hợp, hoặc không tích cực hoạt động, thì thực tiễn tự đáp ứng nhu cầu giải thích pháp luật âu cũng là một tất yếu.

Việc giao cho chủ thể nào thẩm quyền giải thích pháp luật là điều không khó. nhưng chủ thể nào giành và giữ được quyền năng này là điều không dễ. Không khó hiểu khi giai thích pháp luật ở đa số các quốc gia trên thế giới giao cho tòa án, tòa án giải thích pháp luật là quyền và nghĩa vụ đương nhiên khi tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật. Cũng không khó hiểu khi có những quốc gia giao đồng thời quyền giải thích pháp luật cho các chủ thể khác nhau, trong đố đề cao hơn vai trò quyết định của tòa án đối với các giải thích gây tranh cãi… Vấn đề là phải nhận thức được hoàn cảnh và thực lực của bản thân quốc gia mình để có những quy định tương ứng và khi cần phải thay đổi cho phù hợp.

2. Vấn đề không rõ ràng về ranh giới giữa giải thích pháp luật và hướng dẫn thi hành luật.

Hiện nay, “giải thích pháp luật” và “hướng dẫn chi tiết” để áp dụng pháp luật ở nước ta đang có sự lẫn lộn, pha tạp, không rõ ràng về ranh giới.

Giải thích pháp luật chỉ nên hiểu là hoạt động làm sáng tỏ, rõ ràng những quy định của pháp luật còn chưa rõ ràng, tức là khi có vướng mắc từ quá trình áp dụng pháp luật, chú không nên gộp cả việc hướng dẫn, quy định chi tiết pháp luật vào, bởi mục đích của cả hai hoạt động  này đề là nhằm làm cho pháp luật được thực thi và thực thi có hiệu quả trong thực tế, nhưng chúng lại có những điểm khác nhau khá cơ bản.

Quy định chi tiết là việc cơ quan có thẩm quyền được giao ban hành những văn bản pháp luật có nội dung cụ thể thóa, chi tiết hóa các văn bản pháp luật có hiệu lực cao hơn, để các văn bản pháp luật đó có đủ điều kiện thực thi trong cuộc sống… Hoạt động này có đặc trưng là chỉ có chủ thể được giao quyền này, chủ thể khác không có. Đây thực chất là hoạt động “lập pháp bổ sung”, bởi các quy định chi tiết, hướng dẫn cũng đều có tính quy pham, tức là đều có phạm vu và sự chi phối giống y nhu văn bản “mẹ” (ở đây chưa bạn đến nội dung và chất lượng cụ thể của các văn bản hwongs dẫn, quy định chi tiết ), và các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của các văn bản pháp luạt đó “chỉ được làm thế này mà không được làm thế khác” (tất nhiên về lý thuyết vẫn có một nguyên tắc là nếu có sự không thống nhất giữa các văn bản pháp luật thì văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ có hiệu lực áp dụng…) Quy định chi tết còn có một đặc trưng khá nổi bật là tính thời điểm, có thể lúc này, do các yêu cầu này nên quy định như thế này, sang thời điểm khác, do các yêu cầu khác lại quy định khác, điều này được chứng minh bằng sự thay thế, hủy bỏ các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết trong thực tế…

Giải thích pháp luật là việc làm sáng tỏ tinh thần, nội dung những quy định pháp luật còn chưa rõ về mặt ngôn từ, hoặc khi có sự xung đột, mâu thuẫn trong quá trình hiểu và áp dụng pháp luật. “Thông thường nếu ngôn ngữ của một điều khoản luật đã đủ trong sáng và đơn nghĩa thì sẽ ít có khả năng cần giải thích điều khoản đó” [2] . Yếu tó chưa rõ như đã đề cập ở trên có thể là do bản thân các từ ngữ chứa đựng các quy định pháp luật chưa đủ trong sáng, chưa đủ rõ ràng; chưa rõ cũng có thể là đồng thời gây ra những cách hiểu khác nhau về nội dung của quy định pháp luật đó, làm khó khăn cho việc hiểu thống nhất cũng như việc thực hiện trong thực tế. Việc giải thích này có bản chất là, dù chủ thể nào giải thích đi chăng nữa cũng phải gặp nhau ở sự hợp lý, ở sự chuẩn xác của vấn đề này thì hiểu nó như thế này, có muốn làm khác đi cũng không được. Cái đáng bàn là giải thích nào được cho là giải thích mang tính phán quyết hay giải thích chính thức mà thôi.

Do vậy, nếu đánh đồng giải thích pháp luật và hướng dẫn, quy định chi tiết sẽ làm mờ hoạt động giải thích pháp luật, làm lẫn lộn về chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật đã được quy định. Tuy nhiên, thay đổi thực tế này là điều khó, bởi bản thân các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết xét ở một góc độ nào đó, cũng ít nhiều chứa đựng các yếu tố mang tính diễn giải, giải thích.

3. Vấn đề cơ chế bảo hiến

Việt Nam chưa có một cơ chế bảo hiến thực sự, có thế làm "cánh tay phải" cho giải thích pháp luật. Theo nghĩa đơn giản nhất, bảo hiến là một cơ chế mà ở đó công dân và các tồ chức phi nhà nước có quyền yêu cầu một cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của một điều luật, một đạo luật khi công dân và tổ chức đó cho rằng điều luật đó, văn bản đó là vi phạm quyền và lợi ích hiến định của họ. Nói rộng ra, đối tượng của bảo hiến có thể là một văn bản quy phạm pháp luật, một quvết định, một hành vi của cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền [3] .

Nhận xét về một cơ chế bảo hiến theo đúng nghĩa của nó ở Việt Nam, GS.TS. Nguyễn Đăng Dung cho rằng: "Ở Việt Nam. hoạt động bảo hiến theo nghĩa hẹp nhất như đã phân tích vẫn chưa có cho đến hiện nay. Mà chi có bảo hiến ở nghĩa rất rộng. Đó là các hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước cấp trên đối với việc tuân thủ hiến pháp của các cơ quan nhà nước cấp dưới, cho đến sự tuân thủ hiến pháp của từng người dân cũng như các tố chức xã hội trực thuộc. Chúng ta vẫn clura thấy mội cách sâu sắc rằng, hiến pháp chính là bản văn hạn chế, chế ước quyền lực nhà nước. Theo quan điểm của riêng tôi, đấy không phải là thể hiện của hoại động bảo hiến, theo như quan điểm của nhiều người hiện nay, mà chi là góc nhỏ thể hiện cơ chế tập trung bao cấp của hệ thống lý luận các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Sở dĩ có hiện tượng này là vì chúng ta có hiến pháp, nhưng mà lại không có phân quyền, không có quan điểm của chủ nghĩa hiến pháp, không có tòa án độc lập, thì khó có thể có một cơ chể bảo hiến theo nghĩa đầy đủ nhất của nó" [4] .

Việt Nam thiếu một cơ chế bảo hiến nên hoạt động giải thích pháp luật chưa có sự phát triển và vận hành hợp lý. Vi, một trong những công việc mà hoạt động bảo hiến phải thực hiện đó là giải thích pháp luật, giải thích các chính sách của Nhà nước. Giải thích pháp luật đế xác định xem hành vi của một chủ thể, cá nhân đại diện cho công quvền có vi phạm hiến pháp hay không, giải thích pháp luật để xem xét một văn bản quy phạm pháp luật, một quyết định áp dụng liên quan có vi phạm hiến pháp hay không. Giải thích các chính sách của Nhà nước ở một góc độ nào đó cũng chính là hoạt động giải thích pháp luật. Do đó, nếu có một cơ che bảo hiến hợp lý và vận hành hiệu quả, chắc chắn hoạt động giải thích pháp luật sẽ có cơ chế để vận hành và phát triển.

4. Vấn đề xác định đối tượng của giái thích pháp luật chưa thỏa đáng

Theo các quy định hiện hành, đối tượng của giải thích pháp luật là hiến pháp, luật, pháp lệnh (Điều 91 Hiến pháp 1992 và Điều 84 Luật Ban hành văn bán quy phạm pháp luật năm 2008).

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất, do Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất han hành, theo một trình tự, thủ tục đặc biệt. Việc giải thích hiến pháp là rất cần thiết và quan trọng. Giái thích hiến pháp để hiến pháp phát huy hiệu lực tối đa trong cuộc sống và cũng chính là để chống lại sự vi phạm hiến pháp. Giải thích hiến pháp cần phải có quy trình, thủ tục tương xứng, với một chủ thể hợp lý, nó cần phải có quy định riêng, không thể đánh đồng và trộn lẫn với các đối tượng khác.

Luật, pháp lệnh là hai loại văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn các văn bản quy phạm còn lại, chiếm số lượng lớn, dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo từng lĩnh vực nhất định. Ớ Việt Nam, không ít các luật, pháp lệnh có các quy định rất chung chung và mang tính nguyên tẳc. Yêu cầu giái thích và việc giải thích hai loại văn bản quy phạm này là cần thiết.

Điều cần phải xét đến ở đây là sự khôns hợp lý ngay trong nhận thức: Các quy định trong hiến pháp, luật, pháp lệnh đã được quan tâm giải thích khi cần thiết, trong khi đó, các quy định ở những văn bản quy phạm pháp luật khác lại bị lãng quên? Trong đời sống thường nhật, những khúc mắc trong quan hệ, trước sau còn phải giải thích cho thông tỏ, tường tận huống chi các các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành ra với mục đích để điều chỉnh và định hướng hành vi cho tất cả mọi người?

Về vấn đề này, hiện nay có ý kiến cho rằng đối tượng của hoạt động giải thích pháp luật cần phải được mở rộng, tức là bao gồm tất cả các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, trong đó đặc biệt quan tâm tới các nghị định của Chính phủ, thông tư của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, số lượng các văn bản pháp luật này trong thực tế là rất lớn, với nội dung phong phú, liên quan đến hầu hết các mặt hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội, và các vướng mắc cngx chủ yếu từ việc hiểu, thực thi các văn bản quy phạm pháp luật này mà ra. Nhất là ở nước ta, việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật lại có tiền lệ là bắt đầu từ các văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn.

Các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương (nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chi thị của ủy ban nhân dân) bên cạnh những thành tựu nhất định thì nhóm văn bản này hiện nay được đánh giá là có một số tồn tại: về nội dung văn bản, số lượng văn bản được ban hành có nội dung trái pháp luật, trái với văn bản của cấp trên chiếm số lượng chủ yếu trong số các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật; về quy trình, kỹ thuật xây dựng văn bản của chính quyền địa phương còn nhiều bất cập (nhiều văn bản ban hành không đúng thẩm quyền, ngôn ngữ văn bản, chất lượng văn bản còn yếu); và nhiều văn bản pháp luật của chính quyền địa phương còn thiếu tính thống nhất, đồng bộ...

Trước thực trạng này, nhu cầu giải thích đối với các văn bản pháp luật của chính quyền địa phương là rất lớn, nhất là trong giai đoạn hiện nay.

5. Vấn đề thiếu cơ chế kiểm soát đối với hoạt động giái thích pháp luật

Hiện tại, không có một cơ chế kiểm soát đối với hoạt động giải thích pháp luật, vấn đề này bắt nguồn từ một hạn chế lớn hơn, đó là việc thiếu một cơ chế đúng nghĩa cho hoại động giải thích pháp luật. Việc thiếu một cơ chế pháp lý đầy đủ cho hoạt động giải thích pháp luật dẫn đến thiếu cơ chế kiểm soát đối với giải thích pháp luật là có căn nguyên. Chính đặc thù hệ thống chính trị cua Việt Nam đã đặt nhiệm vụ giải thích pháp luật ở Việt Nam vào quyền lực chính trị, gắn liền và thể hiện nhiệm vụ chính trị. Việc giao cho UBTVQH giải thích pháp luật là biểu hiện tính chính trị của hoạt động này. Do đó cũng có quan điểm cho rằng, hoạt động giải thích pháp luật cứ nên giữ nguyên trạng vì việc xây dựng, áp dụng pháp luật vẫn diễn ra thường nhật và nhu cầu giải thích pháp luật không có gì gấp gáp, việc kiểm soát nó càng chưa được đặt ra, vì nó đã được bảo hộ từ chính trị.

Đành rằng, hoạt động giải thích pháp luật của bất cứ quốc gia nào cũng đều mang bóng dáng chính trị, nó phán ánh cách thức tổ chức quyền lực và bảo vệ các nhóm lợi ích trong xã hội. Nhưng cuối cùng, phải khảng định, giải thích pháp luật là hoạt động pháp lý, hoạt động pháp lý này được tiếp nối sau một hoạt động pháp lý quan trọng khác đó là lập pháp. Do vậy, đã là một hoạt động pháp lý, do các chủ thế pháp lý tiến hành thì vấn đề kiểm soát đối với hoạt động này là tất yếu. Kiểm soát để cho giải thích pháp luật được thực hiện đúng, thực hiện tốt, và kiểm soát để nếu có vi phạm khi giải thích thì phái chịu trách nhiệm pháp lý về vi phạm đó.

Thiếu một cơ chế kiểm soát thích đáng cho hoạt động giải thích pháp luật là nguyên nhân lớn làm cho hoạt động này không phát triển và có nhiều vấn đề vướng mắc như hiện nay. Trách nhiệm trong giải thích pháp luật không hẳn chi theo hướng là những hậu quả bất lợi mà chủ thể giải thích pháp luật nếu có hành vi vi phạm khi giải thích sẽ phải gánh chịu, mà nên tiếp cận rộng hơn, nó còn phải gồm cả trách nhiệm đối với thể chế giải thích pháp luât, cả trách nhiệm đối với việc thiếu một môi trường thuận lợi cho hoạt động này.


[1] Văn phòng Quốc hội, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế bảo hiến, Nxb, Thời đại – 2009, tr.21.

[2] Văn phòng Quốc hội, Giải thích pháp luật – môt số vấn đề lý luận và thực tiễn ( Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại Hà Nội, tháng 2 -2008), Hà Nội -2009, tr.40.

[3] Văn phòng Quốc hội, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về bảo hiến, Nxb, Thời đại – 2009, tr.14.

[4] Văn phòng Quốc hội, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về bảo hiến, Nxb, Thời đại – 2009, tr.11.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi