Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo
1. Tố cáo và cơ chế bảo vệ người tố cáo

1.1. Tố cáo

Tố cáo có từ xa xưa và gắn liền với sự phát triển của các nhà nước. Tố cáo được quan niệm khác nhau tuỳ theo mức độ, phạm vi, đối tượng tố cáo. Về phương diện xã hội thì tố cáo thể hiện sự bất bình của người này đối với hành vi của người khác và báo cho cơ quan, tổ chức và người khác biết để có thái độ, biện pháp giải quyết. Về phương diện chính trị – pháp lý thì tố cáo là quyền của công dân, là phương thức để công dân giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân. Việc công dân đứng lên cất cao tiếng nói vạch trần những hành vi vi phạm pháp luật, hành vi tiêu cực, hành vi tham nhũng được Nhà nước ủng hộ và bảo vệ. Tố cáo phản ánh hoạt động tiêu cực, bất ổn của bộ máy nhà nước, cũng như vi phạm của cán bộ, nhân viên nhà nước hay của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, là nguồn thông tin quan trọng được các cơ quan nhà nước tiếp nhận, xử lý.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Thanh Hóa năm 1999, tố cáo là “báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó” hay là “vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn”1. Nghiên cứu thực tế công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cho thấy, tố cáo phát sinh khi một người cho rằng lợi ích của Nhà nước, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức đã bị xâm hại hoặc có thể bị xâm hại và người đó báo với cơ quan nhà nước. Tố cáo là hành động nhằm bảo vệ và ngăn chặn khả năng vi phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định, tố cáo là việc công dân, theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Chủ thể thực hiện quyền tố cáo là công dân. Đối tượng của quyền tố cáo rất rộng, bao gồm tất cả những hành vi vi phạm pháp luật, do bất kỳ người nào thực hiện.

1.2. Cơ chế bảo vệ người tố cáo

Khi nói đến cơ chế bảo vệ người tố cáo, nhiều ý kiến thường đề cập đến thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính các cấp trong việc bảo vệ người tố cáo. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng, cơ chế bảo vệ người tố cáo là tất cả các vấn đề về cách thức tổ chức, phương pháp thực hiện, trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền… trong việc bảo vệ người tố cáo. Trong quá trình giải quyết các vụ việc tố cáo, những thông tin do người tố cáo cung cấp có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần giúp các cơ quan chức năng phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là tội phạm. Với nghĩa vụ công dân, những người tố cáo đã tích cực phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết tố cáo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong nhiều vụ việc, người tố cáo tỏ ra e ngại, hợp tác không tích cực với các cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xác minh, xử lý vụ việc liên quan đến tố cáo. Căn nguyên của tình trạng trên không chỉ do chủ quan của người tố cáo mà trước hết là do những thiếu sót, bất cập của chế định pháp lý hiện hành về bảo vệ người tố cáo.

Thực tế không phải lúc nào cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng nhận được tố cáo với đầy đủ thông tin về họ, tên, địa chỉ người tố cáo. Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản là do người tố cáo sợ bị trả thù, trù dập nên đã không dám ghi tên, địa chỉ thật của mình khi làm đơn tố cáo. Chính vì vậy mà trong quá trình xây dựng Luật Phòng, chống tham nhũng, có đại biểu Quốc hội cho rằng, việc quy định người tố cáo hành vi tham nhũng phải ghi rõ họ tên, địa chỉ có thể sẽ không khuyến khích người dân tham gia vào công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng. Bởi lẽ, thường chỉ người trong cơ quan mới hiểu rõ nội bộ, thủ trưởng có tham nhũng hay không; nếu phát hiện thủ trưởng tham nhũng thì dù nhân viên có bất bình đến đâu cũng không dám đứng đơn tố cáo vì sợ bị trù dập.

Như vậy, nói về cơ chế bảo vệ người tố cáo cũng chính là nói tới những cách thức tổ chức, trình tự, thủ tục thực hiện; thẩm quyền, trách nhiệm bảo vệ; sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong cả hệ thống chính trị để bảo vệ người đã thực hiện hành vi tố cáo người khác vi phạm pháp luật trước sự trả thù hoặc trù dập của người bị tố cáo hoặc người khác.

2. Yêu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật về bảo vệ người tố cáo

2.1. Yêu cầu bảo vệ người tố cáo

Điều 1 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định: “Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”. Từ đó có thể hiểu, người tố cáo là người biết được hành vi vi phạm pháp luật của người khác đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện và trình báo với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về những gì mình biết. Người tố cáo cần phải được áp dụng các biện pháp bảo vệ, bởi lẽ những người này trước hết là công dân; do đó, họ có quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Đây là những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật khác. Mỗi công dân trong xã hội đương nhiên có quyền được bảo vệ trước nguy cơ xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hơn nữa, người tố cáo là công dân có vai trò đặc biệt: họ là người cộng tác, phối hợp với cơ quan nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật. Họ cung cấp các thông tin góp phần giải quyết đúng đắn vụ việc bị tố cáo. Vì vậy, họ có nguy cơ bị người có hành vi vi phạm pháp luật đe dọa, xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản với ý đồ nhằm ngăn cản, trả thù do sự cộng tác, phối hợp đó. Mặt khác, xuất phát từ bản chất của quan hệ tố cáo, người tố cáo là những người yếu thế hơn người bị tố cáo (nhất là tố cáo các hành vi tham nhũng và trên thực tế chủ yếu là loại tố cáo này) -thường là người có chức vụ, quyền hạn – nên các hình thức trả thù cũng rất tinh vi, khó lường. Ngoài ra, để thu thập được đầy đủ, chính xác các thông tin từ người tố cáo, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đảm bảo an toàn cho họ. Đó cũng là cách Nhà nước thể hiện rõ sức mạnh và trách nhiệm của mình đối với công dân nói chung cũng như đẩy mạnh tính tích cực của cộng đồng, ngăn chặn ý đồ gây khó khăn, cản trở, trả thù người tố cáo. Bảo vệ người tố cáo cũng góp phần hạn chế hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ kỷ cương phép nước.

2.2. Quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc giải quyết hiệu quả các khiếu nại, tố cáo nói chung, việc giải quyết tố cáo nói riêng và coi việc thực hiện quyền tố cáo là phương thức thể hiện dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các vi phạm pháp luật khác. Xuất phát từ quan điểm đó, ở mỗi giai đoạn phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đều có các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó có đề cập đến vấn đề bảo vệ người tố cáo.

Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước ta tuy chưa có điều khoản cụ thể nào quy định về quyền tố cáo của công dân, song cơ chế dân chủ mà Hiến pháp tạo dựng đã là nền tảng cơ bản hình thành quyền tố cáo của công dân trên thực tế.

Hiến pháp năm 1959 lần đầu tiên quy định quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều 29 “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những hành vi vi phạm của nhân viên cơ quan nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường”. Bắt đầu từ đây, khái niệm tố cáo đã được chính thức sử dụng trong văn bản pháp luật.

Đến Hiến pháp năm 1980, quyền tố cáo của công dân tiếp tục được củng cố và phát triển hơn trước. Điều 73 quy định “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

Các điều khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng.

Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường.

Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo”.

Như vậy, người khiếu nại, tố cáo đã được bảo vệ theo Hiến pháp.

Trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, quyền tố cáo của công dân đã tiếp tục được hoàn thiện và có bước phát triển mới. Điều 74 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được xử lý kịp thời nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.

Như vậy, Hiến pháp không chỉ tuyên bố về quyền tố cáo của công dân mà còn có những quy định nhằm bảo đảm quyền. Những đảm bảo pháp lý đối với quyền tố cáo và người tố cáo khẳng định tính chất đặc biệt quan trọng của vấn đề, đồng thời khẳng định ý chí của Nhà nước trong việc xử lý những người có hành vi cản trở việc thực hiện quyền tố cáo cũng như trả thù người tố cáo.

Để thể chế hóa quyền tố cáo Hiến định, nhiều văn bản pháp luật được ban hành, như Pháp lệnh Quy định việc xét và giải quyết các khiếu tố, tố cáo của công dân năm 1981; Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991; Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2004, 2005) và các văn bản hướng dẫn. Sự ra đời của Luật Khiếu nại, tố cáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân.

Có thể thấy tinh thần bảo vệ người tố cáo qua các văn bản sau:

Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta quy định: người nào có một trong các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Người nào trả thù người khiếu nại, tố cáo thì bị cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Luật Khiếu nại, tố cáo nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; đe dọa, trả thù, trù dập người khiếu nại, tố cáo; tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo; cố tình không giải quyết hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo trái pháp luật; bao che người bị khiếu nại, tố cáo; can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc người khác khiếu nại, tố cáo sai sự thật; đe dọa, xúc phạm người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo; lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để xuyên tạc, vu khống, gây rối trật tự (Điều 16).

Người tố cáo có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình; yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù (khoản 1 Điều 57 Luật Khiếu nại, tố cáo). Cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo; không được tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và các thông tin khác có hại cho người tố cáo (Điều 72 Luật Khiếu nại, tố cáo).

Khi công dân đến trụ sở tiếp công dân của các cơ quan nhà nước thì người tiếp công dân có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo khi người tố cáo yêu cầu (Điều 77 Luật Khiếu nại, tố cáo).

Ngoài ra, Luật Khiếu nại, tố cáo cũng xác định, nếu người giải quyết khiếu nại, tố cáo có một trong các hành vi: thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; gây phiền hà, sách nhiễu, cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo… hoặc đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; bao che cho người bị khiếu nại, tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 96).

Để thực hiện việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thì một trong những vấn đề quan trọng là phải xử lý có hiệu quả các thông tin liên quan đến vụ việc tham nhũng, nhất là xử lý các tố cáo về hành vi tham nhũng. Xuất phát từ lý do đó mà Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có chức vụ, quyền hạn có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý kịp thời báo cáo, tố giác, tố cáo và thông tin khác về hành vi tham nhũng; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo hành vi tham nhũng (Điều 5). Luật này liệt kê các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng (Điều 10); đồng thời cũng đề cập tới trách nhiệm của “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lý theo thẩm quyền, giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng đồng thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu” (Khoản 2, Điều 65).

Sau khi Luật Khiếu nại, tố cáo được ban hành, Chính phủ đã có văn bản hướng dẫn chi tiết các quy định của Luật này, theo Điều 38 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 thì trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan nhà nước các cấp, các ngành nhận được thông tin người tố cáo bị đe dọa, trù dập, trả thù thì phải có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan làm rõ, có biện pháp bảo vệ người tố cáo, ngăn chặn và đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật người có hành vi đe dọa, trù dập, trả thù người tố cáo.

Có thể nói, pháp luật đã có nhiều quy định nhằm ngăn chặn các hành vi trả thù người tố cáo, song cho đến nay, vẫn chưa có những văn bản nêu cụ thể cơ chế và các biện pháp bảo vệ người tố cáo trong trường hợp họ bị trả thù, trù dập. Điều này có thể làm cho người tố cáo lo ngại, không dám thực hiện hành vi tố cáo khi phát hiện có vi phạm pháp luật và do vậy, sẽ làm giảm hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống vi phạm pháp luật nói chung và phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm liên quan đến tham nhũng và chức vụ, quyền hạn. Tại buổi vinh danh 88 công dân tiêu biểu chống tham nhũng năm 2009 do Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tổ chức, hầu như những người được vinh danh đều nói từng bị trù dập, đe dọa… Họ là những người có sự kiên trì và lòng dũng cảm, chấp nhận cả sự trả thù nghiệt ngã để đấu tranh vì công lý và lẽ phải. Đến nay, dù chưa có cơ quan, đơn vị nào có báo cáo hoặc thống kê chính thức về tình hình đe dọa, xâm hại đối với người tố cáo nhưng qua nghiên cứu một số vụ án xảy ra, có thể xác nhận những tác động của người vi phạm hoặc thân nhân của họ như mua chuộc, đe dọa, gây thiệt hại là có thật và là nguyên nhân dẫn đến một số vụ án hình sự không được làm rõ hoặc không được xử lý triệt để và dẫn đến các kết quả tiêu cực khác. Trong một số vụ việc, với thủ đoạn che giấu hành vi vi phạm bằng cách mua chuộc, đe dọa và thực hiện các hành vi bạo lực, người vi phạm đã khiến công dân hoang mang, lo sợ, không dám tố giác, tố cáo dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật không được xử lý triệt để, các cơ quan có thẩm quyền ra các quyết định không chính xác so với thực tế của vụ việc. Mặc dù các cơ quan có thẩm quyền đều biết mình có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo khỏi sự đe dọa, trả thù, trù dập từ phía người vi phạm pháp luật hoặc thân nhân của họ, nhưng do chưa có những quy định cụ thể về trách nhiệm, thủ tục, biện pháp và cơ sở vật chất, nhân lực phục vụ cho công tác này, nên cơ quan còn lúng túng trong việc quyết định và triển khai các biện pháp bảo vệ. Tất cả những điều này chứng tỏ rằng, cơ chế bảo vệ người tố cáo của chúng ta trên thực tế còn nhiều bất cập, không phát huy hiệu quả.

3. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tố cáo

Để củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, làm cho mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng gắn bó bền chặt thì việc bảo vệ người tố cáo cần được đặc biệt quan tâm, phải khả thi trong thực tiễn.

Cần thiết phải quy định cụ thể cơ chế bảo vệ người tố cáo phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của nước ta hiện nay trong Luật Tố cáo. Việc sớm xây dựng một chế định pháp lý hoàn chỉnh bảo vệ người tố cáo đảm bảo cơ sở pháp lý “cần và đủ” cho thực hiện công tác này trên thực tế. Chế định về bảo vệ người tố cáo cần phải được xây dựng trong một đạo luật là hợp lý nhất, bởi luật là văn bản có giá trị pháp lý cao, công khai, minh bạch, phạm vi điều chỉnh rộng, bắt buộc thi hành đối với mọi tổ chức và công dân. Hơn nữa, theo quy định hiện hành thì những gì liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đều phải được thể hiện bằng luật. Việc bảo vệ người tố cáo là vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Công tác bảo vệ người tố cáo là công việc hết sức khó khăn và phức tạp, kinh phí lớn, đòi hỏi sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan có thẩm quyền, địa phương có liên quan và sự quan tâm của toàn xã hội. Do đó, chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền quyết định những vấn đề này.

Bảo vệ người tố cáo cần được thực hiện thông qua một cơ chế hoạt động cụ thể của các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giúp cho người tố cáo không bị mua chuộc, khống chế, bị đe dọa, trả thù để họ có thái độ hợp tác tích cực, khai báo khách quan, trung thực và chính xác với cơ quan, người có thẩm quyền. Các hoạt động đó phải dựa trên cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc và khả thi. Mục đích của chế định là quy định rõ thủ tục tiến hành, quyền và trách nhiệm cụ thể, rõ ràng của các chủ thể tham gia trong thực hiện bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người tố cáo và các quyền, lợi ích vật chất, tinh thần khác cho người tố cáo. Chế định bảo vệ người tố cáo xác định rõ các nội dung sau:

Trước hết, khẳng định dứt khoát phải bảo vệ cho người tố cáo dù họ có yêu cầu hay không để đề phòng sự chủ quan, sơ suất hoặc đổ lỗi cho nhau của cả người tố cáo và cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong giải quyết tố cáo.

Trách nhiệm bảo vệ người tố cáo thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đó là những cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố cáo, chính quyền và công an các cấp, có thể cả tổ chức công đoàn các cấp. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội cũng như trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ người tố cáo. Để bảo vệ người tố cáo có trường hợp phải sử dụng lực lượng phối hợp của nhiều ngành, nhiều tổ chức, thậm chí cả những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn.

Đối tượng bảo vệ bao gồm: người tố cáo – kể cả những người cung cấp thông tin, tài liệu khác góp phần giải quyết vụ việc tố cáo; người thân thích của những người này.

Phạm vi áp dụng biện pháp bảo vệ là khi tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người được bảo vệ có nguy cơ bị người vi phạm hoặc thân nhân của họ tấn công hoặc xâm hại và việc áp dụng các biện pháp bảo vệ được thực hiện trong suốt thời gian mà nguy cơ đó là thực tế. Nguy cơ tấn công, xâm hại được hiểu là có thể đã có sự tấn công hoặc xâm hại trên thực tế; hoặc tuy mới chỉ là sự đe dọa tấn công hoặc xâm hại, nhưng mức độ nguy hiểm là đáng kể, cần có biện pháp bảo vệ kịp thời để bảo đảm an toàn cho người được bảo vệ.

Lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác bảo vệ phải được quy định, làm cơ sở cho việc tổ chức công tác bảo vệ và quyết toán ngân sách.

Các biện pháp cụ thể để bảo vệ người tố cáo bao gồm: biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp kỹ thuật. Pháp luật cần quy định cụ thể một số biện pháp đặc biệt khẩn cấp tạm thời để áp dụng trong trường hợp cần thiết.

Trong trường hợp nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền không bảo vệ được người đi tố cáo mà bản thân họ bị thiệt hại thì Nhà nước nên có chính sách đối với họ nhằm bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, phải có chế tài đối với hành vi trả thù, trù dập người tố cáo, trong đó cần lưu ý hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật, xử lý hình sự đối với những người có hành vi này.

Song song với các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo, cần tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn, đấu tranh để bảo vệ quyền lao động của các đoàn viên; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, các tổ chức xã hội dân sự… Một xã hội dân chủ mạnh là nhân tố vô cùng cần thiết để bảo vệ người tố cáo.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi