Chất lượng đào tạo cử nhân luật và quy định giảng viên luật không được làm luật sư

Vũ Văn Huân - Văn phòng Quốc hội

Sau 5 năm thi hành Luật Luật sư, đội ngũ luật sư đã phát triển nhanh về số lượng, với hơn 7.072 luật sư và gần 3.500 người tập sự hành nghề luật sư, hoạt động trong 2.831 tổ chức hành nghề luật sư, trong đó số đã qua đào tạo nghề luật sư chiếm hơn 75% tổng số luật sư [1]. Tuy vậy, tổ chức và hoạt động luật sư ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Chất lượng của đội ngũ luật sư, tuy đã được nâng lên một bước, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là chất lượng đào tạo cử nhân luật và đào tạo nghề luật sư nước ta còn hạn chế; chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Do chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng, kỹ năng tư vấn pháp luật trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại nên nhiều luật sư còn yếu về trình độ, thiếu kinh nghiệm khi tham gia tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật[2]. Trách nhiệm này phần lớn thuộc về những người thầy và nhà trường. Nhưng nhà trường và người thầy quyết định như thế nào để chương trình và nội dung đào tạo phù hợp với thực tiễn, đảm bảo chất lượng tốt cho các “sản phẩm đặc biệt” của mình, khi họ không được hành nghề luật sư - đồng nghĩa với việc, sự sinh động của đời sống thực tiễn pháp lý mất đi một kênh “đồng vọng” trực tiếp đến người thầy và nhà trường?

Học không hành và giảng bài xa rời thực tiễn

Cầm tấm bằng tốt nghiệp đại học luật, các cử nhân thường hăm hở đi tìm việc và họ sớm thất vọng nhận ra rằng, những thứ học được trong giảng đường hóa ra là rất xa lạ với những đòi hỏicủa nhà tuyển dụng. Nhà tuyển dụng hầu như không cần đến những mớ khái niệm, phạm trù, nguyên tắc, đặc điểm... mà sinh viên học được trong nhà trường. Họ cần đến kỹ năng thực hành, kiến thức về sự vận hành của luật pháp trong thực tiễn chứ không cần sự trích dẫn các văn bản quy phạm pháp luật (cái này họ tra cứu được). Điều quan trọng nhất trước một vụ tranh chấp, thân chủ cần biết được trong thực tiễn tòa án sẽ phán quyết thế nào chứ không phải là kết quả sẽ ra sao nếu vận dụng các nguyên tắc luật học chung chung.

       Sự khập khiễng giữa đào tạo và yêu cầu thực tế đang là căn bệnh trầm kha của giáo dục nước nhà, nhất là trong đào tạo chuyên ngành luật. Nhưng nhìn vào thực tế đào tạo, căn bệnh này lại là một hệ quả tất yếu.

 Sự thiếu hụt các kiến thức, kỹ năng của sinh viên bắt đầu từ sự thiếu hụt của người thầy.Trong đào tạo nghề luật, một ông giáo sư chưa chắc đã nhiều kinh nghiệm bằng một ông thẩm phán bốn năm... họ xử lý vấn đề còn tốt hơn ông giáo sư[3]. Điều này rất đúng, đơn giản vì ông giáo sư không được trao cơ hội để tích lũy kinh nghiệm như một luật sư, một thẩm phán, một kiểm sát viên... Khi không có sự tiếp xúc với các vụ án, xa lạ với thủ tục tố tụng, với mọi tình tiết phức tạp muôn màu của đời sống pháp lý... những điều mà các giáo sư luật học có thể truyền thụ cho học trò không còn , ngoài một mớ lý thuyết suông.  

Cũng có nhiều người thầy tâm huyết với sự nghiệp đào tạo, truyền nghề, nên bằng các quan hệ cá nhân, họ chủ động tìm kiếm các “học liệu” cần thiết để giảng dạy. Nhưng vốn liếng này cũng rất khiêm tốn, như một số hồ sơ vụ án, các tập án lệ, các thông tư liên ngành của các cơ quan tư pháp... Vì các hồ sơ xin được không bao giờ đầy đủ, mà chỉ có phần tóm tắt vụ án, phần tuyên án, nghị án, chứ không thể nào có được một hồ sơ đầy đủ các bút lục, hóa đơn, chứng từ... làm chứng cứ cho vụ án. Không có hồ sơ bản án đầy đủ trong tay, không có kinh nghiệm tố tụng, các thầy giáo chỉ có thể xây dựng giáo trình, bài giảng dựa vào hai nguồn: sách báo và các văn bản quy phạm pháp luật. Dĩ nhiên, các bài giảng này sẽ nghèo kỹ năng và không chứa đựng kinh nghiệm. Nếu có bài tập tình huống thì đa phần dựa vào trí tưởng tượng của thầy, mà không phải là các vụ án có thật.

Hiếm hoi đâu đó vẫn có những bài giảng sinh động, chứa đựng kỹ năng, kinh nghiệm của một vài ông thầy làm “luật sư chui”, bằng việc góp vốn thành lập các công ty luật và núp danh các công ty này hành nghề đằng sau cánh gà. Đã là “chui” thì không tránh khỏi nhiều phen khốn khó với cái sự chui”.  

Nếu các giáo sư y học đồng thời là các bác sĩ uy tín hàng đầu và chủ trương gắn liền giảng đường với bệnh viện của Nhà nước đã tạo điều kiện cho các thầy giáo ngành y gắn bó chặt chẽ với bệnh nhân, bệnh án và công việc điều trị[4], thì ngành luật học có vẻ lại đi theo một hướngngược lại: giáo viên, nhà luật học không được hành nghề luật sư. Từ khi Pháp lệnh Luật sư 2001 cấm viên chức làm luật sư, thì đã có những luật sư tên tuổi buộc phải từ bỏ nghiệp làm thầy, làm nhà nghiên cứu tại các cơ quan luật học, để được hành nghề luật sư[5].

Đào tạo luật sư ngược với thông lệ quốc tế?

 

Nhằm tạo ra các sinh viên luật có chất lượng, đạt chuẩn quốc tế, các quốc gia có nền luật học phát triển thường áp dụng ba giải pháp:

Thứ nhất, trong các quy định về lưu trữ, tiếp cận thông tin có các điều khoản tạo điều kiện cho sinh viên, giảng viên luật học tiếp cận toàn văn hồ sơ các vụ án, chỉ ngoại trừ các vụ án liên quan bí mật nhà nước. Điều này đã làm phong phú nguồn học liệu cho các giảng đường đại học. Giờ giảng sẽ trở nên sống động với các vụ án thực tế, giáo sư có quyền bình luận ủng hộ hay phản đối, nhưng bắt buộc phải phân tích quan điểm và phán quyết của tòa án. Các sinh viên sẽ thuộc lòng từng điều khoản của luật, cách giải thích từng từ trong lời văn của văn bản quy phạm pháp luật, vì mỗi điều luật, mỗi cách giải thích lời văn đó được minh họa bằng một vụ án tương ứng trong thực tế.

Thứ hai, tạo điều kiện cho các giảng viên tích lũy kỹ năng và kinh nghiệm hành nghề. Nền luật học các quốc gia phát triển không chủ trương tạo ra các cử nhân chỉ biết lý thuyết suông, mà cung cấp cho xã hội các sản phẩm hoàn thiện, các cử nhân luật học vững về lý thuyết, đầy đủ về kỹ năng, kinh nghiệm. Để làm được điều này, các giáo sư phải truyền thụ kỹ năng và kinh nghiệm hành nghề cho sinh viên trong các giờ giảng. Để có cái mà truyền thụ, bản thân các giáo sư phải có cơ hội được tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng. Để giáo sư có cơ hội tích lũy kinh nghiệm kỹ năng thì phải cho họ cơ hội hành nghề luật sư (hoặc các ngành nghề có liên quan đến áp dụng pháp luật khác). Các giáo sư luật học ở các quốc gia này thường đồng thời là các đại luật sư, đặc biệt là luật sư luật công.

Thứ ba, đẩy mạnh sự trao đổi giữa “giảng đường và thực tiễn”, bằng cách cho phép các thẩm phán tham gia giảng dạy ở các giảng đường. Thẩm phán hưởng quy chế tương tự công chức; đã là công chức thì bị cấm làm thêm bất cứ việc gì  phát sinh thu nhập. Ví dụ, một buổi nói chuyện có nhận thù lao của Thủ tướng Thái Lan trên kênh truyền hình dạy nấu ăn khiến cho ông Samak mất chức Thủ tướng vì đã vi phạm điều cấm của công chức. Dù khắt khe như vậy, nhưng riêng đối với công chức là thẩm phán thì luôn có ngoại lệ: bị cấm làm thêm bất cứ việc gì, ngoại trừ việc tham gia giảng dạy luật học tại các trường đại học, cao đẳng.

Ba giải pháp nói trên đã góp phần làm cho  nền giáo dục của các quốc gia này ra lò những cử nhân luật học đạt chuẩn, sẵn sàng bắt tay vào công việc. Họ không cần thêm quá nhiều thời gian để tích lũy kinh nghiệm trước khi ngồi vào ghế thẩm phán, mà họ chỉ cần khẳng định năng lực của mình thông qua kỳ thi quốc gia được tổ chức một cách công bằng, khách quan[6]. Kỳ thi quốc gia còn có tác dụng khắc phục sự không đồng đều trong chất lượng đào tạo cử nhân luật học giữa các cơ sở đào tạo trên toàn quốc.

Việc cho phép các giảng viên luật học làm luật sư cũng góp phần tăng cường trao đổi hai chiều giữa “giảng đường và thực tiễn”. Vì các bài bào chữa của các giáo sư có thể chứa đựng những tư tưởng luật học tiến bộ, những giá trị mới của nhân loại mà các thẩm phán ít khi có thời gian nghiên cứu để có được. Điều này đặc biệt cần thiết đối với các thẩm phán Việt Nam, khi họ ít  thời gian để nghiên cứu các vụ án mà Nhà nước Việt Nam hoặc doanh nhân Việt Nam là bị đơn. Qua việc tranh tụng và những bài bào chữa có giá trị này,  những điểm bất cập trong thủ tục tố tụng, những lỗ hổng pháp luật sẽ được khắc phục nhanh hơn; các thẩm phán Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với trào lưu luật học quốc tế.

Việc tạo ra các thẩm phán, luật sư đạt chuẩn quốc tế là thực hiện sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, là một nhu cấu cấp thiết để đối phó với các hệ lụy phát sinh từ các vụ kiện tụng quốc tế khi Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Việc tạo ra các cử nhân luật học đạt chuẩn quốc tế là tiền để để tạo ra các luật sư, thẩm phán đạt chuẩn quốc tế. Nhưng tạo ra bằng cách nào?

Bằng việc tiếp tục cấm các giảng viên luật học làm luật sư, phải chăng chúng ta đang cố gắng tạo ra các cử nhân luật học, thẩm phán, luật sư đạt chuẩn quốc tế bằng một quy trình đi ngược lại thông lệ quốc tế, đi ngược lại với logic giáo dục “học phải đi đôi với hành, lý luận phải đi đôi với thực tiễn”?

Có xung đột lợi ích không?  

 

Hiện nay, một số người cho rằng, việc cho phép giảng viên làm luật sư sẽ dẫn đến xung đột lợi ích. Theo chúng tôi, những quan ngại này quá khắt khe, không hợp lý và có phần mơ hồ. Quan ngại này cần phải được xét trong mối tương quan trên các thực tế sau: 

Hiện nay có nhiều Giáo sư, Phó giáo sư luật học là công chức. Họ chưa bao giờ làm việc tại các viện nghiên cứu, trường đại học. Nhưng họ đã dành không ít thời gian cho việc giảng dạy sinh viên, các bài giảng của họ trên thực tế đã có đóng góp rất lớn trong việc lấp khoảng trống kỹ năng, kinh nghiệm cho các giảng đường luật học. Vì sự đóng góp thời gian và trí tuệ quý báu này, họ được phong học hàm. Tại sao xung đột lợi ích công chức không xuất hiện ở đây?  

Trước các vấn đề về pháp lý liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, vấn đề hội nhập WTO... Chính phủ ta phải thuê các luật sư đồng thời là giáo sư luật công pháp quốc tế của Pháp, Hoa Kỳ... để tham gia. Rõ ràng, đây là một sự công nhận các giáo sư luật học chuyên giảng dạy cũng  đủ trình độ của một luật sư chuyên nghiệp. Vậy sao không để các giáo sư luật học của chúng ta đồng thời làm nghề luật sư?

- Việc đánh giá luật sư, Nhà nước nên để các khách hàng, thân chủ đánh giá tính chuyên nghiệp của từng luật sư, không cần phải đánh giá hộ. Đặc biệt khi Nhà nước là chủ thể không có lợi ích trực tiếp liên quan các vụ án hình sự, dân sự trong nước.

 Chính vì vậy, theo chúng tôi, khi đánh giá “xung đột lợi ích” cần phải cân nhắc các yếu tố sau:  

Thứ nhất, công chức là những người nắm giữ quyền lực nhà nước, nên nếu cho phép họ hành nghề luật sư thì có thể, họ sẽ lạm dụng các yếu tố công quyền của người công chức vàocác vụ kiện, làm cho vụ án trở nên không công bằng. Còn viên chức, họ không làm việc trong các cơ quan công quyền, mà làm trong các đơn vị sự nghiệp không có chức năng quản lý nhà nước, nên họ hầu như không có cơ hội “lạm dụng quyền lực nhà nước” trong hoạt động tranh tụng, vì bản thân họ không có thứ để có thể lạm dụng. Đặc biệt đối với các giảng viên giảng dạy tại các trường đại học tư thục thì càng không, “xung đột lợi ích” lại càng trở nên mơ hồ.

Thứ hai, viên chức được tuyển theo Hợp đồng làm việc và kèm theo Hợp đồng làm việc là bản miêu tả công việc khá rõ ràng. Đặc biệt đối với giảng viên thì định mức công việc rất cụ thể:mỗi năm 260 tiết giảng. Vì vậy, việc kiểm soát giảng viên hoàn thành nghĩa vụ là khá dễ thông qua hệ thống sổ đầu bài, bằng sự chứng kiến của hàng trăm sinh viên.

Còn công chức được tuyển theo chế độ làm việc suốt đời” bằng một quyết định bổ nhiệm công chức và trong cuộc đời làm việc, họ có thể được thuyên chuyển qua nhiều vị trí. Vì vậy, đối với công chức, không có bản miêu tả công việc kèm theo tương ứng với từng cơ quan, từng vị trí của công chức trong cơ quan, mà chỉ có các điều khoản chung về tiêu chuẩn chức danh công chức của pháp luật công chức. Việc khó lượng hóa công việc của công chức, dẫn đến khó kiểm soát việc công chức hoàn thành công việc hay không. Vì điều này  các quốc gia thường không cho phép công chức làm thêm các công việc có phát sinh thu nhập (công việc tình nguyện thì vẫn được phép) vì sợ rằng, công chức sa đà vào việc làm thêm. Bù lại, nguồn lương công chức được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước. Ngược lại, nguồn thu nhập của viên chức phụ thuộc vào nguồn thu của đơn vị sự nghiệp; ngân sách nhà nước hỗ trợ không có, hoặc không đáng kể.

Thứ ba, yếu tố xung đột lợi ích cần được xem xét trong mối tương quan với các lợi ích khác,khi cho phép công chức, viên chức làm thêm. Có những trường hợp có xung đột lợi ích những vẫn được phép khi lợi ích bị xung đột  rất không đáng kể so với lợi ích mang lại. Như việc công chức trở thành giáo sư ở Việt Nam là một trường hợp có xung đột lợi ích, nhưng xung đột nàykhông đáng kể, nên bỏ qua, để đạt được lợi ích lớn hơn trong bối cảnh hiện nay. Tuy việc cho phép công chức giảng dạy ở trường đại học có thể dẫn đến tình huống “công chức biết nhiều nghề, giỏi nhiều nghề, ngoại trừ nghề chính của mình”, nhưng hệ lụy của tình huống này không lớn, khi xét trong tương quan với những lợi ích mà họ mang lại: Họ mang thông tin thực tiễn vào giảng đường, cung cấp kỹ năng, kinh nghiệm hành nghề cho sinh viên. Vì vậy, việc công chứctrở thành giáo sư được chấp nhận, cho dù có xung đột lợi ích.

Có thể, việc cho phép giảng viên làm luật sư cũng dường như không dẫn đến một "xung đột lợi ích" nào: Giảng viên - không phải là công chức, nên không có quyền lực nhà nước nào để lạm dụng; họ có nghĩa vụ viên chức rất rõ ràng, dễ kiểm soát; lương của họ không được bảo đảm hoàn toàn bằng ngân sách, nên họ phải tìm cách làm thêm; nếu luật pháp cho phép thì họ làm chính danh, còn nếu cấm thì họ sẽ "làm chui". Đặc biệt, bằng việc mang kiến thức mới về khoa học pháp lý đến tòa án và mang trở về cho sinh viên các kỹ năng, kinh nghiệm luật sư từ phiên tòa, họ sẽ góp phần thúc đẩy nền khoa học pháp lý Việt Nam, góp phần đào tạo nên các cử nhân luật học hoàn thiện cho xã hội. Do vậy, nên nhìn nhận ở đây đã có sự “cộng hưởng lợi ích giữa giảng đường và thực tiễn, chứ không nên coi là xung đột lợi ích. 

Vậy, bao giờ Nhà nước mới cho phép các giảng viên luật học được làm luật sư?


[1] Chính phủ (2012), Tờ trình về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư.

[2] Bộ Tư pháp (2012), Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư, tr. 25.

[3] Linh Thư (2012), Phát biểu của ông Lê Hữu Thể, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong bài “Giảng viên không được làm luật sư?, http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/68079/giang-vien-luat-khong-duoc-lam-luat-su-.html, ngày 13/4/2012

[4] Các bệnh viện của Đại học Y dược TP.Hồ Chí Minh, Đại học Y Hà Nội đã được thành lập theo chủ trương này.

[5] Như PGS,TS. Phạm Hồng Hải, nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu Pháp luật hình sự, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, TS. Ngô Ngọc Thủy, nguyên Trưởng khoa Tư pháp, Đại học Luật Hà Nội...

[6] Ở một số nước, bất kỳ ai trải qua kỳ thi quốc gia số một thì được phép làm Thư ký Văn phòng luật sư, Thư ký tòa án, bất kỳ ai có bằng cử nhân luật học và trải qua kỳ thi quốc gia số hai thì có cơ hội được bổ nhiệm làm Thẩm phán, hoặc hành nghề luật sư.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi