Các cơ chế của Liên hợp quốc về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

Ngô Thị Bích Quyên – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Topcareer

Về cơ bản, cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người được thể hiện ở bộ máy các cơ quan và quy tắc, thủ tục về thúc đẩy, bảo vệ quyền con nguởi trong tổ chức Liên hợp quốc. Dựa trên địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy thì các cơ quan về quyền con người của Liên hợp quốc được chia thành hai dạng: Các cơ quan được thành lập (hoặc dựa trên) Hiến chương (charter - based mechanism) và cơ chế qua charter bodies, và các cơ quan được thảnh lập theo hoặc dựa trên một số điều ước quan trọng về quyền con người (treaty bodies). Một số tài liệu gọi hệ thống các cơ quan và thủ tục này là cơ chế dựa trên Hiến chương (charter based mechanism) và cơ chế dựa trên điều ước (treaty based mechanism).

1.  Cơ chế dựa trên Hiến chương (Charter - based mechanism)

Bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người được xác định là một trong những mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc nên cả 6 cơ quan chính (Đại hội đồng - General essembly; Hội đồng bảo an - Security council, Hội đồng kinh tế và xã hội - Economic and social council Ecosoc; Hội đồng quản thác - Trusteeship council và Tòa án quốc tế - Intemetional court of justice) đều có trách nhiệm trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, có một số cơ quan giúp việc về quyền con người; xây dựng và thực thi quy chế để huy động sự tham gia, hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (quốc tế, khu vực và quốc gia) vào hoạt động thúc đầy và bảo vệ quyền con người. Cụ thể như sau:

1.1.   Hội đồng quyền con người của Liên hợp quốc

Hội đồng quyền con người của Liên hợp quốc (UN Human Rights Council - HRC) cơ quan mới được thành lập theo Nghị quyết số 60/251 ngày 03/4/2006 của Đại hội đồng Liên hợp quốc để thay thế cho Ủy ban quyền con người (CHR). Do Ủy ban quyền con người trước đây và Hội đồng quyền con người (HRC) hiện nay, đóng vai trò “đầu tàu” trong bộ máy các cơ quan về quyền con người Liên hợp quốc, nên sự kiện thành lập HRC được nhiều tổ chức và chuyên gia đánh giá là hứa hẹn mở ra “một trang mới” trong hoạt động của Liên hợp quốc trên lĩnh vực này.

Theo Nghị quyết số 60/251 của Đại hội đồng Liên hợp quốc thì HRC có các chức năng, nhiệm vụ: Thúc đẩy các hoạt động giáo dục, nghiên cứu, dịch vụ tư vấn, trợ giúp kỹ thuật và xây dựng năng lực về quyền con người ở các quốc gia; thúc đẩy việc thực thi đầy đủ các nghĩa vụ về qụyền con người ở các quốc gia; đóng vai trò là một diễn đàn để đối thoại về những chủ đề cụ thể về quyền con người; đưa ra những khuyến nghị với Đại hội đồng về sự phát triển của luật quốc tế về quyền con người; thực hiện việc đánh giá định kỳ toàn thể việc tuân thủ các nghĩa vụ và cam kết về quyền con người của các quốc gia; thông qua đối thoại và hợp tác để góp phần phòng ngừa những vi phạm quyền con người và phản ứng kịp thời với những tình huống khẩn cấp về quyền con người; hợp tác chặt chẽ với các chính phủ, các tổ chức khu vực, các cơ quan quyền con người quốc gia, các tổ chức xã hội dân sự trong các hoạt động về quyền con người.

Phương thức hoạt động của HRC là đưa ra báo cáo hoạt động hàng năm với Đại hội đồng hay còn gọi là cơ chế “Đánh giá định kỳ chung (phổ quát) - Universal Periodic Review - UPR). Thay thế cho phương thức hoạt động của ủy ban nhân quyền trước đây là: Hàng năm, chọn ra các vụ việc nghiêm trọng nhất về quyền con người xảy ra ở các quốc gia trên thế giới để đưa ra xem xét, đánh giá, thì Hội đồng quyền con ngưòi tiến hành một thủ tục mới là đánh giá định kỳ chung (UPR). UPR sẽ đánh giá định kỳ việc tuân thủ các nghĩa vụ và cam kết về quyền con người của tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc dựa trên các báo cáo từ các nguồn khác nhau.

Để thực hiện UPR, một Nhóm công tác (working group) về UPR do HRC thành lập sẽ tiến hành ba kỳ họp mỗi năm, mỗi kỳ họp kéo dài 2 tuần để đánh giá 16 quốc gia. Như vậy, mỗi năm UPR sẽ đánh giá đuợc 48 quốc gia và phải mất bốn năm để hoàn tất thủ tục này với toàn bộ 192 quốc gia thành viên của Liên hơp quốc (dự tính đến hết năm 2011, với 12 kỳ họp mới có thể kết thúc vòng đánh giá đầu tiên theo UPR).

Tiến trình UPR về cơ bản bao gồm các bước như sau:

-          Chuần bị thông tin làm cơ sở cho việc xem xét: Trong bước này, các tài liệu cần chuẩn bị bao gồm: (i) Báo cáo của quốc gia được xem xét (không quá 20 trang); (ii) Tổng hợp của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người về tình hình ở quốc gia được xem xét từ báo cáo của các cơ quan giám sát điều ước, các thủ tục đặc biệt và các tài liệu khác... (không quá 10 trang); (iii) Bản tóm tắt do Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thực hiện từ những báo cáo của các chủ thể liên quan khác (các tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu, cơ quan quyền con người quốc gia) (không quá 10 trang).

-          Xem xét, đánh giá: Được thực hiện ở Geneva dưới dạng đối thoại trong ba giờ giữa quốc gia được xem xét với các thành viên Nhóm công tác về UPR, các quốc gia thành viên và quan sát viên của HRC.

-          Kết luận, đánh giá: Nhóm công tác về UPR sẽ thông qua văn bản kết luận (dưới hình thức một báo cáo) sau khi kết thúc việc xem xét, đánh giá, trong đó tóm tắt trình tự xem xét, các cam kết đưa ra bởi quốc gia liên quan và các kết luận, khuyến nghị với quốc gia đó. HRC sẽ cân nhắc và thông qua báo cáo này, thường là vào kỳ họp tiếp theo.

-          Thực hiện các khuyến nghị: Quốc gia được xem xét sẽ áp dụng các khuyến nghị đã nêu trong báo cáo và thông báo về kết quả của việc áp dụng các khuyến nghị đó trong lần báo cáo định kỳ tiếp theo của nước mình.

1.2.  y ban cố vấn (Advisory Committee)

Tương tự như mô hình tiểu ban thúc đẩy và bảo vệ quyền con người của CHR trước đây, HRC thành lập một ủy ban cố vấn để hỗ trợ Hội đồng trong các hoạt động chuyên môn. Ủy ban này bao gồm 18 chuyên gia được Hội đồng bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín từ danh sách các ứng cử viên mà các quốc gia thành viên đề cử. Mặc dù vậy, các chuyên gia thành viên của ủy ban hoạt động với tư cách cá nhân. Nhiệm kỳ của mỗi chuyên gia là 3 năm, chỉ được bầu lại một lần.

Cơ cấu của ủy ban cố vấn được cân nhấc để đảm bảo tính cân bằng về giới và về khu vực địa lý. Cụ thể, để đảm bảo sự cân bằng về khu vực địa lý, thành phần của ủy ban được phân bổ như sau: Các quốc gia châu Phi: 5 ghế; các quốc gia Châu Á: 5 ghế; các quốc gia Đông Âu: 2 ghế; các quốc gia Châu Mỹ La tinh và Caribê: 3 ghế; các quốc gia Tây Âu và các quốc gia ở khu vực khác: 3 ghế.

Về hoạt động, ủy ban cố vấn họp tối đa 2 kỳ một năm, mỗi kỳ tối đa 10 ngày, ngoài ra có thể họp các kỳ bổ sung với sự chấp thuận của HRC. Về trách nhiệm, ủy ban cố vấn chịu sự điều phối của HRC. Hội đồng có thể yêu cầu toàn bộ, một nhóm thành viên hoặc một cá nhân thành viên của ủy ban cố vấn thực hiện những nhiệm vụ nhất định.

2. Cơ chế dựa trên công ước (Treaty - based mechanism)

Cơ chế này được dựa trên các ủy ban giám sát việc thực hiện một số công ước quốc tế về quyền con người (treaty-based bodies), được thành lập theo quy định của chính các công ước đó (ngoại trừ Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được thành lập theo một Nghị quyết của ECOSOC).

Nếu như các cơ quan trong cơ chế dựa trên Hiến chương có những chức năng đa dạng, bao gồm cả việc nghiên cứu, xây dựng các dự thảo văn kiện, thẩm định, theo dõi, giám sát và điều hành các chương trình, hoạt động về quyền con người..., thì hệ thống ủy ban công ước có chức năng hẹp hơn. Các ủy ban này được thiết lập chỉ để giám sát, thúc đẩy việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người, thông qua việc nhận, xem xét và ra khuyến nghị liên quan đến các báo cáo về việc thực hiện các công ước này của những quốc gia thành viên (và với một số ủy ban, còn thông qua thẩm quyền nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại về việc vi phạm các quyền con người được ghi nhận trong một số công ước).

Hiện tại, có 9 công ước được coi là điều ước quốc tế căn bản về quyền con người (core international human riẹhts treaties) của Liên hợp quốc. Một trong số đó hiện chưa có hiệu lực là Công ước về cưỡng bức đưa đi mất tích. Các công ước còn lại được giám sát bởi các ủy ban giám sát và một cơ quan tương tự là nhóm công tác. Cụ thể, các Ủy ban giám sát công ước đang hoạt động bao gồm: ủy ban về xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc (thành lập theo Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965); ủy ban quyền con người (thành lập theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966); ủy ban về xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ (thành lập theo Công ước quốc tế về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979); ủy ban chống tra tấn (thành lập theo Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác năm 1987); ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (thành lập theo một nghị quyết của ECOSOC); ủy ban về quyền trẻ em (thành lập theo Công ước về quyền trẻ em năm 1989); Ủy ban bảo vệ quyền của những người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ (thành lập theo Công ước về bảo vệ quyền của những người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ năm 1990); ủy ban về quyền của người khuyết tật (thành lập theo Công uớc về quyền của người khuyết tật năm 2007).

Các ủy ban công ước bao gồm những chuyên gia được thừa nhận là có uy tín, đạo đức và năng lực trong các lĩnh vực của công ước liên quan. Các chuyên gia này được lựa chọn (thông qua bỏ phiếu ở các ủy ban) từ những người được các quốc gia thành viên đề cử (thường là công dân của nước mình). Tuy nhiên, khi được bầu là thành viên các ủy ban thì các chuyên gia hoạt động với tư cách cá nhân, số lượng thành viên của các ủy ban công ước được quy định ngay trong mỗi công ước và có thể khác nhau, nhưng thông thường không ít hơn 10 người và không nhiều hơn 30 người.

Các ủy ban công ước thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ căn cứ vào quy định cụ thể của từng công ước, trong đó, đáng chú ý là các chức năng: Xem xét báo cáo của các quốc gia thành viên; xem xét khiếu nại của các cá nhân; đưa ra các bình luận, khuyến nghị chung để giải thích nội dung và các biện pháp thực hiện công ước.

3. Những điểm khác biệt cơ bản giữa hai cơ chế

Việc áp dụng cơ chế dựa trên Hiến chương là nghĩa vụ phổ quát, có tính chất bắt buộc giữa các quốc gia trên thế giới. Còn cơ chế dựa trên công ước thì phụ thuộc vào việc quốc gia đó tham gia vào điều ước như thế nào.

Các cơ quan trong cơ thể dựa trên Hiến chương có những chức năng đa dạng, bao gồm cả việc nghiên cứu, xây dựng các dự thảo văn kiện, thẩm định, theo dõi, giám sát và điều hành các chương trình, hoạt động về quyền con người. Còn hệ thống các ủy ban trong cơ chế dựa trên công ước có chức năng hẹp hơn. Các ủy ban này được thiết lập chỉ để giám sát, thúc đẩy việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người, thông qua việc nhận, xem xét và ra khuyến nghị liên quan đến các báo cáo về việc thực hiện các công ước này của những quốc gia thành viên (và với một số ủy ban còn thông qua thẩm quyền nhận, xem xét về và xử lý các khiếu nại về việc vi phạm các quyền con người được ghi nhận trong một số công ước).

Cơ chế dựa trên công ước có chức năng là đưa ra các bình luận chung, khuyến nghị chung để giải thích nội dung và các biện pháp thực hiện công ước. Trong khi cơ chế dựa trên Hiến chương thì phải báo cáo định kỳ lên Đại hội đồng. Trên cơ sơ đó, thông qua đối thoại và hợp tác để góp phần phòng ngừa những vi phạm quyền con người và phản ứng kịp thời với những tình huống khẩn cấp về quyền con người.

Tài liệu tham khảo:

1.Hiến chương Liên Hiệp Quốc của Liên Hiệp Quốc (Conference on International Organization) ký kết tại San Fransisco, California, Hoa Kỳ, ngày 26/6/1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24/10/1945 sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập – Trung Quốc, Liên Xô, Pháp, Anh, Hoa Kỳ và nhiều nước khác.

2. Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, Khoa Luật – ĐHQGHN, 2009.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi