Cơ chế giải quyết mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật - nhìn từ một quy định

Nguyễn Minh Đức- Trường Đại học Luật Hà Nội

1. Từ một quy định 

Ngày 23/12/2011, Hội đồng nhân dân thành phố (HĐND TP) Đà Nẵng ban hành Nghị quyết số 23/2011/NQ-HĐND về Nhiệm vụ năm 2012 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 23). Ngày 11/02/2012, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của Bộ Tư pháp yêu cầu HĐND TP Đà Nẵng giải thích một số nội dung trong Nghị quyết 23 do không phù hợp với Luật Cư trú (Luật CT). Sau khi nhận được văn bản giải thích của HĐND TP Đà Nẵng, Cục Kiểm tra VBQPPL vẫn giữ quan điểm cho rằng, Nghị quyết 23 không phù hợp với Luật CT và cần phải được hủy bỏ hoặc sửa đổi.

Nghị quyết đưa ra biện pháp "Tạm dừng giải quyết đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đối với các trường hợp chỗ ở là nhà thuê, mượn, ở nhờ mà không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án, tiền sự”. Cục Kiểm tra VBQPPL cho rằng, quy định này trái với Luật CT. Lý do là Điều 20 Luật CT quy định về điều kiện đăng ký thường trú tại các TP trực thuộc trung ương không hạn chế các đối tượng trên. Hơn nữa, Điều 21 Luật này quy định thời hạn tối đa để giải quyết đăng ký thường trú là 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

Lập luận của phía Đà Nẵng cho rằng, quy định tạm dừng giải quyết đăng ký thường trú này thuộc thẩm quyền của mình với hai lý do. Thứ nhất, Luật CT đưa ra các điều kiện nói trên nhưng không giới hạn ở đó. Nói cách khác, Luật CT không cấm việc các địa phương đưa thêm các điều kiện khác. Thứ hai, tại Luật Tổ chức HĐND và UBND (Luật TC HĐND, UBND) cho phép HĐND cấp tỉnh có quyền "phân bổ dân cư” và "quyết định các biện pháp quản lý dân cư ở thành phố và tổ chức đời sống dân cư đô thị”. Vì vậy, quy định trong Nghị quyết 23 phù hợp với thẩm quyền này của HĐND TP Đà Nẵng.

Cục Kiểm tra VBQPPL phản bác lại rằng, TP Đà Nẵng có thể sử dụng nhiều biện pháp khác để "phân bổ dân cư” chứ không được sử dụng biện pháp trái với Luật CT. Hiện vụ việc đang dừng lại ở đó, chờ Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) để giải quyết.

Vụ việc trên cho thấy, cơ chế giải quyết mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật ở nước ta vẫn còn một số bất cập. Việc hủy bỏ văn bản đã được pháp luật đề cập cách giải quyết, song vẫn còn nhiều điểm bất hợp lý.

2. Cơ chế giải quyết mâu thuẫn và hủy bỏ văn bản hiện nay  

Khi ban hành một VBQPPL, đương nhiên cơ quan ban hành đã đảm bảo rằng, VBQPPL này được ban hành hợp pháp. Nếu văn bản đã được ban hành, nhưng khi giám sát, kiểm tra mà phát hiện có những nội dung trái với Hiến pháp, luật thì phải kịp thời "đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản sai trái”[1]. Pháp luật cũng quy định: "1. Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát việc ban hành VBQPPL. 2. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát việc ban hành VBQPPL, xử lý VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội”[2].

Việc hủy bỏ VBQPPL cần phải được đảm bảo các yếu tố: đúng thẩm quyền, đúng căn cứ và đúng thủ tục. Đối với Nghị quyết 23, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hủy văn bản này bao gồm: UBTVQH[3] và chính HĐND TP Đà Nẵng. Thủ tướng Chính phủ chỉ có quyền đình chỉ thi hành, chứ không có quyền bãi bỏ Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh. Cục Kiểm tra VBQPPL Bộ Tư pháp chỉ có chức năng kiểm tra và phát hiện sai trái của văn bản, chứ hoàn toàn không có quyền đình chỉ thi hành, hủy bỏ hay bãi bỏ văn bản. Cục sẽ yêu cầu chính cơ quan ban hành văn bản đó tự hủy bỏ văn bản của mình, hoặc kiến nghị để cơ quan nhà nước cấp trên để ra quyết định hủy bỏ văn bản.

3. Bất cập của cơ chế hủy bỏ văn bản hiện nay   

3.1. Thẩm quyền hủy bỏ văn bản

Như đã nói ở trên, hiện nay có hai cơ quan có quyền hủy Nghị quyết 23 là HĐNDTP   Đà Nẵng và UBTVQH.

HĐND TP Đà Nẵng là cơ quan ban hành văn bản, họ đã kiểm tra và đảm bảo tính hợp pháp của văn bản trước khi ban hành ra nó. Đến nay, sau khi nhận được ý kiến của Cục Kiểm tra VBQLPL, HĐND TP Đà Nẵng vẫn không thay đổi quan điểm về tính hợp pháp, hợp lý của Nghị quyết 23. Thông thường thì cơ quan đã ban hành VBQPPL có nội dung sai trái sẽ tự hủy bỏ văn bản, đó là điều hợp lý nhất, tránh được những bất cập trong hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật, tránh được những bất đồng giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Song, thực tế cho thấy, các cơ quan đã ban hành ra văn bản rất ít khi tự thừa nhận những bất cập, sai sót trong văn bản của mình đã ban hành và tự mình hủy bỏ những văn bản như vậy.   

UBTVQH có quyền hủy Nghị quyết 23, song cơ chế này hiện nay chưa đầy đủ, đang thiếu sự hoàn thiện. UBTVQH không có động lực thực sự rõ ràng, trực tiếp để chủ động giải quyết vụ việc đến cùng. Vì thế, hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng vụ việc bị "treo" vô thời hạn. Nếu UBTVQH chưa trả lời hoặc thậm chí im lặng thì chúng ta cũng không thể rõ quan điểm chính thức của cơ quan này. Cũng có thể suy luận rằng, sự im lặng của UBTVQH là sự đồng tình với HĐND TP Đà Nẵng.

Cục Kiểm tra VBQPPL và Bộ Tư pháp cũng không có động lực và không có thẩm quyền để thực hiện công việc này. Cục Kiểm tra VBQPPL và Bộ Tư pháp không có những lợi ích trực tiếp bị ảnh hưởng bởi Nghị quyết 23 nên việc đưa vụ việc đến kết quả cuối cùng chưa phải là mối quan tâm lớn, trong lúc họ còn có nhiều vấn đề cần giải quyết. Thông thường khi không có những lợi ích hay sự quan tâm rõ ràng, rất khó để cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ của mình một cách chủ động, tích cực.

3.2. Căn cứ hủy bỏ văn bản

Căn cứ để xem xét hủy bỏ Nghị quyết 23 là Luật CT, Luật TC HĐND, UBND. Muốn có căn cứ, cần phải hiểu, giải thích và áp dụng chúng. Tuy nhiên, thông thường khi đọc  VBQPPL thì tất cả các cơ quan, cá nhân có liên quan đều có thể thực hiện, nhưng hiểu đúng, giải thích văn bản đúng và áp dụng đúng văn bản thì không phải ai cũng giống nhau. Vì thế, các cơ quan, tổ chức thường hiểu và giải thích VBQPPL khác nhau, đặc biệt là trong bối cảnh hệ thống pháp luật của nước ta còn chưa thống nhất và mang tính minh bạch cao. HĐND TP Đà Nẵng giải thích rằng quyền "phân bố dân cư” đã cho phép họ đưa ra các biện pháp ghi trong Nghị quyết 23 như vậy. Cục Kiểm tra VBQPPL thì cho rằng, TP Đà Nẵng còn nhiều biện pháp khác để thực hiện quyền "phân bố dân cư” và các biện pháp đưa ra phải phù hợp với Luật CT. Vậy, cơ quan nào giải thích đúng? Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chỉ có UBTVQH mới có quyền giải thích (giải thích chính thức) Luật CT, Luật TC HĐND, UBND. Tuy nhiên, vì không có ai đề nghị, nên UBTVQH sẽ không giải thích đối với trường hợp này. Cũng theo pháp luật thì UBTVQH là cơ quan có quyền hủy văn bản, tức là cách giải thích của cơ quan này được xem là có giá trị cuối cùng, là đúng nhất. Nhưng UBTVQH sẽ thiên về hướng xem xét dựa trên mặt được và mặt mất của quy định tạm dừng đăng ký thường trú, hơn là xem xét dựa trên việc giải thích Luật CT và Luật TC HĐND, UBND. Nếu xử lý vụ việc theo hướng này thì dễ bị chi phối bởi những đánh giá chủ quan của UBTVQH, trong khi Luật là do Quốc hội ban hành.

3.3. Thủ tục xem xét

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, sau khi nhận được kiến nghị của các đơn vị như Ủy ban Pháp luật, Thủ tướng Chính phủ, thì UBTVQH sẽ xem xét VBQPPL có sai sót và bất cập không. Việc hủy Nghị quyết 23 cũng theo quy trình như vậy. Tuy nhiên, thời hạn cho các hoạt động này không được pháp luật quy định chặt chẽ, nên thời gian thường dễ bị kéo dài.

Giả sử UBTVQH hủy Nghị quyết 23, thì quyết định hủy đó chỉ có giá trị áp dụng đối với Nghị quyết 23. Nếu một địa phương khác cũng ban hành một văn bản khác có nội dung tương tự như Nghị quyết 23, thì một quá trình tương tự như trên phải lặp lại từ đầu nhằm kiểm tra và hủy văn bản đó. Việc lặp lại quá trình như vậy rất tốn kém, mất thời gian và không cần thiết.

Cách duy nhất để UBTVQH giải quyết triệt để vấn đề là ban hành một Nghị quyết mang tính quy phạm giải thích Luật CT và Luật TC HĐND, UBND. Trong lịch sử, UBTVQH mới chỉ hai lần ra nghị quyết giải thích luật[4]. Và rất khó để UBTVQH tiếp tục ra nghị quyết giải thích Luật CT hay Luật TC HĐND, UBND.

Như vậy, các vấn đề về thẩm quyền, động cơ, căn cứ và thủ tục để giải quyết vụ việc đều chưa thực sự rõ ràng. Tong thực tiễn, ngày càng có nhiều trường hợp các cơ quan ban hành VBQPPL có sự mâu thuẫn và vì vậy, cần có cơ chế hiệu quả hơn giải quyết vấn đề tương tự trong hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật.

4. Giả thiết sự việc thực hiện Nghị quyết 23

Anh Nguyễn Minh Đ. đủ điều kiện đăng ký thường trú tại TP Đà Nẵng theo đúng quy định của Luật CT. Anh Đ. lại là người có tiền án về tội hiếp dâm, chưa được xóa án tích. Ngày 14/5/2012, anh Đ. nộp đơn xin đăng ký thường trú tại cơ quan Công an quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng. Cán bộ tiếp anh Đ là chị Nguyễn Mai C. Chị C. căn cứ vào Nghị quyết 23, từ chối đăng ký thường trú cho anh Đ. Anh Đ cho rằng hành vi hành chính đó của chị C đã xâm hại quyền lợi hợp pháp của mình. Anh Đ khởi kiện hành vi hành chính đó ra Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng. Đối tượng của đơn kiện là một hành vi hành chính, thuộc thẩm quyền của tòa hành chính tại TP Đà Nẵng. Tại Tòa án, anh Đ căn cứ vào Luật CT và cho rằng, quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm. Chị C. thì cho rằng, hành vi của mình là hợp pháp, căn cứ theo Nghị quyết 23. Tòa án sẽ giải quyết vụ việc thế nào?

Vụ việc có thể được đưa lên đến cấp Tòa án nhân dân tối cao, nhưng vấn đề mấu chốt của vụ việc không thay đổi. Tòa án buộc phải trả lời câu hỏi: Trong các văn bản đã nêu thì văn bản nào sẽ được áp dụng để xem xét tính hợp pháp của hành vi hành chính nói trên của chị C., Luật CT hay Nghị quyết 23?

Giả sử Tòa án ra phán quyết chấp nhận yêu cầu của anh Đ. Như vậy, anh Đ. sẽ được giải quyết đăng ký thường trú tại TP Đà Nẵng. Sau đó, anh Nguyễn Đức N. cũng đến nộp đơn yêu cầu đăng ký thường trú tại TP Đà Nẵng. Tương tự như anh Đ., anh N. cũng từng có tiền án về tội hiếp dâm. Lúc này, cơ quan Công an quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng sẽ trả lời anh N. như thế nào?

Nếu cơ quan này tiếp tục từ chối đăng ký thường trú cho anh N, anh ta hoàn toàn có quyền khởi kiện tương tự như anh Đ. Tòa án lại ra phán quyết yêu cầu cơ quan Công an TP Đà Nẵng giải quyết đơn đăng ký thường trú của anh N. Số lượng người muốn đăng ký thường trú tại TP Đà Nẵng chắc sẽ không nhỏ và nếu mỗi người đó đều khởi kiện thì cơ quan Công an cấp quận của TP Đà Nẵng có thể thua hàng chục vụ kiện mỗi ngày.

5. Điều cần được rút ra  

5.1. Tranh luận dựa vào văn bản hay tranh luận dựa vào vụ việc?

Hiện nay, những tranh luận về việc các văn bản VBQPPL có hay không có mâu thuẫn với nhau vẫn dựa trên việc đọc và giải thích văn bản. Phương pháp tiếp cận này có nhiều điểm bất hợp lý. Đơn giản là các văn bản thường được nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau ban hành với những tư tưởng lập pháp và cách thể hiện khác nhau, thuật ngữ sử dụng cũng khác nhau. Do vậy, sẽ không thể có hoặc rất khó có căn cứ rõ ràng để chỉ ra sự mâu thuẫn giữa chúng. Nhiều trường hợp, lập luận của cả hai bên đều có lý, đều có căn cứ, nên không biết theo bên nào. Đây là những nguyên nhân dẫn đến các tranh luận không bao giờ chấm dứt về sự mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật.

Vì vậy, cách xác định sự mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật ở nước ta như hiện nay cần được thay đổi. Chúng tôi cho rằng, cần căn cứ cả vào những hậu quả để xác định mâu thuẫn chứ không chỉ căn cứ vào câu chữ trong văn bản. Mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật có thể được xác định như sau: "Hai văn bản pháp luật được coi là mâu thuẫn với nhau nếu tồn tại một vụ việc, mà áp dụng quy định của hai văn bản đó để giải quyết sẽ cho ra hai kết quả pháp lý khác nhau”. Từ đó cho thấy, nếu muốn chứng minh hai văn bản pháp luật là mâu thuẫn, chỉ cần chỉ ra một vụ việc thích hợp mà việc áp dụng quy định của hai văn bản đó để giải quyết sẽ cho hai kết quả pháp lý khác nhau.

Cách xác định trên sẽ giúp cho việc giải quyết mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật trở nên thuận lợi, rõ ràng và hiệu quả. Tương tự như trong toán học, một mệnh đề được coi là sai khi chúng ta chỉ ra một trường hợp mà áp dụng mệnh đề đó sẽ cho ra kết quả trái với các định lý đã được chứng minh. Một văn bản cấp dưới sẽ bị coi là sai trái với văn bản của cấp trên nếu có thể chỉ ra được những tình huống thực tế mà khi áp dụng văn bản đó, cho ra kết quả trái với văn bản cấp trên. Phương pháp chứng minh này rất triệt để.

Câu hỏi đặt ra là, vụ việc được chỉ ra đó là vụ việc thực tiễn hay vụ việc giả tưởng? Đây là một câu hỏi khó trả lời. Nếu cho phép chấp nhận vụ việc giả tưởng thì có thể rơi vào trường hợp xác suất để sự việc như vậy diễn ra trên thực tế hầu như bằng không. Nếu chỉ chấp nhận vụ việc thực tiễn thì sẽ cần phải có cơ chế và động lực để giải quyết những vụ việc thực tiễn đó. Với điều kiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, cơ chế và động lực này chưa được hình thành phổ biến.

Tuy vậy, về lâu dài, phương pháp thứ hai có ưu thế hơn phương pháp đầu tiên, bởi lẽ, xét cho cùng, pháp luật được ban hành để điều chỉnh quan hệ xã hội. Nếu không có vụ việc diễn ra trên thực tế thì pháp luật chỉ còn là những cuốn tiểu thuyết giả tưởng, với mục đích chính là đọc giải trí mà thôi. Xem xét pháp luật dựa trên vụ việc thực tiễn mới đúng bản chất của vấn đề, đó cũng là giá trị thực, là mục đích của pháp luật. Do vậy, chúng tôi cho rằng, trong tương lai chúng ta cần kết hợp cả hai phương pháp trên để giải quyết sự mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật.

2.2. Chuyển chức năng giải quyết mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật sang cho Tòa án

Từ vụ việc của anh Đ. và chị C., chúng ta thấy, Tòa án đã làm chức năng giải quyết mâu thuẫn giữa các văn bản. Chức năng này hiện nay chưa được trao cho Tòa án mà được trao cho các cơ quan lập pháp hoặc cơ quan hành pháp. Cơ quan Tòa án hiện nay chỉ được xét xử vụ việc (hành vi và quyết định hành chính), không có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của VBQPPL. Nhưng từ lập luận ở phần trên, chúng ta thấy việc chứng minh mâu thuẫn giữa các văn bản lại chủ yếu được quy về việc giải quyết vụ việc thực tế. Như vậy, Tòa án hoàn toàn có thể can thiệp thông qua hoạt động tố tụng khi giải quyết một vụ việc thực tế liên quan đến mâu thuẫn của văn bản. Thông qua việc giải quyết vụ án, Tòa án đã trả lời câu hỏi: "Kết quả áp dụng hai văn bản pháp luật có mâu thuẫn, có dẫn đến các hệ lụy pháp lý khác nhau không”. Nếu có, thì văn bản nào được áp dụng, văn bản nào không. Như vậy, Tòa án đã làm mất hiệu lực của một trong hai văn bản pháp luật thông qua việc giải quyết vụ việc đó. Nếu phán quyết đó của Tòa án nhân dân tối cao, nó sẽ là phán quyết cuối cùng và không thể bị xem xét lại. Việc làm mất hiệu lực của một VBQPPL bởi một phán quyết cuối cùng của Tòa án như vậy đồng nghĩa với việc văn bản đó là trái với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Cơ chế này có nhiều điểm thuận lợi hơn so với cơ chế hiện hành. Về động cơ, hai bên nguyên đơn và bị đơn có động cơ rõ ràng để đẩy vụ việc đi đến tận cùng, điều mà các cơ quan nhà nước không phải lúc nào cũng có. Về thủ tục, cơ chế này sử dụng thủ tục tố tụng, vốn được quy định rất chi tiết, chặt chẽ, lại có thời hạn xác định. Việc giải quyết mâu thuẫn không thể bị kéo dài vô thời hạn giống như cơ chế hiện nay. Căn cứ để giải quyết là việc "chỉ ra vụ việc”, được coi là tường minh và triệt để hơn, như đã phân tích ở trên.

Câu hỏi đặt ra là, sau khi Tòa án đã ra phán quyết giải quyết vụ việc của anh Đ., cơ quan Công an cấp quận của TP Đà Nẵng sẽ áp dụng văn bản nào để giải quyết đơn của anh N.? Đây lại chính là câu hỏi có công nhận án lệ hay không. Thiết nghĩ, việc công nhận án lệ với tư cách nguồn bổ sung của pháp luật là điều cần thiết.

3.3. Tính hợp pháp nên được đổi lại thành tính pháp luật và tính hợp lý nên được đổi lại thành tính chính trị

Hiện nay, lý luận về văn bản pháp luật cho rằng, văn bản pháp luật phải thỏa mãn tính hợp pháp và tính hợp lý. Theo nguyên tắc pháp chế, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và tuân thủ triệt để pháp luật. Tính hợp pháp là việc văn bản được ban hành không được trái với các quy định của cơ quan nhà nước cấp trên. Tính hợp lý là việc văn bản được ban hành sẽ phải phù hợp với thực tiễn khách quan, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng... của đất nước, địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét một văn bản, hai tiêu chí này cần được hiểu rộng hơn, gồm tính pháp luật và tính chính trị.

Theo chúng tôi, tính pháp luật cũng tương tự như tính hợp pháp, nhưng có nội hàm rộng hơn. Tính hợp pháp chỉ trả lời câu hỏi, văn bản đó có được ban hành một cách hợp pháp hay không. Ngoài trả lời câu hỏi trên, tính pháp luật còn cần phải trả lời những câu hỏi về việc: ai có quyền tuyên một văn bản là không hợp pháp, căn cứ và thủ tục để đưa ra kết luận đó.

Về tính hợp lý, rất khó để trả lời câu hỏi một văn bản có hợp lý không. Câu hỏi này mang tính chủ quan, văn bản có thể hợp lý với người này, nhưng bất hợp lý với người khác. Ví dụ, đối với quy định hạn chế đăng ký thường trú, người dân Đà Nẵng sẽ được lợi, vì họ sẽ được hưởng nhiều hơn các điều kiện phúc lợi của TP mà không phải chia sẻ cho nhiều người khác xin nhập cư. Vì vậy, văn bản này là hợp lý với họ. Còn đối với người dân đang muốn đăng ký thường trú tại TP Đà Nẵng, văn bản này lại là bất hợp lý. Như vậy, văn bản này sẽ phân phối lại các lợi ích trong xã hội, có người được lợi và có người chịu thiệt. Mà khi nói đến việc cân đối các nhóm lợi ích trong xã hội, đó là tính chính trị, chứ không đơn thuần là hợp lý.

Kết luận

Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật yêu cầu các văn bản pháp luật không được phép có mâu thuẫn với nhau. Tuy vậy, cơ chế giải quyết mâu thuẫn giữa các VBQPPL ở nước ta hiện nay vẫn có nhiều bất cập cả về thẩm quyền, động cơ, căn cứ và thủ tục giải quyết. Chúng tôi hy vọng, những phân tích trên sẽ là những gợi ý thiết thực để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, bổ sung, sửa đổi để cơ chế giải quyết mâu thuẫn giữa các VBQPPL ở nước ta vận hành thuận lợi, nhanh chóng và hiệu quả hơn./.

 


[1] Điều 87 Luật Ban hành VBQPPL 2008.

[2] Điều 89 Luật Ban hành VBQPPL 2008.

[3] Điều 13 Luật Tổ chức Quốc hội.

[4] Nghị quyết 1053/2006/NQ-UBTVQH ngày 10/11/2006 giải thích khoản 6 Điều 19 Luật Kiểm toán nhà nước; Nghị quyết 746/2005/NQ-UBTVQH ngày 28/01/2005 giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 Luật Thương mại. (Theo thống kê của website Hệ thống VBQPPL của Bộ Tư pháp - http://vbqppl.moj.gov.vn:)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi