Tổng quan về vị trí tố tụng, quyên và nghĩa vụ của các chủ thể, mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong Tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng và xu hướng hoàn thiện

I. Chủ thể tố tụng và vị trí của các chủ thể trong tố tụng hình sự

1.1. Chủ thể tố tụng là cơ quan và người tham gia các quan hệ tố tụng. Quan hệ tố tụng là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, do pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh và một trong số các bên tham gia quan hệ này là cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc người tiến hành tố tụng, hoặc người tham gia tố tụng. Một số quan hệ, tuy liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, nhưng do chúng nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Bộ luật TTHS (Điều 3 Bộ luật TTHS), hoặc do không có sự tham gia của một chủ thể tố tụng cụ thể thì không thể gọi là quan hệ tố tụng. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt rạch ròi quan hệ tố tụng với các quan hệ liên quan không phải là quan hệ tố tụng. Chỉ riêng việc các quy định của Bộ luật TTHS làm phát sinh quan hệ tố tụng và các quy định ngoài Bộ luật TTHS liên quan đến hoạt động tố tụng cũng đang làm phức tạp thêm việc nhận diện quan hệ tố tụng và quan hệ liên quan, đồng thời với chúng là chủ thể của quan hệ tố tụng.

1.2. TTHS Việt Nam phân chia chủ thể tố tụng thành 2 nhóm chủ yếu: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Sự phân chia này thể hiện một quan điểm nhất quán là việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước - cơ quan nhà nước tiến hành tố tụng và nhân viên nhà nước tiến hành tố tụng. Điều 13 Bộ luật TTHS quy định: "Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội".

Vị thế của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là khá nổi bật. Có thể nói, những gì liên quan đến tội phạm hầu như là việc riêng, việc chủ yếu của cơ quan và người tiến hành tố tụng. Điều 25, Điều 26 Bộ luật TTHS quy định trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, trong đó, tư tưởng chủ đạo là cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi công dân đều được đặt ở vị trí "có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.

Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ".

Như vậy có thể nói, mỗi khi đã được pháp luật thừa nhận là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thì cơ quan và những người này, trong phạm vi, thẩm quyền của mình có toàn quyền áp dụng pháp luật TTHS để thực hiện mục đích TTHS. Và các cơ quan, tổ chức, mọi công dân (kể cả người tham gia tố tụng) hoặc trở thành đối tượng tác động, hoặc trở thành đối tượng có trách nhiệm thực hiện yêu cầu, có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lưu ý trong pháp luật TTHS Việt Nam là người tham gia tố tụng, do không được pháp luật ghi nhận những quyền có thể đối trọng với cơ quan và người tiến hành tố tụng, nên họ không ở vị thế cân bằng. Chính điều này góp phần lý giải tại sao chưa thể áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam, đặc biệt là ở giai đoạn trước giai đoạn xét xử.

1.3. Chủ thể của các quan hệ tố tụng vừa với danh nghĩa "cơ quan" - như một tổ chức, và vừa với danh nghĩa cá nhân - "người". Sự phân định này có lợi thế là dễ quy định mỗi loại việc, một công đoạn hay giai đoạn tố tụng có thể "chuyên môn hóa", giao cho một loại cơ quan hoặc một người thực hiện, nhưng đồng thời lại tạo ra một loạt quan hệ phức tạp và thậm chí là rắc rối, bất bình đẳng cùng loại công việc, cùng chức danh thực hiện nhưng rõ ràng là người đứng đầu cơ quan (và cấp phó của người này) lại có quyền hạn vượt trội so với người không ở vị thế "lãnh đạo". Ở đây, quan hệ hành chính, quan hệ quản lý cấp trên, cấp dưới đã len lỏi vào lĩnh vực tư pháp, dẫn đến chi phối, thậm chí làm méo mó quan hệ tổ tụng.

1.4. Chủ thể tố tụng: cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng (Điều 33 của Bộ luật TTHS)

1.4.1. Cơ quan tiến hành tố tụng gồm có

- Cơ quan điều tra;

- Viện kiểm sát;

- Tòa án.

1.4.2. Người tiến hành tố tụng gồm có

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên;

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;

- Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án.

1. 4.3. Một số nhận xét: Việc quy định rõ chức danh (cơ quan và người tiến hành tố tụng) cũng như nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng chức danh này, nhất là đối với người tiến hành tố tụng trong Chương III Bộ luật TTHS năm 2003 là một bước tiến dài của pháp luật TTHS Việt Nam. Rành mạch hóa quyền và trách nhiệm các chủ thể trong TTHS vừa đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động của họ, đồng thời vừa tạo điều kiện cho việc giám sát, kiểm sát hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, như đã nêu, vẫn còn một số vấn đề liên quan đến chế định này cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện, cụ thể là:

- Có cần thiết phân biệt cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, nhất là khi trong Bộ luật TTHS hiện hành chỉ quy định cụ thể quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm pháp lý của người đứng đầu cơ quan, cấp phó và các chức danh tư pháp khác trong 3 loại cơ quan tiến hành tố tụng (sau Điều 33 của Chương III Bộ luật TTHS, không có điều luật nào khác quy định quyền hạn, trách nhiệm pháp lý cụ thể của cơ quan tiến hành tố tụng với tư cách là chủ thể tố tụng). Quyền hạn, trách nhiệm cụ thể của các cơ quan này được thể hiện thông qua quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan (Viện trưởng, Chánh án, Thủ trưởng Cơ quan điều tra). Riêng Hội đồng xét xử là tổ chức đặc thù và Hội đồng xét cử có phải là "cơ quan" hay không, thì theo chúng tôi, Hội đồng xét xử không đồng nghĩa với khái niệm "cơ quan Tòa án", "cơ quan xét xử" được thể hiện trong Bộ luật TTHS và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng không phải là Thủ trưởng phiên tòa.

- Mặc dù thực tế quyền hạn, trách nhiệm của cấp trưởng trong bất cứ cơ quan, tổ chức nào cũng khác cấp phó (thường được coi là người giúp việc cho cấp Trưởng), nhưng việc quy định quyền hạn, trách nhiệm của cấp phó trong TTHS là thiết tưởng cần được cân nhắc lại. Quy định quyền hạn, trách nhiệm riêng biệt cho cấp phó, một mặt, vừa làm giảm trách nhiệm của cấp trưởng, mặt .. . khác vừa thu hẹp phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của các chức danh tư pháp "nhân viên thuộc quyền" trong các cơ quan tiến hành tố tụng, vô hình chung biến các chức danh tư pháp này không khác mấy nhân viên trong cơ quan quản  lý hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, về mặt tổ chức, làm tăng số lượng cấp phó một cách đột biến ở các cơ quan tiến hành tố tụng.

- Vị trí vai trò của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự (xét xử) cũng là điều cần nghiên cứu. Việc xét xử tập thể và quyết định theo đa số (theo Luật TTHS Việt Nam) thực tế đã đánh đồng vai trò của Thẩm phán chuyên nghiệp với Hội thẩm nhân dân đa số là người hiểu biết hạn chế về pháp luật. Trong khi ở Việt Nam chưa áp dụng chế định xét xử bởỉ một Thẩm phán chuyên nghiệp đang gây áp lực quá tải ở nhiều Tòa án, thì việc tham gia của Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán như đã nêu vẫn dễ mang tính hình thức, trong nhiều trường hợp hầu như Thẩm phán quyết định mọi việc.

- Việc quy định thẩm quyền, trách nhiệm tố tụng cho Thư ký phiên tòa liệu có cần thiết ? Trái lại, Thủ trưởng và nhân viên các cơ quan thuộc Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ấy được giao nhiều quyền hạn và trách nhiệm tố tụng, kể cả quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành một số hoạt động điều tra theo Luật TTHS (Điều 111 – Bộ luật TTHS), nhưng lại không được quy định là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ? Bên cạnh đó tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 111 - Bộ luật TTHS giao Viện kiểm sát "kiển sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan này", nhưng lại không quy định cụ thể là kiểm sát như thế nào . . . và giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng trong hoạt động điều tra của Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân  cũng là một điểm hạn chế khác của Bộ luật TTHS.

1.5. Chủ thể tham gia tố tụng (Chương IV Bộ luật TTHS):

1.5.1. Người tham gia tố tụng theo Bộ luật TTHS Việt Nam, bao gồm:

- Người bị tạm giữ (Điều 48);

- Bị can (Điều 49);

- Bị cáo (Điều 50);

- Người bị hại (Điều 51);

- Nguyên đơn dân sự (Điều 52);

- Bị đơn dân sự (Điều 53);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 54); - Người làm chứng (Điều 55);

- Người bào chữa (Điều 56);

- Người bảo vệ quyền lợi của đương sự (Điều 59);

- Người giám định (Điều 60);

- Người phiên dịch (Điều 61).

1.5.2. Theo luật TTHS Việt Nam, người tham gia TTHS chủ yếu là các cá nhân có nghĩa vụ tham gia tố tụng và họ cũng được pháp luật xác định có những quyền hạn và trách nhiệm cụ thể. Do pháp luật hình sự Việt Nam chưa quy định pháp nhân là chủ thể tội phạm nên tổ chức chỉ có thể trở thành người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và có thể là cơ quan giám định. Phân tích về vị trí quyền và nghĩa vụ tố tụng của từng loại người tham gia tố tụng là công việc phức tạp, đòi hỏi công sức và trí tuệ của nhiều nhà nghiên cứu. Ví như việc thừa nhận hay không thừa nhận pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự, rồi từ đó xác định vị trí đặc biệt của pháp nhân với tư cách là người tham gia tố tụng; bên cạnh đó là hàng loạt những vấn đề lâu nay đã được đề cập, như giới hạn quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, hiện thực hóa vị trí, vai trò của bào chữa viên nhân dân, vấn đề bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29 Bộ luật TTHS)

II. Quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự

2 .1. Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

2.1.1. Viện kiểm sát - cơ quan tiến hành tố tụng

Trong luật TTHS Việt Nam, thuật ngữ Viện kiểm sát thường được hiểu như hệ thống cơ quan kiểm sát, ngành kiểm sát. Bên cạnh thuật ngữ Viện kiểm sát, luật TTHS còn ghi nhận các khái niệm khác như Viện kiểm sát quân sự, Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát cấp huyện. Các cấp Viện kiểm sát này là nhóm các cơ quan tạo thành hệ thống Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đôi khi thuật ngữ Viện kiểm sát cũng dùng để chỉ một cơ quan Viện kiểm sát cụ thể nào đó. Ví dụ: Trong vụ án cụ thể A, B, C, Viện kiểm sát đã khởi tố các bị can X, Y; Z.

Do Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng, nên Bộ luật TTHS đã xác định vị trí, quy định quyền và trách nhiệm chung của Viện kiểm  sát trong tố tụng. Nhưng sự việc trở nên phức tạp hơn, khi cũng chính Bộ luật TTHS đồng thời còn quy định quyền và trách nhiệm tố tụng riêng biệt của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát vốn là người đứng đầu cơ quan, lại là người tiến hành tố tụng. Về vấn đề này, chúng tôi đã lưu ý ở phần trên.

Trong TTHS Việt Nam, Viện kiểm sát giữ vai trò tương tự vai trò của cơ quan công tố (phố biến ở nhiều nước), đồng thời còn giữ vai trò kiểm sát hoạt động tố tụng (chỉ ở một số ít nước). Đây là đặc điểm lớn nhất của Viện kiểm sát. Việt Nam (bên cạnh đặc điểm là Viện kiểm sát được tổ chức tập trung thống nhất do cơ quan quyền lực nhà nước lập ra và báo cáo công tác trước cơ quan này).

2.1.2 . Viện kiểm sát - cơ quan công tố

Luật TTHS Việt Nam chưa coi Viện kiểm sát là cơ quan công tố, mới chỉ dừng lại ở mức quy định: Viện kiểm sát thực hành quyền công tố (xem Điều 23, Điều 112 Bộ luật TTHS). Nếu như kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS về cơ bản đã được làm rõ, từ mục đích đến hoạt động và cơ chế bảo đảm, thì trái lại, thế nào là thực hành quyền công tố và quan hệ giữa quyền công tố với các quyền khác trong TTHS (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) hiện vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau. Chúng tôi cho rằng, công tố là quá trình nhân danh nhà nước tìm chứng cứ buộc tội và do vậy, mọi hành vi nhằm mục đích này, liên quan đến hoạt động này đều thuộc phạm trù "thực hành quyền công tố” (Theo đó, Khoản 1 Điều 23 của Bộ luật TTHS tách "quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án" ra khỏi khái niệm "thực hành quyền công tố” là thiếu chính xác). Như vậy, tuyệt đại đa số các hành vi tố tụng thuộc quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong TTHS thực chất là các hành vi thực hành quyền công tố của cơ quan công tố. Từ đó, có người còn cho rằng, nếu Viện kiểm sát không tiếp tục thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp nữa, thì Viện kiểm sát hoàn toàn có thể đổi tên thành Viện công tố.

2.1.3. Kiểm sát trong tố tụng hình sự

Kiểm sát trong TTHS là kiểm sát hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vả người tham gia tố tụng. Còn hoạt động thi hành án hình sự, tuy cũng là đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát, song do không hoàn toàn là hoạt động tố tụng, nên việc kiểm sát sẽ tuân theo quy định riêng (Luật thi hành án hình sự). Theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam thì kiểm sát việc tuân theo pháp luật là "nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để làm oan người vô tội”  (khoản 3, ĐIỀU 23 Bộ luật TTHS). Vấn đề đặt ra ở đây là: Viện kiểm sát đồng thời là cơ quan tiến hành tố tụng, tiến hành hàng loạt hành vi "thực hành quyền công tố” thì liệu Viện kiểm sát có trở thành đối tượng bị kiểm sát hay không và Viện kiểm sát tự kiểm sát hoạt động công tố của mình như thế nào.

2.2. Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự

2.2.1. Điều tra theo luật tố tụng hình sự

Vấn đề tưởng là đương nhiên: Mọi hoạt động TTHS của Cơ quan điều tra (cơ quan tiến hành tố tụng), Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên (người tiến hành tố tụng) phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật TTHS (Điều 3 - Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự), mà tập trung nhất là theo các quy định ở Phần thứ hai của Bộ luật TTHS năm 2003 (về khởi tố, điều tra vụ án hình sự và quy định việc truy tố). Tuy nhiên, do quyết định về điều tra ở Bộ luật TTHS vẫn còn là "quy định chung", nên thực tế cơ sở pháp lý cho hoạt động điều tra trong tố tụng vẫn còn phải dựa vào nhiều quy định ngoài Bộ luật TTHS, mà Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự chỉ là một ví dụ điển hình.

2.2.2. Hệ thống Cơ quan điều tra

- Điều 110 Bộ luật TTHS xác định hệ thống Cơ quan điều tra và thẩm quyền điều tra của từng loại, từng cấp Cơ quan điều tra trong cùng loại. Có 5 loại Cơ quan điều tra, gồm:

+ Cơ quan Cảnh sát điều tra;

+ Cơ quan An ninh điều tra;

+ Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội;

+ Cơ quan điều tra an ninh trong Quân đội;

+ Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Cùng với hệ thống Cơ quan điều tra mang tính chuyên nghiệp nêu trên, Điều 111 Bộ luật TTHS còn quy định quyền hạn điều tra của Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự đã xác định cụ thể từng loại cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra và rõ ràng là nhóm những cơ quan này khá phong phú, rải đều trên các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước và quản lý an ninh trật tự.

2.2.3. Một số nhận xét về Cơ quan điều tra tố tụng

Với Bộ luật TTHS năm 2003, lần đầu tiên bên cạnh hệ thống cơ quan Viện kiểm sát và Tòa án, sự hiện diện Cơ quan điều tra cùng với nhóm các cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra là một bước tiến lớn, biến các cơ quan điều tra thành cơ quan tiến hành tố tụng đích thực với các quyền và trách nhiệm tố tụng cụ thể. Tuy nhiên, nhìn nhận Cơ quan điều tra và các cơ quan khác từ góc độ khoa học luật TTHS, dễ dàng nhận thấy quy định về các Cơ quan điều tra còn bộc lộ những khiếm khuyết sau đây:

- Còn khó phân biệt quyền và trách nhiệm giữa Cơ quan điều tra với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, giữa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra với Điều tra viên.

- Điều tra viên vẫn là chức danh ít có quyền năng tố tụng thực tế.

- Khái niệm Cơ quan điều tra chưa bao hàm các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, mặc dù thực tế nhóm cơ quan thứ hai này tiến hành rất nhiều biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật TTHS. Bên cạnh đó, khi một số điều luật quy định cơ quan khác được giao thẩm quyền và có trách nhiệm tiến hành một số hành vi tố tụng, thì khó nhận biết đó là quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hay cả cấp phó và nhân viên của các cơ quan này.

- Cùng với hoạt động điều tra theo luật TTHS, Cơ quan điều tra và cả các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra còn thực hiện rất nhiều hành vi liên quan như điều tra bí mật, thực hiện nghiệp vụ hành chính. Từ đó, xuất hiện quan hệ tố tụng và quan hệ hành chính - quản lý đan xen, khó điều chỉnh và tác động về phương diện luật pháp, gây trở ngại cho các cơ quan thực hiện nhiệm vụ kiểm sát hoạt động điều tra.

Một số biện pháp điều tra thu thập chứng cứ có sử dụng phương tiện kỹ thuật, vốn cần được quy định trong luật TTHS (các công ước Liên hợp quốc về phòng, chống ma túy, về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đều có khuyến nghị các quốc gia tham gia công ước ghi nhận và áp dụng loại quy định này), nhưng đến nay pháp luật Việt Nam vẫn coi đây là biện pháp trinh sát nghiệp vụ, chưa thừa nhận là biện pháp thu thập chứng cứ trong TTHS. Điều này cũng góp phần làm cho việc chứng minh tội phạm và người phạm tội gặp nhiều khó khăn.

2.3. Quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra trong tố tụng hình

2.3.1. Đặc điểm quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra Trong TTHS, quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra là quan hệ tố tụng (giữa cơ quan tiến hành tố tụng, cùng chung mục đích tố tụng, do pháp luật TTHS điều chỉnh). Do Viện kiểm sát trong TTHS đồng thời thực hành quyền công tố trong TTHS nên quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra vừa mang tính chất phối hợp cùng chung mục đích phát hiện nhanh chóng, khởi tố và điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; đồng thời vừa mang tính chế ước từ phía cơ quan kiểm sát. Việc phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra là bắt buộc không chỉ vì cùng mục đích tố tụng; mà còn do sự phân vai trong thực hiện nguyên tắc tranh tụng, trong thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của TTHS. Còn quan hệ chế ước xuất phát từ yêu cầu kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra trong TTHS.

Quan hệ giữa Viện kiếm sát và Cơ quan điều tra được điều chỉnh bởi nhiều quy định trong Bộ luật TTHS, nhưng nổi bật nhất là ở Điều 112 - Nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Điều 113 - Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra, Điều 114 - Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc. thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát.

Trong mối quan hệ chằng chịt giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra, khó có thể tách bạch giữa quan hệ công tố và quan hệ kiểm sát. Sự phân định hoạt động công tố và hoạt động kiểm sát trong điều tra ở các Điều 112, 113 của Bộ luật TTHS chỉ là tương đối, thậm chí còn lẫn lộn. Bên cạnh đó, như đã nêu ở phần trên, mối quan hệ giữa một bên là Viện kiểm sát,Viện trưởng; Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và bên kia là Cơ quan điều tra, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên là quan hệ đan xen khó nhận biết, nhất là khi cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý. Đó là chưa kể, do Cơ quan điều tra thuộc hệ thống hành pháp, bên cạnh quan hệ tố tụng vốn là quan hệ tư pháp, còn bị chi phối bởi nhiều mối quan hệ hành chính, vũ trang từ đó nên thường xuất hiện những vướng mắc, ảnh hưởng, thậm chí tác động trái chiều đến hoạt động diều tra tố tụng và kiểm sát điều tra.

Cũng có thể coi là đặc điểm nổi bật riêng có giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong TTHS Việt Nam khi hoạt động điều tra không chỉ do Cơ quan điều tra thực hiện, trong lúc hoạt động công tố dường như chỉ thuộc về Viện kiểm sát.

Lý luận và thực tiễn TTHS Việt Nam đang đi theo hướng gắn kết giữa điều tra và công tố và theo chúng tôi, cần cân nhắc việc coi truy tố là giai đoạn độc lập tiếp sau giai đoạn điều tra (điều tra, truy tố, xét xử). Truy tố - thực chất chỉ là nhóm hành vi thuộc phạm trù công tố. Bởi vậy, quy định tại Khoản 1, Điều 23 Bộ luật TTHS - Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật: “1. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án" dường như đã thừa vế sau.

Mặc dù thực hành quyền công tố theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành là quyền riêng có của Viện kiểm sát, nhưng việc Cơ quan điều tra được giao quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, nhân danh nhà nước áp dụng các biện pháp ngăn chặn, tiến hành hàng loạt biện pháp điều tra tố tụng độc lập… thì rõ ràng là Cơ quan điều tra vừa phục vụ công tố, vừa độc lập tham gia vào lĩnh vực công tố.

2.3.2. Quan hệ kiểm sát điều tra (Điều 113)

Điều 113 Bộ luật TTHS quy định 3 nhóm nhiệm vụ, đồng thời cũng là quyền hạn của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra, gồm:

"1. Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra,…

3. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra,

4. Yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra, yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên, yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật khi tiến hành điều tra ...".

Thực ra, Điều 113 cũng chỉ mới liệt kê những nhiệm vụ, quyền hạn chung nhất, bởi lẽ, các hoạt động như kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra cụ thể như thế nào cũng cần được quy định rõ trong Bộ luật TTHS. Bằng không, thực tế rất dễ gây khúc mắc kiểu "quyền anh, quyền tôi" hiện tượng dễ gặp trong quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra.

2.3.3. Quan hệ giữa công tố và điều tra

Ở Việt Nam chưa có Cơ quan công tố và Công tố viên bởi vậy cũng chưa hình thành dạng quan hệ pháp lý phổ biến như ở nhiều nước, quan hệ giữa Cơ quan công tố và Cơ quan điều tra, giữa Công tố viên và Điều tra viên. Tuy nhiên, hoạt động mang tính chất công tố vẫn luôn tồn tại, và Điều 112 Bộ luật TTHS năm 2003 lần đầu tiên ghi nhận các phần việc thuộc phạm trù thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát.

"Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra,: Viện kiếm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật này;

2. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này,

3. Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của Bộ luật này, nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;

4. Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do;

5. Huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

6. Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án".

Chưa bàn đến một số quy định còn lẫn lộn giữa thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát, nhưng rõ ràng là để thực hiện những quy định trên đây, cơ quan thực hiện "các hành vi công tố" hoàn toàn ngang tầm với cơ quan công tố chuyên nghiệp được xác lập trong TTHS của nhiều nước. Từ đó, có thể nói, các mối quan hệ giữa Viện kiểm sát "thực hành quyền công tố" với cơ quan “thực hành điều tra” thực chất là quan hệ giữa công tố và điều tra. Và như đã nêu, quan hệ giữa công tố và điều tra, về bản chất là quan hệ phối hợp, cùng chiều nên là quan hệ tương tác. Quan hệ này khác với quan hệ giữa "thực hành" kiểm sát và "thực hành" điều tra.

2.3.4. Quan hệ giữa kiểm sát và điều tra

Điều 113 của Bộ luật TTHS quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra thực chất là xác định khung quan hệ giữa kiểm sát và điều tra. Đó là:

- Viện kiểm sát kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra.

- Yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra.

- Kiến nghị với Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Trong các mối quan hệ trên đây, thì việc kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra là hoạt động phong phú, phức tạp và dễ nảy sinh vấn đề nhất. Trong nhiều nguyên nhân, nhưng chúng tôi chỉ lưu ý rằng Cơ quan điều tra thường đón đợi Viện kiểm sát (Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên) xuất hiện với tư cách là phối hợp điều tra, phối hợp thực hiện mục đích công tố, và ngược lại, coi hoạt động kiểm sát như là hoạt động không thiện chí, "vạch lá tìm sâu", hạn chế hoặc cản trở Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các quyền điều tra do pháp luật tố tụng (và cả các quy phạm pháp luật khác) quy định. Việc Bộ luật TTHS giao cho một cơ quan, thậm chí giao cho một người (Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên) đồng thời thực hiện hai chức năng: Công tố và kiểm sát điều tra càng làm cho việc nhận thức vấn đề thêm phức tạp, nhất là từ phía Cơ quan điều tra.

III. Một số kiến nghị

3.1. Cần tiếp tục nghiên cứu lý luận phục vụ cải cách tố tụng hình sự. Lý luận TTHS Việt Nam chưa phát triển đến mức có thể lý giải và cao hơn là dẫn đường cho việc cải cách thủ tục tố tụng hình sự. Nhiều vấn đề lớn như xây dựng kiểu TTHS phù hợp, phân định chức năng buộc tội, gỡ tội, phân chia giai đoạn tố tụng, xác định vị trí và phân định quyền và trách nhiệm của các chủ thể tố tụng hình sự trong thời kỳ hội nhập ... đang cần được nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ và thuyết phục hơn. Liên quan đến nội dung của bài viết này, nhiều vấn đề thiết tưởng cũng cần được kiến giải thêm về mặt lý luận, như:

- Đối với cơ quan xét xử hình sự: Các cấp xét xử trong đó có phiên toà xét xử lại các bản án và quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; kháng cáo và kháng nghị bản án của Tòa án; xét xử tập thể và xét xử bởi một Thẩm phán; xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia; kiểm sát xét xử; vai trò của Tòa án trong quá trình thi hành bản án hình sự.

- Đối với cơ quan kiểm sát: Phân biệt giữa kiểm sát và công tố; tổ chức cơ quan thực hành quyền công tố và cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát; phân định vai trò, quyền và trách nhiệm của cơ quan, người đứng đầu và người không giữ chức vụ quản lý hành chính nhà nước trong cơ, quan Viện kiểm sát (cũng  như Cơ quan Tòa án, Cơ quan điều tra).

- Đối với Cơ quan điều tra: Điều tra chuyên trách và điều tra ban đầu; điều tra tố tụng và việc tham gia điều tra tố tụng của các cơ quan quản lý chuyên ngành, cơ quan thuộc lực lượng vũ trang; mức độ gắn kết giữa điều tra tố tụng và công tố; hoạt động điều tra và nguyên tắc tranh tụng...

- Đối với người tham gia tố tụng: Khi người tham gia tố tụng là pháp nhân; quy định quyền và trách nhiệm của người tham gia tố tụng thế nào để có thể thực hiện được nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự...

3.2. Đề xuất mô hình kiểm sát, công tố và điều tra trong tố tụng hình sự

3.2.1 . Phân biệt kiểm sát với công tố, kiểm sát với điều tra

- Sửa đổi, bổ sung pháp luật theo hướng: Nếu còn tồn tại chế định kiểm sát trong TTHS thì chức năng này cần tách biệt với chức năng công tố, và hoạt động công tố cũng phải được kiểm sát như đối với hoạt động điều tra, xét xử. Theo hướng này, có thể thành lập Viện công tố và xác lập các chức danh Viện trưởng Viện công tố, Công tố viên - độc lập với các chức danh Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Bước đầu, Viện công tố có thể đặt trong hệ thống Viện kiểm sát.

- Loại bỏ chức danh Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự với tư cách là người tiến hành tố tụng độc lập. Những quyền hạn và trách nhiệm pháp lý hiện nay luật đang giao cho các cấp phó này cần chuyển cho Kiểm sát viên và Điều tra viên.

3.2.2. Xác định rõ vị trí tố tụng của nhóm các cơ quan được giao tiến hành một số nhiệm vụ điều tra theo hướng: Giao quyền hạn và trách nhiệm tiến hành một số nhiệm vụ điều tra cho chính người đứng đầu các cơ quan đó; và bản thân những người này có vị trí ngang hàng với người tiến hành tố tụng khác.

Trên đây là một số ý kiến và kiến nghị rút ra từ suy ngẫm của cá nhân tôi, xin mạnh dạn nêu để những ai quan tâm đến vấn đề này cùng tham khảo./.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp - kinh nghiệm CHLB Đức” do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Quỹ Hợp tác quốc tế về pháp luật CHLB Đức phối hợp tổ chức ngày 9-10/6/2011 tại Hà Nội,

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi