Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát luôn là cái nôi đào tạo đội ngũ cán bộ ngành Kiểm sát

Ngày 25/4/1970, trên cơ sở đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Thường vị Quốc hội đã ra Nghị quyết số 900/NQ-TVQH phê chuẩn Quyết định số 62/QĐ-TC của Viện trưởng VKSND tối cao về tổ chức bộ máy của Viện KSND tối cao. Theo đó,  Trường Bổ túc và đào tạo cán bộ kiểm sát, một trong những đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, được chính thức thành lập. Ngày 25/4 hàng năm được coi là ngày truyền thống của Trường.

Những ngày đầu thành lập, Trưởng mới chỉ làm nhiệm vụ bồi dưỡng ngắn hạn và đào tạo trình độ trung cấp kiểm sát. Vào năm 1976 - 1977, ngoài nhiệm vụ đào tạo cán bộ trình độ trung cấp kiểm sát và bồi dưỡng cán bộ, Trường bắt đầu đào tạo trình độ cao đẳng kiểm sát hệ chuyên tu, sau đó là đào tạo trình độ cao đẳng kiểm sát hệ tại chức cho các cán bộ của ngành.

Từ năm 1981 trở đi, Trường bắt đầu tổ chức kỳ thi tuyển sinh theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và đào tạo để đào tạo trình độ cao đẳng kiểm sát hệ chính quy 4 năm; đồng thời, tiếp tục làm nhiệm vụ bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ của ngành.

Đến năm 2003, ngoài việc tiếp tục đào tạo các lớp cao đẳng kiểm sát tuyển sinh từ những năm trước, để đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ kiểm sát theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002, Trường bắt đầu được giao thêm nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ kiểm sát cho đối tượng là những cán bộ được tuyển vào ngành đã có trình độ cử nhân luật nhưng chưa qua đào tạo nghiệp vụ kiểm sát.

Từ năm 2005, Trường chủ yếu làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát. Đối tượng đào tạo là những cán bộ vào ngành đã tốt nghiệp đại học luật nhưng chưa qua đào tạo nghiệp vụ kiểm sát. Đối tượng bồi dưỡng là những Kiểm sát viên, cán bộ lãnh đạo các cấp. Nội dung bồi dưỡng là các kiến thức về hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành chuyên ngành, về các khâu nghiệp vụ kiểm sát, về khoa học điều tra tội phạm, hội nhập quốc tế…

   Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Phần lớn cán bộ ngành kiểm sát nhân dân được đào tạo từ Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát. Nhiều cán bộ, giảng viên và học viên của Trường đã được giao những cương vị cao trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và của ngành. Sự lớn mạnh, uy tín, vị thế và những kết quả to lớn trong hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân trong những năm qua có phần đóng góp không nhỏ của đội ngũ các thế hệ cán bộ, giảng viên và học viên của Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát.

Hiện nay, trước yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đặt ra như một yêu cầu tất yếu. Trong xu thế đó, có quan điểm cho rằng cần xem xét lại chức năng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, trong đó có chức năng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát. Theo quan điểm này, ngành Kiểm sát chỉ nên duy trì Trường của ngành làm nhiệm vụ bồi dưỡng cán bộ, còn chức năng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát thì nên giao cho một cơ sở đào tạo khác có nhiệm vụ đào tạo chung các chức danh tư pháp. Theo quan điểm này, các chức danh tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư cần được đào tạo theo chương trình chung, theo mặt bằng kiến thức chung để có thể chuyển đổi giữa các chức danh sau mỗi giai đoạn nhất định; đồng thời, với việc đào tạo chung các chức danh tư pháp trong một cơ sở đào tạo sẽ tập trung được nguồn lực cho công tác  đào tạo các chức danh tư pháp, góp phần tiết kiệm chi phí đào tạo và để các trường ngành (Trường kiểm sát, Trường Tòa án…) tập trung thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bồi dưỡng cán bộ. Mặt khác việc đào tạo chung các chức danh tư pháp sẽ là điều kiện để có thể mở rộng hợp tác quốc tế với các cơ sở đào tạo tương ứng của nước ngoài…

Theo chúng tôi, trong giai đoạn hiện nay, quan điểm trên chưa xuất phát từ thực tiễn và cần được cân nhắc thêm.

Thứ nhất, theo các quy định hiện hành, để được bổ nhiệm làm thẩm phán, kiểm sát viên hay luật sư thì ứng viên phải có bằng cử nhân luật. Trình độ cử nhân luật là mặt bằng kiến thức pháp luật chung mà các cán bộ muốn được bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp phải đạt được. Còn các kiến thức về nghiệp vụ điều tra, kiểm sát, xét xử hay bào chữa lại là kiến thức thuộc kỹ năng nghề nghiệp có tính đặc thù của mỗi chức danh. Không thể có mặt bằng kiến thức nghề nghiệp chung cho tất cả các chức danh tư pháp.

Hoạt động tại phiên tòa xét xử có sự tham gia của Thẩm phán, luật sư, kiểm sát viên có điểm chung là chúng đều là hoạt động áp dụng pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa xét xử, khi tham gia vào quá trình xét xử, kỹ năng xét xử của thẩm phán, kỹ năng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên và kỹ năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự của luật sư là khác nhau.

Mặt khác, nếu như hoạt động của thẩm phán chủ yếu chỉ tập trung vào việc  nghiên cứu hồ sơ vụ án để tham gia xét xử thì hoạt động của kiểm sát viên lại rộng hơn. Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, kiểm sát viên phải tham gia tố tụng ngay từ khi có tin báo, tố giác tội phạm để tiến hành kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội pham; xem xét quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án, khởi tố hay không khởi tố bị can. Kiểm sát viên phải tham gia kiểm sát điều tra ngay từ đầu nhằm bảo đảm việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra đúng theo quy đinh của pháp luật.

Trong tố tụng hình sự, kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm chính về những oan, sai trong quá trình bắt, giam, giữ, điều tra. Viện kiểm sát là người quyết định việc truy tố, nhân danh Nhà nước truy tố bị can trước Tòa án.

Chủ trương của Đảng, thể hiện trong các Nghị quyết về  cải cách tư pháp, là phải gắn công tố với hoạt động điều tra, nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra. Để thực hiện chủ trương này, kiểm sát viên phải được trang bị sâu về khoa học nghiệp vụ kiểm sát, khoa học điều tra tội phạm… Không thể nói đây là mặt bằng kiến thức chung mà thẩm phán cũng cần phải có.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kiểm sát viên còn thực hiện chức năng kiểm sát việc thi hành án, kể cả trong lĩnh vực thi hành án hình sự cũng như thi hành án dân sự nhằm bảo đảm việc thi hành án tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Đây là hoạt động ngiệp vụ mang tính đặc thù của riêng kiểm sát viên, khác biệt so với hoạt động của thẩm phán.

Rõ ràng, không thể nói có mặt bằng kỹ năng nghề nghiệp chung cho các chức danh tư pháp: Thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư.. để rồi thiết kế một chương trình đào tạo chung, áp dụng cho tất cả các chức danh đó.

Thứ hai, ý kiến cho rằng việc đào tạo chung các chức danh tư pháp sẽ tạo điều kiện tập trung nguồn lực cho việc đào tạo, tiết kiệm được kinh phí đào tạo… cũng cần được cân nhắc thêm. Bởi vì, với tính chất là đào tạo nghề thì phải do những người am hiểu sâu sắc, giỏi nghề, đào tạo. Muốn đào tạo kiểm sát viên tốt thì trước hết, người thầy phải là kiểm sát viên giỏi. Tương tự như vậy đố với việc đào tạo thẩm phán, luật sư. Hiện nay, đội ngũ thẩm phán thuộc thẩm quyền quản lý của Tòa án, đội ngũ kiểm sát viên thuộc thẩm quyền quản lý của Viện kiểm sát. Ý tưởng muốn đưa cả thẩm phán và kiểm sát viên vào một cơ sở đào tạo không thuộc thẩm quyền quản lý của Tòa án và của Viện kiểm sát sẽ khó có thể tập trung những thẩm phán, kiểm sát viên giỏi vào quá trình đào tạo các chức danh thẩm phán, kiểm sát viên (thẩm phán và kiểm sát viên là những chức danh tư pháp được bổ nhiệm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo luật định, do Tòa án, Viện kiểm sát quản lý. Họ không chịu sự quản lý của cơ quan quản lý hành chính khác).

Ý kiến về việc nếu tách chức năng đào tạo ra khỏi chức năng đào tạo, bồi dưỡng hiện nay của trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát sẽ tạo điều kiện để Trường kiểm sát thực hiện tốt hơn chức năng bồi dưỡng là thiếu cơ sở. Bởi vì, hiện nay hầu hết các hệ thống trường ngành đều là trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Hoạt động đào tạo nghiệp vụ kiểm sát và hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát của Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát là hai hoạt động thực hiện theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, có điểm chung là đều trang bị những kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đây không chỉ là hoạt động áp dụng pháp luật mà còn là hoạt động thực hiện các nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn nhất định, chỉ khác nhau ở mức độ trang bị những kiến thức cơ bản hay kiến thức chuyên sâu. Vì hoạt động kiểm sát thực chất là hoạt động phục vụ yêu cầu chính trị nên không thể có một chương trình, nội dung đào tạo bất biến áp dụng chung cho các giai đoạn khác nhau. Dù là trang bị những kiến thức cơ bản (đào tạo) hay chuyên sâu (bồi dưỡng) thì cả nội dung, chương trình đào tạo và bồi dưỡng đều phải thường xuyên được cập nhật, bổ sung cho phù hợp. Để thực hiện điều này các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các chuyên đề tổng kết, rút kinh nhiệm từ việc giải quyết các vụ án thực tiễn đóng vai trò quan trọng trong việc sửa đổi, bổ sung nội dung, chương tình đào tạo và bồi dưỡng. Tách hoạt động đào tạo nghiệp vụ với hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát với tính cách là hai hoạt động do hai cơ sở đào tạo của hai ngành khác nhau thực hiện có thể dẫn đến những hệ quả không tốt, nhất là nếu cơ sở làm nhiệm vụ đào tạo không cập nhật, nắm bắt được yêu cầu chính trị trong việc giải quyết các vấn đề nghiệp vụ mang ý nghĩa pháp lý- chính trị.

Về mặt quản lý, nếu một chủ thể vừa làm nhiệm vụ đào tạo những kiến thức cơ bản, vừa làm nhiệm vụ bồi dưỡng những kiến thức chuyên sâu sẽ biết được liều lượng cần đào tạo những kiến thức cơ bản gì cho người mới vào nghề và mức độ bồi dưỡng những kiến thức chuyên sâu gì cho đối tượng trước đây mình đã đào tạo. Trên cơ sở đó, thường xuyên sửa đổi, bổ sung nội dung, chương trình đào tạo và bồi dưỡng cho phù hợp. Như vậy, gắn đào tạo với bồi dưỡng trong cùng một cơ sở đào tạo sẽ mang lại hiệu quả tích cực hơn so với việc tách đào tạo và bồi dưỡng ra để thực hiện ở hai cơ sở đào tạo khác nhau.

Lập luận cho rằng nếu tập trung việc đào tạo các chức danh tư pháp vào một cơ sở đào tao sẽ tiết kiệm được chi phí cũng không thuyết phục. Hiện nay, biên chế toàn ngành kiểm sát khoảng gần 14.000 người, với hai cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát ở hai miền như hiện nay của ngành kiểm sát, thì việc vừa đào tạo, vừa bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ sẽ hiệu quả kinh tế hơn là tách đào tạo cho một cơ sở khác (đồng nghĩa với việc tách kinh phí đào tạo, tăng thêm kinh phí quản lý cho cơ sở đó) còn mình chỉ làm nhiệm vụ bồi dưỡng.

Ý kiến cho rằng tập trung việc đào tạo các chức danh thẩm phán, luật sư, kiểm sát viên vào chung một cơ sở dào tạo sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực đào tạo các chức danh này cũng thiếu cơ sở. Hiện nay, trên thế giới đã hình thành các hiệp hội quốc tế mang tính chất nghề nghiệp như hiêp hội các công tố viên, hiệp hội các thẩm phán…Ngành kiểm sát nhân dân đã và đang tham gia nhiều hơn vào các hoạt động hợp tác quốc tế với Viện kiểm sát, Viện công tố các nước, trong đó đã ký kết, tham gia vào nhiều điều ước quốc tế, trong đó có các nội dung liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên.

Tham khảo kinh nghiệm các nước, có thể thấy, phần lớn các nước trên thế giới đều thực hiện chủ trương lấy kiểm sát viên đào tạo kiểm sát viên, lấy thẩm phán đào tạo thẩm phán. Ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi giống ta như Trung Quốc, Liên bang Nga… các cơ sở (Học viện) đào tạo kiểm sát viên là thuộc về Viện kiểm sát, cơ sở (Học viện) đào tạo thẩm phán là thuộc về Tòa án.

Với những phân tích trên, có thể thấy, trong điều kiện nước ta hiện nay, quan điểm muốn bỏ chức năng đào tạo nghiệp vu kiểm sát của ngành kiểm sát nói chung, của Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát nói riêng để chuyển sang một sở đào tạo khác, với danh nghĩa để đào tạo chung các chức danh tư pháp, là không phù hợp.

Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, với 40 năm xây dựng và phát triển có đủ những điều kiện để thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ có chất lượng cho ngành kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Ngay từ những ngày đầu thành lập, Trường đã chú trọng công tác đào tạo nghiệp vụ kiểm sát. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân, hệ thống giáo trình nghiệp vụ kiểm sát được xây dựng từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước và không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Quá trình xây dựng và trưởng thành của Trường gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên có trình độ, tâm huyết với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành. Đến nay, cùng với đội ngũ giảng viên cơ hữu, Trường đã quy tụ được đội ngũ giảng viên kiêm chức đông đảo. Các đồng chí Lãnh đạo VKSNDTC, Lãnh đạo các đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các đồng chí có học vị tiến sĩ (khoảng trên 20 người), các kiểm sát viên giỏi của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát các địa phương đều được mời tham gia vào quá trình xây dựng nội dung, chương trình và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với tư cách là những giảng viên kiêm chức. Đây là lực lượng nòng cốt, quyết định chất lượng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát cho đội ngũ cán bộ của ngành kiểm sát mà không một cơ sở đào tạo nào khác có thể có được.

Trong những năm gần đây, ngành Kiểm sát đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giảng dạy, học tập cho Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát. Trụ sở của trường nằm trên diện tích sử dụng trên 20.000 m2 thuộc Quận Hà Đông, TP Hà Nội đang được triển khai xây dựng mới theo hướng khang trang, hiện đại. Khi hoàn thành có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành theo các yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Với những nhân tố trên (truyền thống; chương trình, nội dung, giáo trình; đội ngũi giảng viên; cơ sở vật chất), Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát hoàn toàn có thể thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát cho đội ngũ cán bộ của ngành Kiểm sát nhân dân.

Về nhiệm vụ của Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát trong thời gian tới, Chỉ thị số 02/CT - VKSTC ngày 15/01/2010 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nêu rõ: "Nâng cao chất lượng hoạt động của Trường Đào tạo, bòi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát và Phân hiệu tại TP Hồ Chí Minh, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình đô cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát các cấp. Đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị để đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ. Sớm nghiên cứu xây dựng Đề án Học viện Kiểm sát"

 Kết luận của đồng chí Trần Quốc Vượng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hội nghị triển khai công tác năm 2010 ngày 12/01/2010 cũng nhấn mạnh "Tiếp tục đầu tư lực lượng, cơ sở vật chất cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực lâu dài cho ngành; kiện toàn hai nhà trường, đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tạo tiền đề cho việc xây dựng Học viện kiểm sát".

Với truyền thống tốt đẹp của 40 năm xây dựng và phát triển; được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao; sự phối hợp, ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình và có hiệu quả của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và của các Viện kiểm sát địa phương; sự đoàn kết, cố gắng khắc phục khó khăn, quyết tâm của tập thể cán bộ, giảng viên của Trường, Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát nhất định sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho ngành Kiểm sát, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát thực sự trong sạch, vững mạnh để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. 

 

Tiến sĩ Phạm Mạnh Hùng - Hiệu trưởng Trường ĐT, BDNV kiểm sát

(Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 07 (Tháng 4/2010)   

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi