Tư tưởng lập hiến Việt Nam và một số vấn đề đặt ra khi tiến hành sửa đổi Hiến Pháp năm 1992

Khi nghiên cứu về tư tưởng lập hiến hiện đại, các nhà khoa học thường đi đến nhận định: "Các tư tưởng lập hiến hiện đại đều coi hiến pháp như một văn bản có sứ mệnh xác lập chế độ mới thay thế chế độ cũ và coi nó như là một bản khế ước xã hội của nhân dân".(1) Ở Việt Nam, tư tưởng lập hiến Việt Nam ra đời muộn hơn các tư tưởng lập hiến trên thế giới nên có ưu thế là vừa kế thừa tư tưởng lập hiến hiện đại lại vừa thể hiện một cách sâu sắc xã hội Việt Nam qua các thời kì lịch sử. Do đó, sự hình thành, phát triển tư tưởng lập hiến Việt Nam cũng có nhiều thăng trầm, gắn liền với các cuộc cải cách chính trị, các cuộc cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc trong nước và các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Tư tưởng lập hiến của Việt Nam vì thế đan xen hai trào lưu tư tưởng: trào lưu thứ nhất: tư tưởng lập hiến yêu nước - khuynh hướng kiên quyết chống thực dân Pháp để giành độc lập cho đất nước; trào lưu thứ hai: khuynh hướng thoả hiệp: duy trì sự thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam và nhờ Pháp ban hành hiến pháp và pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam. Bài viết tập trung phân tích hai trào lưu tư tưởng lập hiến của Việt Nam nêu trên, từ đó đặt vấn đề nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp hiện hành.

1. Tư tưởng lập hiến Việt Nam đầu thế kỉ XX

a. Tư tưởng lập hiến yêu nước

* Tư tưởng lập hiến của Phan Bội Châu

 Điển hình cho tư tưởng lập hiến theo khuynh hướng chống Pháp, giành độc lập dân tộc là tư tưởng của Phan Bội Châu.(2) Tư tưởng lập hiến của Phan Bội Châu được thể hiện rõ ràng nhất ở thời điểm phong trào Cần vương bị thất bại, Nhật Bản là đất nước châu Á đầu tiên có Hiến pháp. Bản Hiến pháp Minh Trị đã tạo ra cơ sở pháp lí vững chắc để Nhật Bản phát triển dân trí, dân chủ và dân quyền. Sự phát triển về chính trị - pháp lí của Nhật Bản đã tác động vào tinh thần yêu nước trến bộ của Phan Bội Châu, ông khẳng định tư tưởng học hỏi, cầu thị rất trến bộ:

"Gương Nhật Bản, đất Á Đông

Gương ta ta phải soi chung khỏi lầm "

……..

 "Lập hiến pháp từ đầu Minh Trị

Bốn mươi năm dân trí mở mang ".(3)

"Tôi thiết tưởng nước ta từ xưa vẫn chưa có Hiến pháp. nay lập bán Hiến pháp không những là một sự hay, lại còn là một điều cần. Thế nào cũng phải có Hiến pháp, lẽ ấy tất nhiên".(4) Theo Phan Bội Châu thì mô hình Hiến pháp Việt Nam sẽ "châm chước theo hiến pháp của các nước quân chủ như Anh, nước Nhật theo hiến pháp của các nước Mỹ, nước Đức, nước Nga... lại phải tùy theo trình độ dân ta mà lựa chọn lấy những điều thích hợp thì mới có thể gọi là hoàn thiện được ".(5)

Quan niệm này cho thấy Phan Bội Châu là người có tư tưởng lập hiến tiến bộ. Ông muốn Việt Nam có bản Hiến pháp như các nước phát triển song lại không muốn rập khuôn, khiên cưỡng mà muốn bản hiến pháp đó phải thể hiện sâu đậm bản chất của Việt Nam trên nền chính thể quân chủ. Tuy nhiên, sau này, trong cuộc họp thành lập Việt Nam Quang phục hội, Phan Bội Châu khi chắp bút viết tôn chỉ của hội đã khẳng định mô hình chính thể của Việt Nam là: "Khu trục Pháp tặc, khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam cộng hoà quốc".(6) Tư tưởng lập hiến hiện đại của Phan Bội Châu vừa thể hiện chủ nghĩa yêu nước vừa thể hiện tinh thần tiến bộ, cầu thị và học hỏi. Tư tưởng này đã được các chí sĩ Việt Nam yêu nước kế thừa.

* Tư tưởng lập hiến của Phan Châu Trinh

Cùng thời với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là nhà tư tưởng lập hiến yêu nước. Trong tư tưởng của mình, ông luôn đề cao hiến pháp và coi hiến pháp là công cụ pháp lí cơ bản để hạn chế quyền lực đang được tập trung trong tay vua ở các nhà nước phương Đông. Phan Châu Trinh khẳng định: “Lấy theo ý riêng một người hay một triều đình mà trị một nước, thì cái nước ấy không khác gì một đoàn chiến, được ấm no vui vé hay là phái đói lạnh khổ sớ, là tuỳ theo lòng rộng hay hẹp của người chăn chiến. Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các quan để lo chung cho mọi người... .(7) Cùng là xác định tầm quan trọng của hiến pháp song tư tưởng lập hiến của Phan Châu Trinh không giống với tư tướng lập hiến của Phan Bội Châu. Bởi lẽ, nếu như Phan Bội Châu khẳng định đường lối đấu tranh giành độc lập để ban hành bản hiến pháp thì Phan Châu Trinh lại thể hiện tư tưởng dựa vào Pháp để cầu tiến và tự trị. Do đó, trong tư tưởng của mình, Phan Châu Trinh luôn khẳng định lấy mẫu mực là nền dân chủ ở nước Pháp lúc bấy giờ bởi ông cho rằng "nước Pháp là một nước đẻ ra dân quyên cho thế giới ". "nước Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh của toàn cầu, nay hiện bảo hộ nước ta, mình nhân đó mà học theo, chuyên tâm về mặt khai trí trị sinh, các việc thực dụng, dân trí đã mở rộng, trình độ ngày sẽ một cao, tức là cái nền độc lập ngay sau ở đây(8) Theo Phan Châu Trinh thì chế độ quân chủ lập hiến "Quân dân cộng trị mà Tàu dịch là quân chủ lập hiến tức như chính thể nước Anh, nước Bỉ, nước Nhật đang theo hiện nay” là hình thức được thực hiện ở châu âu từ rất lâu rồi. Theo đó, ông cho rằng: "cái chủ nghĩa dân trị hơn cái chủ nghĩa quân trị nhiều"(9) bới lẽ "cái chủ nghĩa dân trị thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo chung mọi người. Lòng quốc dân muốn thế nào thì được thế ấy".(10) Như vậy, có thể thấy rằng tư tưởng lập hiến của Phan Châu Trinh là tư tưởng theo chủ nghĩa lập hiến dân chủ tư sản. Tư tưởng đó được xem là luồng ánh sáng chiếu rơi vào thực tiễn đất nước ta giai đoạn đầu của thế kỉ XX. Đó là sự cộng hưởng ánh sáng về chủ nghĩa lập hiến hiện đại: khẳng định vai trò của hiến pháp trong đời sống dân chủ của nhà nước.

* Tư tưởng lập hiến của Huỳnh Thúc Kháng

Bên cạnh Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, tư tưởng lập hiến của Huỳnh Thúc Kháng có sức, sống mãnh liệt bởi nó được khẳng định một cách rõ ràng nhất trong thực tiễn nhu cầu về hiến pháp. Tuy nhiên, con đường hình thành hiến pháp của Huỳnh Thúc Kháng lại hết sức đặc biệt. Ông khẳng định: “Chúng tôi sở dĩ nói đến vấn đề hiến pháp là vì thấy rõ trong xứ Trung Kỳ này phụ thuộc dưới quyền bảo hộ gần nửa thế kỉ nay, mà chính thể trong xứ quyền hạn không được rõ ràng, trách nhiệm không được đảm thụ, trăm điều rắc rối bởi đó mà ra. Quốc thị đã mơ màng thì nhân dân không biết đường nào xu hướng, đó là cái lẽ tự nhiên. Bởi vậy, để cho cuộc trị an trong xứ được lâu dài cùng các dây liên lạc giữa người Pháp cùng người Nam bền chặt thì cần thiết phải có một cơ thể chính trị, chia bộ phận mà có trách nhiệm, định quyền hạn mà có quy thức, để chỉnh đốn việc lợi ích chung trong xứ. Đó là một điều cốt yếu tức là Hiến pháp vậy”.(11) Với tư tưởng đó, Huỳnh Thúc Kháng đã khẳng định vai trò của hiến pháp trong bài diễn văn đọc tại Viện dân biểu Trung Kỳ: “Nhà nước mà cho hiến pháp là một cái nền nếp chính trị bền vững lâu dài trong xứ này, họp với toàn thể ý nguyện trong nhân dân ". Mặc dù Huỳnh Thúc Kháng có nhiều quan điểm tiến bộ và có vị trí quan trọng trong Viện dân biểu song thực chất, các quan điểm, tư tưởng lập hiến của ông lại gặp phải nhiều trở ngại, đặc biệt là với đối tượng thực dân phong kiến bởi những tuyên bố hùng hồn và sự hiểu biết cặn kẽ về vai trò của hiến pháp và chủ nghĩa lập hiến trên thế giới.

* Tư tưởng lập hiến của các sĩ phu  yêu nước thể hiện trong thơ văn Đông kinh nghĩa thục

Đông kinh nghĩa thục là phong trào của những sĩ phu yêu nước, xuất phát từ tầng lớp phong kiến song đã rời bỏ phong trào Cần vương cứu nước để đi theo con đường cứu nước mang tính dân chủ tư sản. Tư tưởng lập hiến Đông kinh nghĩa thục được thể hiện qua Văn minh tân học sách, Tân đính luân lí giáo khoa, quốc dân độc bản... Đây là trào lưu tư tưởng tiến bộ về hiến pháp được đánh giá cao trong lịch sử. Bởi lẽ, trong các tác phẩm của mình, các chí sĩ yêu nước đã khẳng định vai trò của hiến pháp, bài xích chế độ quân chủ chuyên chế, cổ vũ cho chủ nghĩa lập hiến đang lan rộng sức sống ở Tây âu, thể hiện: "Người châu âu họ tổ chức chính quyền trong nước có chính thể lập hiến, có chính thể quân dân cộng hoà. Cứ số bao nhiêu người dân thì cử một người làm nghị viên "(12)"Ngày nay, sống trong thế giới cạnh tranh kịch liệt, ta phải nghĩ đến liên hiệp các đoàn thể, cùng nhan định ra hiến pháp mà vui vẻ làm tròn nghiã vụ của quốc dân để bảo vệ non sông tổ quốc"(13)"Hiến pháp quy định chế độ chính quyền: chính thể lập hiến và chính thể cộng hoà. Vua tôi nắm chính quyền nhưng cũng ở trong phạm vi của hiến pháp. Nước ta thì không có mục nào như thế".(14)

* Tư tưởng lập hiến của các tầng lớp trí thức tân học

- Tư tưởng lập hiến của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường

Hai ông đều là trí thức từng học ở Pháp và chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân quyền của Pháp, Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường được nhắc đến là hình ảnh của những nhà dân chủ. Trong tư tưởng lập hiến của mình, các ông luôn thể hiện vị trí, vai trò của hiến pháp trong việc đảm bảo các quyền cơ bản của con người. Cả hai ông đều muốn tranh thủ quyền tự do ngôn luận và nghề nghiệp nhà báo của mình để khẳng định về tầm quan trọng của một hiến pháp dân chủ. Theo Nguyễn An Ninh thì "có hiến pháp để bảo đảm tự do và quyền lợi của các bạn ".(15) Còn Phan Xuân Trường thì khẳng định trong chế độ thuộc địa thì không có hiến pháp, do đó lập hiến là yêu cầu tất yếu của mọi dân tộc trong thời đại ấy. Ông xác định: "Hiến pháp là luật làm căn bổn. làm địa. Quốc chánh cứ nương đó mà lập ra các luật khác”.(16) Tư tưởng của Phan Văn Trường về lập hiến còn thể hiện sự tiến bộ, gần gũi với chủ nghĩa Mác. Bởi lẽ, theo Phan Văn Trường thì: "ở những nước có Hiến pháp, cái chủ ngãi quan hệ nhất là cái chủ ngãii phân quyền. Phân quyền nghĩa là lập nên những quyền trong quốc gia đứng tự chủ, không có quyền nọ phải qụy lụy quyền kia, như là quyền lập pháp là quyền làm ra pháp luật, đứng tự chủ không tùy lụy về quyền hành pháp là quyền thi hành những pháp luật đã ra rồi…”.(17)

* Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh được hình thành và thể hiện một cách rõ nét từ Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1979 sau này được phổ thơ với tựa đề Việt Nam yêu cầu ca (1922):

“Bảy xin Hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.(18)

Tiếp theo đó, trong Bản yêu sách gửi cho Hội vạn quốc (19) vào ngày 30/8/1926 Người đã khảng khái đề nghị: “Sắp xếp một nền Hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội theo như những lý tưởng dân quyền; luật kính trọng những cái thiểu số của chủng loại (nghĩa là không xâm phạm đến những dân tộc nhỏ như Lào, Cao Miên), biết tôn trọng sự làm ăn, cốt để lập một nền Đông Dương liên bang dân chủ”.(20)

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh rất tiến bộ. Bởi lẽ, Người khẳng định mối tương quan giữa hiến pháp và pháp quyền. Trong đó hiến pháp bao giờ cũng là tiền đề cho sự tồn tại của pháp quyền, còn pháp quyền là nhu cầu để hiến pháp được tồn tại và có hiệu lực. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, ý nghĩa, vai trò của hiến pháp được khẳng định bởi nó thể hiện tính chất “dân quyền” hay nói một cách khác, hiến pháp là văn bản pháp lý thể hiện các quyền cơ bản của con người. Thông qua hiến pháp, các quyền đó trở thành quyền năng hiến định đòi hỏi Nhà nước và các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Đây thực sự là tư tưởng lập hiến tiến bộ, văn minh và phù hợp với xu thế dân chủ của nhân loại.

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh được thể hiện trong cả quá trình đấu tranh tìm đường cứu nước song tập trung và rõ ràng nhất trong bản Tuyên ngôn độc lập và sau đó là các nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ thứ ba: “trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ra không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ”.(21)

Điều quan trọng trong tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh đó là Người khẳng định trong nhà nước thuộc chế độ quân chủ chuyên chế hay chế độ thực dân phong kiến thì hiến pháp không thể có điều kiện để tồn tại. Chỉ trong nhà nước dân chủ, các quyền công dân được đảm bảo thì mới nảy sinh nhu cầu cần có hiến pháp để thể hiện tinh thần dân chủ đó. Do vậy, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - một chính quyền non trẻ thì cho dù có nhiều việc cấp bách cần phải làm thì lập hiến phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Trong thực trễn soạn thảo bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, Hồ Chi Minh đã nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong việc ra đời hiến pháp. Đó là việc thu thập ý kiến của nhân dân về dự thảo Hiến pháp được Hội đồng Chính phủ thảo luận. Ngày 10/11/1945 , báo Cứu quốc đã đăng tải toàn văn dự thảo Hiến pháp kèm theo thông cáo: "Muốn cho tất cả nhân dân Việt Nam dự vào việc lập hiến của nước nhà nên Chính phủ công bố Bản dự thảo Hiến pháp này để mọi người đọc kĩ càng và được tự do bàn bạc, phê bình... Ủy ban dự thảo Hiến pháp sẽ tập trung các đề nghị sửa đổi và ý kiến của nhân dân rồi trình toàn quốc dân đại hội thảo luận".(22) Sau Tổng tuyển cử gần 2 tháng, Quốc hội đã triệu tập khóa đầu trên, bản dự thảo Hiến pháp đã được Quốc hội bàn bạc, thảo luận. Trong phiên bế mạc kì họp thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết luận: "Sau khi nước nhà mới được tự do được 14 tháng, đã làm thành bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản hiến pháp đầu còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu trên trên cõi Á Đông này nữa. Bản Hiền pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ quyền tư do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu lên một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp".(23) Bản Hiến pháp thứ nhất của Việt Nam đã thể hiện đậm nét tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh. Đó là tư tưởng lập hiến yêu nước, trến bộ. Tư tưởng lập hiến đó đã tạo ra các điều luật của bản hiến pháp ngang tầm với nền chính trị tiên tiến trên thế giới lúc bấy giờ. Cho đến ngày nay, giá trị của tư tướng lập hiến yêu nước của các nhà tư tưởng lập hiến Việt Nam thể hiện trong bản hiến pháp đầu trên vẫn đang có giá trị và ý nghĩa cho thời đại mới.

b. Tư tưởng lập hiến của những nhà lập hiến theo khuynh hướng thoả hiệp với thực dân Pháp

* Tư tưởng lập hiến của Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936)

Theo Nguyễn Văn Vĩnh thì thực dân tuy có hại nhưng không hại bằng phong kiến “Bảo hộ dù chưa làm cho ta đến cực điểm, song tỉ với thời xưa cũng còn hơn gấp trăm phần mà lại thêm được chút tự do, hơi nếm mùi dân chủ. Kẻ bạo ngược có ăn hiếp thì ăn hiếp được đứa dại mà thôi, người nào khôn ngoan. có học thì kể cũng được hưởng tự do chẳng kém chi người Lang-sa là mấy".(24) Đồng thời, tờ Đông Dương tạp chí cũng rao giảng: "Nghĩ trong bấy nhiêu lẽ thì dân ta thời nay chỉ nên giữ lấy một chủ nghĩa Pháp- Việt. May mà ta được thầy Đại pháp thì cố mà giữ riết lấy thầy Đại Pháp. Chuyên mà làm ăn, dốc chí học hành. Mấy thứ bàn nhãn, xu càn, bắt được, ta nên bỏ rọ lăn sông”.(25) Đây là tư tưởng lập hiến chịu sự ảnh hưởng của nền chính trị pháp lí Pháp dưới tên gọi bảo hộ. Với các lập luận của mình, tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh thể hiện mong muốn có chế độ dân chủ thực sự song muốn hưởng nền dân chủ thì đòi hỏi người dân phải có đủ trình độ dân trí để sử dụng. Do đó, dân trí, dân sinh, dân quyền là ba yêu cầu mà người dân phải có để thụ hưởng quyền dân chủ. Ba thứ quyền đó chỉ có được nếu chủ nghĩa Pháp - Việt được thực hiện ở Việt Nam. Tư tưởng này thể hiện mục đích hướng đến dân chủ song sai lầm về phương pháp thực hiện do đó đã vấp phải nhiều sự phản bác .

* Tư tưởng tập hiến của Phạm Quỳnh (1892 - 1945)

Tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh thể hiện theo chủ thuyết quân chủ lập hiến mạnh mẽ. Theo đó, "lập hiến là quốc vương đem một phần chính quyền của mình mà nhường cho hội nghị thay mặt dân" và “theo lối quân chủ lập hiến nghĩa là ban hiến pháp cho dân cùng được tham dự một phần vào việc nước bằng một hội nghị bầu cử quyền hạn rộng hẹp thế nào sẽ tùy theo trình độ dân mà định".(26) Phạm Quỳnh là người có tư tưởng lập hiến khá quyết liệt. Ông đã dùng nhiều lời lẽ phân tích, luận giải và so sánh chính thể cộng hoà với hình thức quân chủ lập hiến đang tồn tại ở Anh và Nhật. Trong chính thể quân chủ lập hiến mà ông bảo vệ, ông đã chỉ ra rằng: " Vua chỉ là người đứng tên thừa hành bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết đinh. Như thế, chúng ta có một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình. Chớ như chế độ cộng hoà hay dân chủ thì sợ mỗi lần sau bốn năm có thay đổi tổng thống thì phải thay đối tất cá làm cho guồng máy hành chính trong nước phải bị xáo trộn trầm trọng ".(27) Với lập luận như vậy, Phạm Quỳnh còn chỉ ra cách lập hiến cho nước Nam và nhu cầu lập hiến đăng trên báo Nam Phong (6/1930) như sau: "Cần phải lập ra cái hiến pháp khiến cho có thể đặt được một Chính phủ Việt Nam chân chính, hành động dưới quyền kiểm soát của bảo hộ. Như thế thì quyền quân chủ nước Nam sau này không thể là quân chủ chuyên chế được nữa; phải là quân chủ lập hiến vậy".(28) Tuy nhiên, Phạm Quỳnh lại mắc sai lầm khi đặt vấn đề “Xin Chính phủ bảo hộ giúp cho quốc vương An Nam ban cho dân Hiến pháp đó " với nội dung " Việc nội trị của nước An Nam vẫn phải trong tay người An Nam, bảo hộ chỉ có cái chức trách khuyên bảo, cái chức trách kiểm soát mà thôi, quốc vương An Nam vẫn giữ quyền nội trị trong nước như xưa". Tài phán hiến pháp được Phạm Quỳnh đặt vấn đề là "Khi Chính phủ Việt Nam với Chính phú bảo hộ có điều xung đột, thời việc phân tranh sẽ đem điều đình tại Paris bằng phương pháp ngoại giao và Paris sẽ đặt một phái bộ An Nam thường trực để thay mặt cho Chính phu Việt Nam trước Chính phủ Pháp ".(29) Có thể thấy tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh hàm chứa nội dung phong phú về hiến pháp song thực chất, tư tưởng lập hiến này không nhất quán và có nhiều mâu thuẫn giữa dân chủ và hiện đại giữa bảo vệ dân quyền và pháp quyền. Song điều đáng bàn đó là tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh đã xác định tầm quan trọng của hiến pháp ngay cả khi nhà nước đang trong chế độ thực dân bảo hộ.

* Tư tưởng lập hiến của Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiến

Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiên xác định "chủ nghĩa của Đảng lập hiến là Pháp Việt đuề huề".(30) Do đó, tư tưởng lập hiến của Bùi Quang Chiêu là "một ngày xa xôi nào đó, Đông Dương sẽ được nước Pháp ban cho một quy chế tựa như quy chế tự trị Úc, Canada đối với nước Anh".(31) Với tư tưởng đó, theo trường phái cải lương, ôn hoà, Bùi Quang Chiêu xác định tầm quan trọng của hiến pháp liên quan đến vấn đề dân chủ song tư tưởng lập hiến của ông lại không thoát khỏi sự bảo hộ của thực dân. Do đó cho dù có tư tưởng tiến bộ khi trếp cận đến vấn đề lập hiến song thực chất, lập trường chính trị của họ là chủ nghĩa cải lương nên tư tưởng lập hiến của Bùi Quang Chiêu không được nhìn nhận ở khía cạnh thực tế từ cả phía người An Nam và cả phía Pháp. Đánh giá về tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu đã có nhận xét sau: "Thực chất tư tưởng của Phạm Quỳnh và Bụi quang Chiêu dù trình bày cách này hay cách khác, người chủ trương xoá bỏ chế độ vua quan, người chủ trương thay thế chế độ quân chủ chuyên chế bằng chế độ quân chủ lập hiến, nhưng tựu trung vẫn đặt đất nước ta dưới sư thống trị của thực dân Pháp”.

2. Nhận xét về tư tưởng lập hiến Việt Nam và những vấn đề đặt ra khi sửa đổi Hiến pháp hiện hành

a. Nhận xét

Nghiên cứu các tư tưởng lập hiến Việt Nam nêu trên cho thấy dù có xuất phát điểm khác nhau, cách trếp cận về hiến pháp dưới các lăng kính khác nhau thì các tư tưởng lập hiến Việt Nam đều có những điểm chung như sau:

Thứ nhất, xác định tầm quan trọng của hiến pháp đối với sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực mà tiêu biểu là các vấn đề dân chủ, dân quyền, dân sinh và dân trí. Các quyền này chỉ có thể được nhìn nhận một cách hợp pháp khi xã hội có bản hiến pháp chi phối.

Thứ hai, lập hiến là yêu cầu tất yếu của dân tộc. Chủ nghĩa lập hiến vì thế không phải ra đời và xuất phát vì ý chí chủ quan của một vài cá nhân mà là nhu cầu mang tính tự thân của nhà nước và xã hội đang vận động và phát triển.

Thứ ba, hiến pháp là cơ sở, nền tảng pháp lí cơ bản để các cơ quan nhà nước thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn và công dân thụ hưởng các quyền năng. Hiến pháp là sự bảo hộ cho chế độ.

Thứ tư, tư tưởng lập hiến Việt Nam đều khẳng định tính hiện đại, văn minh và tiên tiến của hiến pháp tư sản, cho rằng đó là hiến pháp có nhiều ưu điểm song khi vận dụng vào điều kiện Việt Nam thì phải thể hiện bằng được các đặc điểm của dân tộc Việt Nam.

Thứ năm, tư tưởng lập hiến Việt Nam mặc dù có nhiều khuynh hướng khác nhau song đều khẳng định một chân lí: Quyền con người sẽ được đảm bảo nếu trong xã hội có sự hiện diện của một bản hiến pháp dân chủ.

Thứ sáu, tư tưởng lập hiến Việt Nam thể hiện sinh động, cụ thể và trực tiếp nhất nguyên tắc hiến pháp trong Tuyên ngôn độc lập "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do ".

Thú bảy, tư tưởng lập hiến Việt Nam không tập trung theo một khuynh hướng mà chia làm hai khuynh hướng chính song đều tập trung và thống nhất trong nhận thức là cần thiết phải có bản hiến pháp mang tính dân chủ và để thể hiện là nhà nước dân chủ.

b. Vấn đề sửa đổi Hiến pháp hiện hành

 - Cần phải xác định vai trò của hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và mối tương quan giữa nhân dân với hiến pháp. Ở thời đại ngày nay, cách nhìn nhận về vai trò của hiến pháp với đời sống xã hội cần phải tiếp cận theo các luồng tư tưởng chính thống đồng thời cũng vẫn phải tiếp cận nghiên cứu các tư tưởng và khuynh hướng lập hiến khác.

- Đặt vấn đề nghiên cứu tư tưởng lập hiến để trả lời câu hỏi: Sáng kiến lập hiến và sáng kiến sửa đổi hiến pháp như thế nào mới phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa lập hiến hiện đại?

Lấy ý kiến của nhân dân vào bản dự thảo hiến pháp sửa đổi, bổ sung và trưng cầu ý dân về hiến pháp có điểm gì khác nhau, cách nào sẽ là ưu việt với Việt Nam? Theo chúng tôi, khi nghiên cứu tư tưởng lập hiến Việt Nam cần đặt trong bối cảnh mới, đó là khi chúng ta đã phát hiện ra Hiến pháp hiện hành có nhiều điểm chưa thể hiện được tính ưu việt của chế độ đồng thời Hiến pháp chưa thực sự phát huy vai trò của mình đối với xã hội, Nhà nước và nhân dân. Để đạt được mục đích trên thiết nghĩ rằng việc sửa đổi hiến pháp là nhu cầu tự thân của xã hội và công dân. Do đó, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước là lắng nghe và đáp ứng yêu cầu dân chủ của nhân dân. Sáng kiến lập hiến và sửa đổi hiến pháp nhất thiết phải đi từ phía nhân dân một cách trực tiếp. Đặc biệt, khi chúng ta đã có các công cụ hỗ trợ (chữ kí điện tử) thì việc các nhóm công dân kiến nghị sửa đổi hiến pháp là khả thi. Hơn thế nữa, cần phải đầu tư cho hoạt động dân chủ trực tiếp thông qua hình thức trưng cầu ý dân về sửa đổi hiến pháp. Bên cạnh đó, cần huy động sự tham gia nghiên cứu, so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm của các nước trong việc sửa đổi hiến pháp song tránh khuynh hướng lệ thuộc quá hoặc áp dụng rập khuôn, cơ học. Bởi lẽ, hiến pháp không đơn thuần là vân đề pháp lí mà nó thể hiện khế ước xã hội của công dân, đòi hỏi Nhà nước phải hết sức chú ý khi tổ chức thực hiện hiến pháp vào đời sống./.

 

TS.Trương Thị Hồng Hà  Giảng viên Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Tạp chí Luật học số 2/2011

 

(1).Xem: GS.TSKH. Đào Tri úc, “hiến pháp trong đời sống xã hội và quốc gia", Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 8/2010.

(2). Nếu xét về lịch sử, Phan Bội Châu là người đầu tiên nêu vấn đề lập hiến thành yêu cầu bức xúc ở nước ta vào năm 1907  (theo Phan Đăng Thanh, Tư tưởng lập hiến Việt Nam đầu thế kỉ XX Nxb. Tư pháp. Hà Nội. 2006, tr. 1l0).

(3).Xem: Phan Bội Châu. Đề tỉnh quốc dân ca năm 1907.

(4).Xem: Phan Bội Châu, Toàn tập. Tập 4. Nxb.Thuận Hoá, Huế, 1990, tr. 244 (Báo Đông Tây số 138, ngày 09/11/1932).

(5).Xem: Phan Bội Châu, Toàn lập. tập 4, Nxb.Thuận Hoá, Huế. 1990. tr. 244.

(6).Xem: Phan Bội Châu, Sđd, tr. 212.

(7).Xem: Nguyễn Văn Dương, Phan Châu Trinh Tuyển tập, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 817.

 (8).Xem: Trần Văn Giàu, Hệ ý thức tư sản và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử. Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội. 1975, tr. 437.

(9).Xem: Nguyễn Văn Dương, Sđd, tr. 783.

(l0) xem: Nguyễn Văn Dương. Sđd. tr. 817.

(l1) Xem: Chương Thâu. Thơ văn Hình Thúc Kháng, Nxb. Đà Nẵng, 1989, tr. 355 - 35ó.

(12).Xem: Ban Tuyên huấn trung ương, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Sách giáo khoa Mác-lê, Hà Nội, 1978. tr. 119.

(13).Xem: Đỗ Văn Hỷ và Vũ Văn Sạch (dịch), Văn thơ Đông Kinh nghiã thục. Nxb. Văn hoá. Hà Nội. 1997, tr. 18.

(14).Xem: Đỗ Văn Hỷ và Vũ Văn Sạch (dịch). Sđd, tr. 78.

(15).Xem: Nguyễn An Tịnh. Nguyên An Ninh, Nxb Trẻ. TP Hồ Chí Minh. 1996. tr. 170.

(16).Xem: Phan Văn Trường, Pháp luật lược luận, Nhà in Xưa – Nay, Sài Gòn, 1926. tr. 18.

(17).Xem: Phan Văn Trường, Sđd, tr. 18 - 20.

(18).Xem: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 1. Nxb.Chính trị quốc gia. Hà Nội 2000, tr. 438.

(19). Có kí tên của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc.

(20).Xem: Hội luật gia, Pháp lí phục vụ cách mạng, Hà Nội, 1975. tr. 278.

(21).Xem: Hồ Chí Minh. Toàn tập. tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 8.

(22). Văn phòng Quốc hội, “lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960", Báo Cứu quốc, số ngày 10/11/1945.

(23).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

(24).Xem: Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Tập 3, Quốc học tùng thư xuất bản, Sài  Gòn, 1965. tr. 112.

(25).Xem: Phạm Thế Ngũ, Sđd. tr. 499

(26).Xem: Phạm Quỳnh. "Đức Bảo Đại về nước", Báo Nam Phong, 2 - 8, 1932. tr. 5.

(27).Xem: Lê Thanh Cảnh, Hồi ký (bản đành máy) trích theo Phan Đăng Thanh, Tư tưởng lập hiên Việt Nam đầu thế kỉ XX. Nxb. Tư pháp Hà Nội. 2006. tr. 183 .

(28).Xem: Phạm Quỳnh, "Vấn đề lập hiến cho nước An Nam", Báo Nam Phong. 151. 1930. tr. 532.

(29).Xem: Phạm Quỳnh, “câu chuyện lập hiên". Báo Nam Phong, 173, 559 - 569, 1932. tr. 567.

(30).Xem: Trần Văn Giàu, “lược sử thành phố Hồ Chi Minh", Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, tập 1 Nxb, TP Hồ Chí Minh, 1987, tr. 288.

(31).Xem: Trần Văn Giàu, Tđd, tr. 288.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi